Hình tượng người chiến sĩ Quân đội nhân dân trên sân khấu

Sự ra đời của Ðội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, theo chỉ thị của Bác Hồ vào ngày 22-12-1944, là mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Ðây chính là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam Anh hùng.

Hình tượng người chiến sĩ Quân đội nhân dân trên sân khấu - ảnh 1

Kể từ đó đến nay, các ngành văn học - nghệ thuật, trong đó có sân khấu đã nỗ lực sáng tạo để thể hiện một cách chân thật, sinh động và truyền cảm bức chân dung tinh thần của anh Bộ đội Cụ Hồ thân thương ấy trong rất nhiều các tác phẩm với sự phong phú, đa dạng khác nhau.

Nhìn lại mảng sân khấu sáng tác và biểu diễn về hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ, có thể  thấy, bên cạnh  những tác phẩm của các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp, với những tác phẩm gây tiếng vang dư luận như Nguyễn Hùng Tưởng với kịch Bắc Sơn ra mắt công chúng từ năm 1946, rồi tiếp đó có thêm Anh Sơ đầu quân, Những người ở lại, khắc họa cuộc chiến đấu hy sinh cảm tử của các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô giữ từng thước đất, ngõ phố, căn nhà Hà Nội trong mùa đông lịch sử năm 1946, mở màn cuộc kháng chiến thần thánh, bảo vệ nền độc lập non trẻ, hay nhà viết kịch Lập Chương với những vở kịch miêu tả hình ảnh dân quân, du kích sát cánh cùng bộ đội bám làng, chặn giặc trong các vở như Du kích thôn đôi, Trận đánh trong làng..., còn có nhiều tác phẩm sân khấu khác của những cây bút vốn xuất thân từ những chiến sĩ cầm súng đánh giặc như Ðào Hồng Cẩm, Tào Mạt, Chu Nghi, Nguyễn Vượng, Ðồng Văn Thuyết, Sỹ Hanh, rồi đến những thế hệ tiếp sau như Xuân Ðức, Tạ Xuyên, Chu Lai, Hà Ðình Cẩn,...

Ðặc điểm nổi bật ở những cây bút mặc áo lính, khi cầm bút ghi lại hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ là chất sống ngồn ngộn của thực tế chiến tranh với những chi tiết sinh động cụ thể. Sáng tác sân khấu của Ðào Hồng Cẩm thể hiện đầy đủ phẩm chất này, đã thật sự mang được hơi thở nóng bỏng và quyết liệt của chiến trận lên sàn diễn qua các vở diễn diễn tả tư thế anh hùng của người lính trên chiến trường, giữa khói lửa bom đạn dày đặc, khét lẹt như Trước giờ chiến thắng, Trang sổ tay của một chiến sĩ, Ðại đội trưởng của tôi, Tổ quốc, Tiếng hát,... Hoặc trong các vở kịch của Chu Nghi, một cây bút có triển vọng, đã hy sinh ngoài mặt trận như một chiến sĩ, khi thâm nhập thực tế chiến tranh, đó là các vở như: Ðồng chí, Bên hàng rào Tà Cơn,...

Một số cây bút viết kịch, viết văn trong quân đội như Chu Lai, Hà Ðình Cẩn thì tỏ ra sở trường hơn trong việc diễn tả hình tượng người lính cả trong trận mạc lẫn khi rời quân ngũ trở về hòa nhập với đời sống dân sự như trong các tác phẩm Một nửa đi tìm, Ô cửa sổ bỏ ngỏ, Rừng quả đắng hay Người đàn bà mộng du, hoặc trong các vở kịch được chính Chu Lai tự chuyển thể thành kịch từ các bộ tiểu thuyết của mình như Phố nhà binh  thành kịch Hà Nội đêm trở gió hoặc Ăn mày dĩ vãng thành kịch Ði tìm dĩ vãng,... Ngoài ra, Chu Lai còn viết một số kịch bản đáng chú ý khác về người lính từ chiến tranh sang hòa bình trong các vở như: Bốn người còn lại, Khúc tráng ca ngày ấy, Nước mắt của cây,...

Một cây bút viết kịch mặc áo lính khác là Tạ Xuyên thì chuyên tâm với sân khấu hơn vì gần cả đời quân ngũ của mình gắn bó với Ðoàn kịch Quân đội, cái nôi nuôi dưỡng và cũng là sàn diễn thường xuyên dàn dựng những sáng tác mới nhất của anh viết về người lính qua từng bước đi của các giai đoạn lịch sử chiến tranh. Viết về chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ, tác giả  Tạ Xuyên có Thung lũng Trắng. Về con đường Trường Sơn huyền thoại nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn trong những năm tháng không thể nào quên tác giả này tiếp tục có vở: Những dấu chân thời gian,  về Ðại thắng 30-4-1975 đem về nền độc lập thống nhất toàn vẹn cho đất nước lại có Những dấu chân thời gian.

Tiếp nhận những cách nhìn mới, cởi mở hơn, phóng khoáng hơn của công cuộc đổi mới  do Ðảng ta phát động từ năm 1986, các nghệ sĩ sân khấu cũng từ đó có cung cách lý giải và thể hiện cuộc chiến tranh đã qua và cùng với nó hình ảnh người chiến sĩ cầm súng đánh giặc tỏ ra toàn diện hơn, chân thật hơn, đặt ra được từ đó đến những vấn đề liên hệ gần gũi hơn với cuộc sống hiện đại.

Nếu những tác phẩm sân khấu viết về người lính và cuộc chiến tranh từ năm 1980 trở về trước mang âm hưởng chủ đạo là khẳng định, ngợi ca phẩm chất đạo đức, tấm gương hy sinh chiến đấu dũng cảm, hoặc quá trình vượt lên thử thách, khốc liệt để lập chiến công của anh bộ đội trong nhiều tình  huống khác nhau thì những sáng tác sân khấu tiếp tục khai thác đề tài này xuất hiện từ năm 1986 đến nay đã có những thay đổi chuyển biến mới, không dừng lại ở sự trần thuật lại các sự việc bằng ngôn ngữ sân khấu mà còn muốn đi sâu hơn, khám phá, lý giải, cắt nghĩa cội nguồn sâu xa tạo nên bộ mặt tinh thần của người chiến sĩ một cách toàn diện, đầy đủ hơn. Do thế, bên cạnh việc tiếp tục ca ngợi những tấm gương chiến đấu dũng cảm, còn mạnh dạn thể hiện cả những mất mát hy sinh to lớn, không gì bù đắp nổi của chiến tranh, thậm chí có những  vở kịch thể hiện cả những góc khuất, vùng tối hôm nay ít được đề cập trong thực tế  chiến tranh đã qua để cho thấy thấm thía hơn cái giá thật lớn lao mà quân đội và nhân dân ta đã phải trả để có được độc lập tự do.

Lưu Quang Vũ không chỉ nổi tiếng như một nhà thơ với những tìm tòi mới mẻ đáng chú ý mà còn được biết đến như một cây bút kịch tài năng đa dạng cũng có một số tác phẩm kịch thành công miêu tả sâu sắc hình tượng người lính trong nhiều phương diện khác nhau như Ðường bay, viết về người chiến sĩ thuộc binh chủng mới hình thành trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước và quá trình hiện đại hóa quân đội, hoặc các vở khác như Ðiều không thể mất, Lời thề thứ 9, diễn tả những cuộc đọ sức dữ dội khác mà người chiến sĩ phải đương đầu trong mặt trận không tiếng súng của thời bình...

Những vở diễn thể hiện hình tượng người lính gây tiếng vang dư luận càng ngày càng bộc lộ xu hướng đáng trân trọng là nỗ lực đi sâu hơn vào thế giới nội tâm nhân vật, rọi chiếu các sự kiện, tình huống kịch không chỉ ở tầm cận cảnh, mà còn tận dụng lợi thế của khoảng cách, độ lùi của thời gian, của chỗ đứng hiện tại, để từ đó có sự đối sánh giữa quá khứ với hiện tại, chiến tranh với hòa bình. Hơn thế, chiến tranh cũng không đơn thuần như một thời điểm bất thường tách ra biệt lập với những gì xảy ra trước và sau đó, mà đã hiện trong sự gắn bó hữu cơ biện chứng, hay sự tiếp nối xoắn bện nằm trong dòng lưu chuyển, vận động không đứt đoạn của chính bản thân hiện thực đất nước. Những biểu hiện như thế đã xuất hiện trong những vở diễn thể hiện hình tượng người lính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với những sắc độ và độ sâu đậm nhạt khác nhau trong các kịch bản của Lưu Quang Vũ, Lê Duy Hạnh, Chu Lai, Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Anh Biên, Tạ Xuyên, Hà Ðình Cẩn,... đem lại cho sân khấu chất lượng văn học kịch đáng chú ý.

Tuy nhiên, phải nhận rằng mùa hội diễn 2009 - 2010 vừa qua, trong gần một trăm tiết mục tham dự, những vở diễn trực tiếp thể hiện hình tượng người lính và hiện thực chiến tranh chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, mà lấn sân nghiêng về dòng kịch lịch sử, từ các bộ môn kịch hát, tuồng, chèo, cải lương, kịch dân ca cho đến cả kịch nói. Thực ra hình tượng người lính và hiện thực chiến tranh vẫn tồn tại như một đối tượng quan trọng của nghệ thuật trong đó có sân khấu. Ðó là một quá khứ gần và còn nhiều liên quan cuộc sống hôm nay, như những món nợ tinh thần cần phải trả một cách xứng đáng. Hơn nữa, thực tế đó vẫn cần được nhận thức đầy đủ hơn, sáng tỏ hơn cũng như đòi được sự thể hiện sâu sắc hơn, truyền cảm hơn. Sự cảm nhận nồng nhiệt của dư luận với nhật ký chiến tranh của nữ liệt sĩ Ðặng Thùy Trâm là một minh chứng. Vì thế đề tài này vẫn chờ đợi và vẫy gọi đội ngũ văn nghệ sĩ tìm tòi, khai thác, phát hiện, từ đó có được những sáng tác mới xứng tầm với quá khứ anh hùng và gian khổ của dân tộc.

 

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác