Dồn sức cho việc chấn hưng nghệ thuật tuồng lần thứ hai

Ðang có nhiều khó khăn làm cản trở con đường phát triển của nghệ thuật tuồng trong đời sống hiện tại: diễn viên yếu, tác giả, đạo diễn thiếu, công chúng thờ ơ...

Dồn sức cho việc chấn hưng nghệ thuật tuồng lần thứ hai - ảnh 1

Rất nhiều hồi chuông, lời cảnh báo nguy cấp đã được gióng lên về nguy cơ mai một bộ môn nghệ thuật truyền thống quý giá của dân tộc. Nhiều hội thảo, tọa đàm, nhiều hoạt động nghệ thuật tầm cỡ quốc gia đã được ưu tiên tổ chức riêng cho tuồng nhằm tìm kiếm một hướng đi, cách làm phù hợp để gìn giữ được những giá trị đặc sắc nhất. Song, dường như chính các nhà quản lý và các nghệ sĩ cũng đang còn băn khoăn, lưỡng lự, chưa biết nên bắt đầu từ đâu: tập trung cho bảo tồn trước đã, hay đi bằng cả "hai chân" bảo tồn và phát triển, trong khi, mỗi ngày, "vốn liếng" của tuồng lại hao hụt dần, khó lại càng thêm khó...

"Sách đỏ" của nghệ thuật truyền thống

Cả nước ta hiện chỉ có bảy nhà hát, đoàn nghệ thuật tuồng với không đến 200 nghệ sĩ, nhạc công - một con số rất nhỏ so với sự tôn vinh, đánh giá đặc biệt vốn luôn được ưu ái dành cho bộ môn nghệ thuật truyền thống có tính bác học, tinh hoa của nghệ thuật dân tộc, một giá trị góp phần làm nên bản sắc độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Ðã ít ỏi, tần suất xuất hiện trước công chúng của các đơn vị nghệ thuật này lại khá thưa thớt, phần nhiều mang tính lễ lạt, sự kiện, trong khi công chúng ngày càng quay lưng, ngay chính những người làm nghề nặng lòng, tha thiết nhất, dường như cũng đã có phần mỏi mệt.

Nguyên nhân thì có nhiều. Dễ thấy nhất là sự giảm sút về chất lượng đội ngũ diễn viên, khi mà những người trực tiếp làm công tác tuyển sinh, đào tạo bộ môn này phải thừa nhận rằng không thể đem những tiêu chuẩn của thế hệ diễn viên trước áp vào đội ngũ hiện nay, rằng, cốt nhất là lấy được người nhiệt tâm với nghệ thuật, còn năng lực, sẽ cố gắng bồi đắp dần. Có người còn tìm đến với nghệ thuật tuồng, đã là may... Việc đào tạo không được tiến hành theo phương pháp truyền nghề đã dẫn đến tình trạng diễn viên trẻ hiện nay có thanh, có sắc nhưng không khổ luyện nên không nhuần nhuyễn được các lối hát cổ, không nói lối được các điệu như lối ghế, lối đạp, lối xây... chưa thạo những vũ bộ, động tác, trình thức của tuồng, thiếu vốn hiểu biết về mặt văn học nên tạo cảm giác hụt hẫng, gây mất hưng phấn cho những khán giả hiểu tuồng và mê tuồng.

"Máy cái" cho sàn diễn - những người giữ vai trò quyết định chất lượng nghệ thuật của tác phẩm tuồng - các tác giả và đạo diễn, lại đang là khoảng trống lớn nhất trong đội ngũ những người làm tuồng. Ở thời điểm hiện nay, cả nước chỉ còn hai biên kịch tuồng được đào tạo bài bản là NSƯT Khắc Duyên (Nhà hát tuồng Việt Nam) và nghệ sĩ Ðoàn Thanh Tâm (Nhà hát tuồng Ðào Tấn). Vì thế, phần lớn các vở tuồng hiện nay đều lấy từ nguồn kịch bản kịch nói, rồi đem chuyển thể sang tuồng bởi những biên kịch "tay ngang", một số đoàn địa phương không có điều kiện mời đạo diễn trung ương, sử dụng "cây nhà lá vườn", hoặc mời đạo diễn nổi tiếng nhưng là của kịch nói để dựng tuồng, dẫn đến tình trạng các vở tuồng ngày càng mang nhiều dấu ấn của kịch nói, tiết tấu nhanh, xung đột nặng tính kịch mà thiếu đi mầu sắc, chất tự sự của tuồng, làn điệu, phục trang, đạo cụ cứ na ná, phảng phất mầu sắc của sân khấu... cải lương, hay chèo, thậm chí là như kịch.

Không có những tên tuổi lớn và niềm đam mê lớn, nghệ thuật tuồng đang đối diện với nguy cơ mai một ngay cả những vốn quý đã được gìn giữ và phục dựng lâu nay.

Và cuộc chấn hưng lần thứ hai

Từ thực trạng, cũng như những trăn trở, bức xúc và gắng gỏi của đội ngũ làm nghề cùng các cơ quan quản lý, NSND Trần Bảng đã nhìn nhận: Sau nửa thế kỷ, chúng ta lại đang tiến hành cuộc chấn hưng lần thứ hai cho tuồng. Chỉ có điều, cuộc chấn hưng lần này không phải chỉ để cứu vãn gia tài, tìm lại sức sống cho tuồng, mà đặt một mục tiêu cao hơn: Nâng chất lượng của tuồng lên một cấp độ mới. Và hướng đi mà ông đề xuất, nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà nghiên cứu, tác giả, nghệ sĩ làm tuồng, là: Hãy trở về với tuồng gốc!

Lịch sử ngành tuồng đã từng ghi nhận thời kỳ những năm 30 của thế kỷ 20, nghệ thuật tuồng cũng lâm vào tình cảnh vô cùng khó khăn, các nghệ sĩ đã tìm đủ mọi cách để kéo khán giả trở lại với sàn diễn. Ðó chính là thời kỳ xuất hiện của nhiều hình thức tuồng "cải biên" như tuồng xuân nữ, tuồng tiểu thuyết, tuồng kiếm hiệp... Chỉ đến khi kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, Ðảng và Nhà nước đề ra chủ trương phục hồi vốn cổ, Ban nghiên cứu tuồng được thành lập, tập hợp những nghệ sĩ tài danh của cả hai miền, và kiếm tìm, phục hồi những trích đoạn, những pho tuồng cổ, những tích tuồng thày như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Ðào Tam Xuân loạn trào... Cuộc chấn hưng lần một này đã tạo nên cho tuồng một đội ngũ các nhà nghiên cứu trụ cột như Mịch Quang, Hoàng Châu Ký, Lê Ngọc Cầu... cùng nhiều diễn viên tài năng như các NSND Mẫn Thu, Minh Ngọc, Ðàm Liên, Tiến Thọ... Cũng bắt đầu từ đây, đường lối bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng chủ yếu đi theo ba hướng: Khai thác các vở truyền thống, đi vào đề tài lịch sử và thể hiện con người mới, cuộc sống mới. Cho đến tận bây giờ, các đơn vị nghệ thuật tuồng vẫn được khuyến khích đi bằng cả ba hướng này, mà chưa có những phân tích, đánh giá chi tiết, cụ thể về mặt tích cực cũng như tồn tại trong từng hướng đi. Trong tình hình nhân tài, vật lực ngày càng khó khăn, việc cân đối cả ba hướng này hầu như là không thể. Thế nên, mỗi đơn vị, tùy theo nhận thức và khả năng của mình, chọn một cách làm tuồng riêng. Những quan điểm, vì thiếu điều kiện cọ xát, nên càng lúc càng xa rời, và bất đồng trong nhìn nhận của chính những người trong cuộc.

Một trong những chức năng chính của các nhà hát, các đơn vị nghệ thuật tuồng chuyên nghiệp hiện nay là khai thác, phục hồi các vở truyền thống. Ngoài một số vở đã được phục dựng, vẫn còn rất nhiều kịch bản tuồng cổ chưa được đưa lên sàn diễn. Không những thế, gia tài kịch mục của tuồng truyền thống còn rất phong phú nhưng chưa được khai thác hết, mà một trong những khó khăn lớn là thiếu những nghệ sĩ có hiểu biết về Hán tự, trong khi rất nhiều kịch bản tuồng cổ còn được biết đến tồn tại trong các văn bản dưới dạng chữ Hán, Nôm. Việc phục hồi vở cổ cũng gặp nhiều khó khăn, do các nghệ sĩ, nghệ nhân có vốn biểu diễn trước đây thưa vắng dần, khả năng truyền nghề ngày càng bị hạn chế.

Một người nặng lòng với tuồng, tác giả Văn Sử, sau những thử nghiệm sáng tác theo các đề tài khác nhau, đã rút ra kết luận: Ði vào đề tài lịch sử khá thuận cho tuồng, nhưng cái khó là người viết bị hạn chế trong việc hư cấu, sáng tạo. Còn đề tài về cuộc sống mới, con người mới, thì "nếu còn cầm bút viết kịch bản tuồng, tôi sẽ nói không với đề tài hiện đại".

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác