Mộ cát - Một cố gắng tiếp cận đề tài hiện đại của tuồng

Tục lệ ngàn đời truyền lại ở các làng chài: Khi những người con của xóm chài ra khơi không trở về nữa, xác thân vùi sâu nơi đại dương thăm thẳm, họ sẽ được người thân đắp cho những nấm mộ cát để linh hồn cô đơn không phải lang thang lạnh lẽo trong đại dương bao la.

Từ xưa đến nay, vì mưu sinh, vì miếng cơm manh áo biết bao trai tráng làng chài đã không trở về vì bão tố phong ba không có đủ điều kiện dự báo trước, với những con thuyền mong manh, nhỏ nhoi, thiếu thốn các thiết bị khoa học cần thiết có thể giúp họ đương đầu với những cơn bão tố cuồng phong đầy thịnh nộ của thiên nhiên. Không thể đếm hết đã có bao nhiêu ngôi mộ cát từng được đắp lên trên bờ biển, trong tâm trí những người thân của họ. Tưởng rằng cảnh tang thương chứa đầy ắp nước mắt của người dân làng chài khi đau khổ đắp những nấm mộ cát đã chấm dứt trong thời đại mới, với sự quan tâm của các cấp, các ngành, với sự đầu tư kinh phí, để người dân chài có thể an toàn ra khơi với những dự án đánh bắt cá xa bờ... Nhưng sự thật, vẫn còn rất nhiều trai tráng phải gửi thân xác trong làn nước xanh vời vợi nơi biển khơi sâu thẳm bởi lòng tham của con người, bởi bao tệ nạn mà chúng ta không vạch trần ngay trong đội ngũ cán bộ. Đó là câu chuyện mà Mộ cát - một vở tuồng về đề tài hiện đại chuyển tải đến người xem thông qua hình thức đậm chất kịch hát dân tộc này.

Mở kịch là màn hội làng, lễ tiếp nhận các con tàu hiện đại được trang bị theo dự án của nhà nước để hỗ trợ cho dân chài. Nhưng niềm vui không trọn vẹn khi đua theo điệu trống giục đầy chất hội hè là điệu kèn lạc giọng, là sự nghi ngờ về chất lượng các con thuyền. Người cầm đầu đã cố cản giọng kèn đó, cố gắng trấn an và ra lệnh cho thuyền dời bến cùng bao sự sắp đặt để bịt đi những thông tin bất lợi. Trước bão tố phong ba cuồng nộ của biển khơi, thật giả không còn có thể che đậy được, con thuyền đã dần chìm sâu xuống đáy đại dương. Làng chài chìm trong tang tóc, trong nước mắt ngóng chồng, trông con của bà con. Những nghi ngờ được khơi lại. Chót nhúng tay vào chàm, ông chủ tịch huyện dưới áp lực của kẻ đồng hội đồng thuyền, quay cuồng trong bao toan tính hơn thiệt và như bị ma ám, đã quyết định giết người diệt khẩu. ác hại thay, đó lại chính là cô con dâu đang có mang của ông ta. Cái tham đã dẫn đến các ác, ác đến độ mất hết nhân tính... Âm mưu độc ác đó không thành hiện thực, ông ta đã chùn tay và tự thấy mình không còn đáng sống nữa khi mọi sự bại lộ. Nước mở đường cho ông ta tự xử: Trầm mình trong làn nước đầy bao dung của đại dương.

Với nhiều thủ pháp đạo diễn được áp dụng, câu chuyện thời hiện đại đã được chuyển tải khá tốt bằng hình thức tuồng. Kĩ thuật đồ họa vi tính ở phông hậu khi là minh họa cho không gian kịch, khi trở thành ấn tượng, gợi mở khá tốt cho người xem như ở các màn đường, với hình âm dương ở trung tâm và rất nhiều con mắt đang nhìn vào sự toan tính phi nhân của những kẻ thủ ác. Những cố gắng của đội ngũ nghệ sĩ rất chuyên nghiệp của nhà hát đã khiến vở diễn trở nên dễ xem hơn, dễ thuyết phục hơn dù cảm giác gai gợn vẫn còn bởi sự lý giải chưa hoàn toàn thấu đáo về sự kiện giết con, lại càng phi nhân tính hơn khi người con đó đang mang thai. Đặc biệt, cách xử lý sân khấu đẹp, ấn tượng, lạ mắt và được tán dương nhiều nhất của đạo diễn là cảnh cuối với những vị thần biển đi cà kheo đến, mở đường nhấn chìm ông chủ tịch, nhấn chìm cái ác của con người vào lòng đại dương.

Qua vở diễn, rất nhiều vấn đề học thuật đã được đặt ra, gây tranh luận. Đây là vở diễn đã ngốn khá nhiều tâm lực của đội ngũ sáng tạo. Thành công hay thất bại ? Đưa ra công luận sẽ được đánh giá ra sao ? Mục đích sáng tác của vở là nhắm đến đối tượng khán giả nào ? Tính hấp dẫn của vở diễn liệu đã đạt được chưa ? Liệu đã có thể đủ sức nặng để thuyết phục đông đảo khán giả hôm nay  về việc tuồng đi vào đề tài hiện đại ? Không ít ý kiến, thậm chí là của các nhà nghiên cứu tuồng cho rằng, cách tân tuồng, để tuồng đi vào đề tai hiện đại là hết sức khó khăn, nếu không muốn nói là dường như không thể khi để con người hiện đại, ăn mặc quần áo đời thường thực hiện các bộ múa, hát các làn điệu tuồng cho thật phù hợp, cho “ngọt” được. Cách sáng tác tuồng đi vào đề tài hiện đại hôm nay đã có nhiều vở rơi vào tình trạng viết kịch bản theo cấu trúc kịch nói rồi thấy chỗ nào thuận tiện thể hiện tình cảm mãnh liệt thì thêm vào đoạn thơ trữ tình cho diễn viên hát múa, tự bộc bạch mình... Nghệ thuật tuồng thuộc nghệ thuật biểu hiện ngoại hình để miêu tả nhân vật, kể lại câu chuyện chứ không “giấu” các sự biến gây bất ngờ cho khán giả như kịch nói. Làm được điều đó, đối với nghệ thuật biên kịch đòi hỏi những yêu cầu chuyên biệt. Nhưng lực lượng biên kịch cho tuồng là ai và còn ai ? Quá thiếu vắng, người ta làm nhiều cách để bù đắp, đôi khi là chuyển thể từ kịch nói sang. Những điều yếu và thiếu đó khiến tuồng ngày một trở thành khó khăn hơn khi tiếp cận đề tài hiện đại và làm mất cả thói quen, thẩm mĩ của người xem khi tiếp nhận tuồng về đề tài hiện đại. Và Mộ cát, là một tác phẩm đáng được ghi nhận khi đi đúng chủ trương đưa tuồng đến gần hơn với người xem hôm nay.

(Theo HNM)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác