Một khúc lận đận của ca trù

Từ lối hát tín ngưỡng lễ hội cửa đình, đi vào đời sống Thăng Long đã cất cánh thành ca trù, tinh hoa của một nghệ thuật diễn xướng Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số nơi kinh kỳ, đô hội xuất hiện đào hát, đào rượu, mang tiếng xấu cho ca trù.

Một khúc lận đận của ca trù - ảnh 1

Một nét ca trù ngày Xuân

Từ xưa, ở nhiều miền quê, vào mùa Xuân hay tổ chức hội hè, đình đám. Niềm vui thú bậc nhất trong những đám hội ấy là được nghe các đào nương hát. Có những trường hợp đặc biệt, không vào dịp lễ hội nào cả, nhưng một gia đình danh giá nào đó có việc khao vọng, người ta cũng đón các cô đào, cô đầu về hát. Trong mỗi nhóm hát, thường có khoảng ba người, hai cô đào thay nhau hát và một kép nam chuyên gảy đàn đáy đệm cho các đào nương. Kép nam mặc áo dài thâm, khăn lượt. Các cô đào chít khăn nhung, trong mặc áo dài lụa màu mỡ gà, ngoài khoác chiếc áo the mỏng, quần lĩnh tía, chân đi dép da. Họ có phong thái giản dị, khiêm nhường và đặc biệt là họ luôn nhẹ nhàng ấm áp trong nói năng giao tiếp. Bao giờ cũng thế, chủ và khách khi gặp nhau đều cung kính chắp tay, bên chào, bên đáp lễ lịch thiệp và lễ độ. Khi chủ và khách an tọa, phải qua vài tuần trầu, nước người giúp việc mới mang trống và chiếc roi chầu tới. Có thể là người đứng đầu nhóm hát, cũng có thể là chủ nhà, thong thả nổi ba tiếng trống chầu. Và thế là bắt đầu, người kép vặn trục đàn đáy để chỉnh âm thật chuẩn, tiếng phách trong tay đào hát kêu lách tách ròn rã và gợi cảm, giọng thỏ thẻ mở đầu hai câu mưỡu: Bến Tầm Dương canh khuya đưa khác/ Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu... Ngay sau đó, chuyển sang hát nói, cả nhóm hòa cùng nhịp, hòa cùng lời. Những bài hát thường được ưa thích là Thu hứng (thơ của Đỗ Phủ), Tỳ bà hành (thơ của Bạch Cư Dị)... Lời thơ ý tứ sâu sắc được hát theo thể ca trù có sức rung cảm thật lớn. Và rồi các bài được mến mộ nữa, là Thông minh nhất nam nhi của Nguyễn Công Trứ, Người đẹp không thấy lần hai của Cao Bá Quát, Đào hồng, đào tuyết của Dương Khuê; Hoặc những nhóm hát thông tuệ sắc sảo có thể dùng những bài thơ nổi tiếng để hát để ngâm làm xao xuyến người nghe, như các bài Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan, Thú Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh, Thề non nước của Tản Đà... 

Một khúc lận đận của ca trù - ảnh 2

Những cung đàn, giọng hát có thể làm người nghe say mê đến mức quên ăn, mất ngủ, lòng dạ bâng khuâng. Đó là cái kỳ diệu của nghệ thuật. Quên ăn, mất ngủ, bâng khuâng lòng dạ, và luôn sống trong xúc cảm thẩm mỹ cao đẹp. Thú nghe cô đầu đâu phải là thú ô trọc?!Một khúc lận đận của ca trù

Một khúc lận đận của ca trù - ảnh 3

Ấy vậy rồi đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số nơi kinh kỳ, đô hội xuất hiện một số nhà hát, chuyên cho các buổi diễn cô đầu. Hà Nội là nơi các cuộc hát cô đầu có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Đầu tiên, chỉ xuất hiện đôi ba nhà hát cô đầu, chẳng mấy chốc đã phát triển như nấm, như phố Hàng Giấy, cả dãy phố trở thành nhà hát cô đầu. Ở phố Huế (ngày nay), có một Nhà hát hai mươi bốn gian... Hát cô đầu trở thành thương mại. Các chủ nhà hát chỉ cần thuê, mượn một- hai đào hát thực sự để làm mồi, còn thì nuôi thêm nhiều cô gái để phục vụ rượu. Chẳng mấy chốc, người ta gọi họ là những đào rượu. Các cô đào rượu không cần biết hát, không cần có giọng hát gì, cốt trông “sạch mắt”, biết chiều chuộng khách. Dần dần, nghề đào rượu có những kỹ năng: Duyên dáng đa tình nâng chén rượu tận môi khách, nũng nịu dễ thương, nô đùa gợi cảm. Và nhà hát không thuần nhất là chốn thanh tao nữa. Những quan viên đến nhà hát, phần đông, không phải để thưởng thức nghệ thuật ca trù nữa...
Những cô gái trở thành đào rượu, hầu hết là do hoàn cảnh éo le, khổ sở. Có cô do nghèo đói, có cô do thất tình, cũng có cô do muốn có tiền để đua đòi ăn diện... mà đến gặp chủ nhà hát. Thoạt đầu, chủ nhà hát cô đầu ngon ngọt dỗ dành và hứa hẹn rằng các cô sẽ có lưng vốn riêng và còn gặp may trong đường đời nữa. Chủ nhà hát nuôi các cô, nhưng các khoản ăn, mặc đều được tính từng đồng, và các cô mang một món nợ mỗi ngày một nhiều. Mà các chủ nhà hát cô đầu hầu như đều là hạng anh chị đã qua các nghề gá bạc hoặc cầm đồ lấy lái. Thực chất, họ là những tú bà. Do vậy, các cô đào rượu không thể giữ được thân nữa. Đến cái tên của họ cũng không còn là của họ nữa, mà trở thành những Huệ, Hồng, Đào, Cúc, Vân, Tuyết, Yến, Oanh... Thế là họ đã dấn thân vào làng son phấn. Những năm đầu thế kỷ XX, ở Hà Nội, mỗi buổi chiều tà, trên các ngả đường Ngã Tư Sở, Vĩnh Hồ, Vạn Thái, Láng, các cô vận áo dài xanh, vàng hoặc in hoa sặc sỡ, tốp năm, tốp bảy lượn đi lượn lại đầy đường, như đi hội. Gặp khách si tình, hoặc bất cứ thanh niên nào, các cô cũng níu kéo, lả lơi chào mời... Ở khu vực phố Khâm Thiên, các cô đào chưa đến mức ra tận đường tìm khách, mà khi nào khách bước vào trong nhà rồi họ mới ra đón tiếp. Những nhà hát cô đầu ở đây, dẫu có các đào rượu phục vụ, nhưng vẫn có đào hát phục vụ khách ưa âm nhạc. Vào những ngày đầu tháng lương, khách đến các nhà cô đầu ở Khâm Thiên đông hẳn lên. Hầu như suốt dọc phố, quãng nào cũng nghe tiếng trống chầu... Các cô đào sống một cuộc đời lấy đêm làm ngày. Khổ nhất là các đào rượu. Có khách là khổ nhục. Không có khách còn khổ đau hơn, nợ ăn, nợ mặc dầy thêm. Nhiều cô đào đã liều thân bỏ trốn, nhưng đâu dễ thoát. Mong ước làm lại cuộc đời mỗi ngày một xa vời. Có câu ca chua chát về các cô đào thời đó:... Lấy quan, quan bị cách/ Lấy khách, khách về Tầu/ Lấy nhà giàu, nhà giàu hết của... Sự bế tắc trong cuộc sống của các cô đào tưởng như không có gì hóa giải nổi. Cho đến tháng 8.1945, Cách mạng thành công, chỉ trong vòng một tháng các nhà hát cô đầu đã bị xóa sạch, và các cô đào được giải phóng!

Một khúc lận đận của ca trù - ảnh 4

Đào nương Quách Thị Hồ
Đối nghịch với trào lưu đào rượu, ở Hà Nội những năm trước Cách mạng luôn có những đào nương danh giá, như Đàm Mộng Hoài, Nguyễn Thị Phúc, Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm và đặc sắc nhất là Quách Thị Hồ. Họ luôn tạo nên sự thanh cao trong ca trù. Đương thời, người ta coi đào Hồ có giọng ca như báu vật của tạo hóa, với đủ độ vang, độ nảy, đủ rền và mượt. Trong giai âm đào Hồ, có chất chứa sự đời, phập phồng những cuộc tình duyên, có mơ màng khói sương cùng chút tâm linh huyền diệu... Một chầu hát của đào Hồ giá hàng trăm đồng Đông Dương. Và lạ lùng nhất là tiền thu nhập cao như vậy đào Hồ toàn giúp đỡ những đào nghèo khó, cơ nhỡ. Cách mạng tháng Tám, đào Hồ xóa hết nợ cho chị em đồng nghiệp. Rồi kháng chiến, đào Quách Thị Hồ vẫn hát ca trù phục vụ ở các vùng Vĩnh Yên, Phú Thọ, Thái Nguyên. 
Hòa bình lập lại, giọng Quách Thị Hồ lên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, rồi Truyền hình Việt Nam. Liên hoan ca nhạc quốc tế tại Iran năm 1976, giọng ca trù của bà đoạt giải nhất. Năm 1978, tại Mông Cổ, bài Tỳ bà hành do Quách Thị Hồ trình bày được tất cả hội trường đứng dậy hoan hô. Bà đoạt giải nhất và một giải Hàn lâm. Năm 1983, tại Bình Nhưỡng, bà lại đoạt giải Nhất và một giải Hàn lâm... Ngoài 80 tuổi, nghệ sỹ nhân dân Quách Thị Hồ vẫn hát trên sóng phát thanh, truyền hình và hàng triệu thính giả vẫn say mê. Có thể nói, người đào nương kiệt xuất của ca trù Việt Nam đã đi suốt hành trình ca trù thế kỷ XX vô cùng gian truân, và bằng cuộc đời ca hát của mình làm vinh dự cho nghệ thuật ca trù Việt Nam. Vào tháng giêng 2001, bà lặng lẽ qua đời, thọ 91 tuổi. 
Những ngày cuối đời, nghệ sỹ Quách Thị Hồ nói rằng, bà chỉ là một cô đào yêu nghề tổ! Điều đó thật bình dị, khiêm nhường, nhưng cũng khiến ta có thể tự hào sâu sắc về những người được gọi là đào hát, những đào nương ca trù Việt Nam!

(Theo NĐB)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác