Lênh đênh kịch bản sân khấu

Trong "cơn hồng thuỷ" của sân khấu, đã xuất hiện những vở kịch với kịch bản đúng nghĩa là để diễn, chứ không phải những kịch bản văn học để đọc.

Lênh đênh kịch bản sân khấu - ảnh 1

Ở Việt Nam, có một thời, những tên tuổi văn chương lớn như Thế Lữ, Lưu Trong Lư, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Trần Huyền Trân, Hoàng Cầm đã cùng với Tống Phước Phổ, Học Phi, Trần Hữu Trang, Lộng Chương, Tào Mạt, Đào Hồng Cầm, Bửu Tiến, Ngô Y Linh, Hoàng Yến, Vi Huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan... tạo nên thế hệ những nhà viết kịch thứ nhất với biết bao vở kịch lừng danh.

Rồi các cây viết sung sức như Ngọc Linh, Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Quang Lập, Lê Duy Hạnh, Lưu Quang Vũ, Xuân Trình, Hồng Phi, Văn Biển, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Tất Đạt, Nguyễn Đình Chính, Chu Lai, Xuân Đức, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Mạnh Tuấn, Sỹ Hanh, Hữu Ước, Trần Đình Ngôn, Tạ Xuyên, Kim Cương, Lê Chí Trung, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Trúc Đường, Hà Triều - Hoa Phượng... hình thành thế hệ những nhà viết kịch thứ hai. Họ đã mang đến cho sân khấu những vở kịch ngồn ngộn sức sống và hơi thở thời đại.

Nhưng rồi thế hệ nhà viết kịch thứ nhất lần lượt ra đi. Thế hệ nhà viết kịch thứ hai lần lượt rơi rụng và giã biệt sân khấu. Điểm lại ở những năm đầu của thế kỷ XXI này, chẳng mấy ai thuộc thế hệ thứ hai còn đau đáu với những nhân vật, với màn nhung sân khấu nữa.

Có thể đếm chỉ còn lác đác Lê Duy Hạnh,Nguyễn Thị Minh Ngọc, Lê Chí Trung, Xuân Đức, Hữu Ước bên cạnh một lão tướng Doãn Hoàng Giang trưởng thành từ diễn viên rồi đạo diễn, thấy hiếm kịch bản quá tức mình tự viết lấy kịch bản. Chỉ còn họ đeo đuổi nghề viết kịch bản.

Lênh đênh kịch bản sân khấu - ảnh 2

Doãn Hoàng Giang trưởng thành từ diễn viên rồi đạo diễn

Thế còn thế hệ trẻ - các nhà viết kịch U30, U40 đâu? Một Lê Quý Huyền, một Hạnh Quyên, một Nguyễn Thu Phương không thể tạo nên một thế hệ của các nhà viết kịch. Trước sự bỏ "cuộc chơi" của các nhà viết kịch, kịch bản lâm vào khủng hoảng thiếu là đương nhiên.

Vì sao các nhà viết kịch đồng loạt bỏ cuộc chơi?

Cần có nhiều cuộc hội thảo khoa học thẳng thắn may ra mới tìm ra căn cớ. Tuy vậy, người viết cũng xin chủ quan đưa ra bốn lý do sau để tham khảo.

Thứ nhất: Sự khắt khe của hệ thống duyệt kịch bản đã làm các nhà viết kịch, vốn là các nhà văn, mất hứng chuyển qua "thâm canh" văn chương cho yên một bề.

Thứ hai: Sân khấu không còn là thánh đường nữa. Nhiều loại hình nghệ thuật khác như điện ảnh, âm nhạc, truyền hình đã cuốn hút lớp trẻ hơn. Vì vậy, lượng khán giả đến với sân khấu rơi rụng dần.

Đồng thời với sự phát triển của kinh tế thị trường, một loạt đoàn kịch vốn sống bằng bao cấp đã tắt đèn, đóng màn vì thua lỗ. Trước đây, cả Hà Nội và Sài Gòn chỉ còn lác đác vài nhà hát. Cầu ít, cung phải ít, đó là lẽ đương nhiên.

Thứ ba: Sân khấu luôn đứng trước sự giằng co giữa sân khấu giải trí đơn thuần và sân khấu diễn đàn của thời cuộc. Từ những xung đột dữ dội mà nghệ sĩ là người chiến sĩ tiên phong dẫn đến có sự loại trừ nhau. Sân khấu nào thắng thế đương nhiên sẽ có các nhà viết kịch nấy.

Rất tiếc, sau quá nhiều trắc trở vấp phải của tư duy cũ, con đường sân khấu - chiến sĩ hầu như bị thất sùng, còn lại sân khấu giải trí đơn thuần. Các nhà văn vốn mang tính "chiến sĩ" cố hữu trong mình, không thể thích ứng và cũng không được chuẩn bị để chuyển hướng viết những vở kịch đơn thuần giải trí.

Thứ tư: Dù là sân khấu giải trí đơn thuần, các nhà viết kịch vẫn phải được chuyên nghiệp hoá. Nhưng cả thế kỷ XX trôi qua, Việt Nam chưa hề có nhà viết kịch nào được đào tạo chính quy. Họ chỉ là những người viết theo cảm hứng. Trong khi nghề diễn, nghề đạo diễn có trường lớp đào tạo, thì nghề viết kịch bản không hề có bất cứ trường lớp đào tạo đúng nghĩa của nó.

Nhưng có một điều kỳ lạ đã xuất hiện, chính nhờ những vật lộn sống còn loại trừ khắc nghiệt của cơn khủng hoảng, một bộ phận sân khấu của nước nhà đã tồn tại và thích nghi mạnh mẽ.

Lối thoát của cơn khủng hoảng thiếu kịch bản sân khấu

Điển hình cho sự "gặt hái" qua cơn bảo ấy là sự trụ vững của Nhà hát Tuổi trẻ Hà Nội của Sân khấu 5B Võ Văn Tân Tp.HCM, của Hội Sân khấu Tp.HCM và sự ra đời đầy khí thế của một loạt sân khấu tư nhân như Phú Nhuận, Sài Gòn, Idecaf, Trần Cao Vân. Câu hỏi của chàng Hamlet "Tồn tại hay không tồn tại?" đã không trăn trở đặt ra nữa mà "hơn hớn" tồn tại với các hàng ghế nườm nượp khách hàng đêm.

Các ông bầu, bà bầu Hồng Vân, Phước Sang, Huỳnh Anh Tuấn... không chạy đôn chạy đáo gõ cửa các nhà viết kịch nữa. Họ chủ động chọn lọc đặt hàng những nhà viết kịch nào thích hợp với họ. Tiền nào của nấy. Họ tuyên bố: "Chúng tôi tìm và chọn nhà viết kịch cho mình. Nếu không có chúng tôi tự viết kịch".

Và thế là, trong cơn khủng hoảng thiếu kịch bản cho một dòng sân khấu bắt buộc phải đông khách (đó là lẽ sống còn của sân khấu ngày nay), các ông bầu, bà bầu đã tìm ra công thức một vở diễn ăn khách cho riêng mình. Cứ thế, họ đặt hàng hoặc ngồi với nhau, "phân công" nhau viết lấy. Một loạt các kịch bản theo dòng "ăn khách" này được hình thành theo kiểu:

Chuyển thể các tiểu thuyết hấp dẫn, ăn khách một thời như Xuân tóc đỏ, Bỉ vỏ, Làm đĩ...

"Việt Nam hoá" các bộ phim ăn khách của Hàn Quốc, Trung Quốc rồi chuyển thể thành kịch.

Lênh đênh kịch bản sân khấu - ảnh 3

Một cảnh trong vở Người vợ ma của sân khấu kịch Phú Nhuận

Lên đề cương hoặc viết thẳng kịch bản phân cảnh, không cần kịch bản văn học. Các đạo diễn, diễn viên cùng ông bà bầu phối hợp với nhau sáng tạo các lớp đạo diễn trước, các tình huống kịch trước, các nhân vật có tính cách trước rồi xâu chúng lại thành đường dây kịch và đắp da đắp thịt bằng lời thoại cho hợp.

Chính trong cơn "hồng thủy" ấy đã xuất hiện những vở kịch với kịch bản đúng nghĩa là để diễn chứ không phải để... đọc. Đó chính là những kịch bản của diễn viên viết cho chính mình diễn, lấy đất diễn làm trung tâm, làm ngòi nổ sân khấu chứ không cần kịch bản được gộp chung vào với vở diễn và mang tên: Vở diễn.

Không thể phủ nhận những thành công của hàng loạt "vở diễn" kiểu này do chính các nghệ sĩ "dàn xếp" dựng lên: Dạ cổ hoài lang, Cám ơn mình đã yêu em,Cánh đồng gió, Hãy khóc đi em...

Xem hàng loạt vở diễn "ăn khách" tử tế hiện nay ở Sân khấu Phú Nhuận, 5B Idecaf, Trần Cao Vân... có thể thấy rõ công thức tạo nên sự "gặt hái" bội thu mà bất cứ "kịch bản sân khấu... diễn" nào cũng đều có:

Đề tài tâm lý xã hội, bi kịch gia đình, những chuyện tình éo le.

Tâm lý tình cảm đa chiều, có nhiều ngóc ngách.

Bi hài lẫn lộn.

Náo và lặng đan xen nhau liên tục.

Với công thức này, Sân khấu Sài Gòn đã tìm ra lối thoát thứ ba. Đó là không chỉ đơn thuần giải trí rẻ tiền, đồng thời cũng né những vấn đề nóng bỏng thời cuộc (cho chắc ăn).

Với loại vở diễn này, sân khấu sang trọng hẳn lên vì nó cuốn hút được khán giả có trí thức, có thẩm mỹ tương đối cao. Họ đến với sân khấu không đơn thuần giải trí mà còn để giải toả những vấn đề tình cảm, để nhận biết được những ngóc ngách, xung đột trong thân phận con người.

Lênh đênh kịch bản sân khấu - ảnh 4

NSƯT Thành Lộc và NSƯT Kim Xuân trong vở Hạnh phúc trên đồi hoa máu của sân khấu kịch IDECAF

Để có được những khai phá này, không thể không nhắc đến vai trò của các nghệ sĩ - ông bầu, bà bầu đã gắn bó hết mình với sân khấu như Phước Sang, Huỳnh Anh Tuấn, Hồng Vân. Cũng không thể không nhắc đến những đóng góp to lớn của các nghệ sĩ, đạo diễn tài năng như Thành Lộc, Ái Như, Việt Anh, Bảo Quốc, Thành Hội, Thúy Nga, Kim Xuân, Anh Vũ, Thái Hoà, Đức Thịnh, Hữu Châu, Hồng Ánh, Thanh Thuý, Ngọc Trinh, Cát Phượng...

Chính nhờ tài năng diễn xuất của các nghệ sĩ biểu diễn mà những độ chênh, thiếu hụt chất lượng của "một kịch bản sân khấu văn học" đã được bù đắp phần nào.

Nói là bù đắp phần nào, bởi vì sân khấu vẫn luôn phải là loại hình nghệ thuật tinh hoa, cao cấp bởi những giá trị tư tưởng, giá trị nhân văn, giá trị văn chương cùng những giá trị về tính logic tâm lý nhân vật. Ở khía cạnh này, không thể không thừa nhận rằng sân khấu "xã hội hoá" hiện nay chưa thể đạt đến những giá trị ấy. Mà muốn đạt đến chỉ có thể:

Một: Các nhà văn tài năng cùng với các nhà viết kịch tài năng phải lao tâm khổ tứ để viết những kịch bản như thế.

Hai: Các nhà viết kịch phân cảnh sành điệu phải vươn mình lên, trang bị nhiều hơn, học hỏi nhiều hơn những vốn sống, kiến thức tư tưởng, trí tuệ. Điều đó sẽ giúp họ nâng những kịch bản phân cảnh lên thành kịch bản văn học đúng nghĩa mà vẫn ngồn ngộn đất diễn, trò diễn.

Thiếu kịch bản không chỉ là vấn đề của sân khấu kịch nói.

Bài viết này hầu như chỉ đề cập đến nạn thiếu kịch bản sân khấu kịch nói - loại hình còn có đông khán giả.

Với các loại hình sân khấu truyền hình như tuồng, chèo, dân ca thì nạn thiếu kịch bản đã xuất hiện ngay cả trong thời kỳ sân khấu được bao cấp. Vì thể loại này các nhà văn không dễ gì viết được khi không am hiểu đặc thù riêng, âm nhạc, làn điệu, bài bản của nó.

Và vì thế, nguy cơ mai một nền sân khấu truyền thông luôn là nỗi ám ảnh của những ai đau đáu với nền nghệ thuật tinh hoa của nước nhà. Vấn đề này có lẽ sẽ thuộc về một bài viết khác.

(Theo Lưu Trọng Văn - TGVH)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác