Ngả nghiêng với "chiếng chèo Nam"

Về thành Nam vào thời điểm các nghệ sĩ Nhà hát chèo Nam Ðịnh đang say sưa tập vở chuẩn bị cho Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc, diễn ra tại Thái Bình.

Ngả nghiêng với

Trong yên ả trưa hè, vẳng nghe trống chèo thì thùng rộn rã bên tiếng sáo, tiếng nhị réo rắt trầm bổng khi gần, khi xa, gợi nhớ chiếu chèo xưa cùng các tích trò cổ với những đào, kép, những trò nhại, những mụ, những hề... Ký ức bỗng bồi hồi câu thơ của Nguyễn Bính: Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo thôn Ðoài hát tối nay.

Ðối với những nông dân vùng châu thổ sông Hồng, hát chèo, diễn chèo là để giải trí, mua vui, để quên đi những khó khăn tất bật của cuộc sống lao động hằng ngày, cũng là để thông qua những hình tượng nhân vật được khoa trương trong tích chèo mà phê phán những thói hư tật xấu, đấu tranh chống lại cường quyền. Có lẽ bởi thế mà chèo đã có một sức mạnh tự thân nhanh chóng lan tỏa khắp các làng quê, ngõ xóm, sân đình từ xa xưa để rồi đi tới đâu, ta cũng bắt gặp những phường chèo, những làng chèo với phong trào sinh hoạt mạnh mẽ. Với 200 đội chèo hình thành từ các phường hội của những làng chèo gốc có thể nói, Nam Ðịnh thật sự là mảnh đất nuôi dưỡng, phát triển nghệ thuật chèo.

 Chính từ những "chiếu chèo sân đình", những "phường chèo cổ", các nghệ nhân tiêu biểu sau hòa bình lập lại năm 1954 đã tập hợp trong một tổ chức mang tính chuyên nghiệp hơn do Nhà nước quản lý: ấy là Ðội văn công nhân dân tỉnh Nam Ðịnh - tiền thân của Ðoàn chèo và ngày nay là Nhà hát chèo Nam Ðịnh. Bước đầu thành lập còn nhiều khó khăn về đạo cụ và kinh phí hoạt động, nhưng với tình yêu và lòng say mê nghệ thuật chèo, chỉ sau ba năm, đoàn đã ghi dấu thành công đầu tiên với huy chương bạc cho vở diễn Ðôi ngọc lưu ly tại Hội diễn mùa xuân năm 1962. Tiếp đó, năm 1963, vở diễn Chị Tâm bến Cốc đã vinh dự được chọn biểu diễn phục vụ Bác Hồ và công nhân Nhà máy Liên hợp Dệt Nam Ðịnh. Liên tục, từ đó đến nay, nhiều vở diễn của chèo thành Nam đã gây được tiếng vang và giành nhiều giải thưởng cao qua các kỳ liên hoan như các vở: Trần Quốc Toản ra quân, Trần Anh Tông, Chiến trường không tiếng súng... Trong các giai đoạn khác nhau, những vở diễn luôn được quan tâm cải biên, làm mới thu hút công chúng. Không chỉ diễn những tích trò cổ, các nghệ sĩ, diễn viên Nhà hát chèo Nam Ðịnh còn thành công trong dàn dựng và biểu diễn những vở chèo về đề tài cách mạng và hiện đại.

Một trong những nghệ sĩ có nhiều đóng góp, mang về thành công cho chèo Nam Ðịnh là NSƯT Kim Liên. Chúng tôi không hề gặp khó khăn khi tìm đường đến nhà nghệ sĩ, bởi lẽ chỉ vừa tới đầu phố, hỏi thăm NSƯT Kim Liên thì từ người già tới trẻ nhỏ đều biết. Ðã bước sang tuổi 71- cái tuổi mà các cụ ta vẫn gọi là "thất thập cổ lai hy" nhưng dung mạo, giọng hát của bà vẫn khiến người xem phải thán phục. Nghe nghệ sĩ say mê luyến láy trong các làn điệu chèo mới thấy ở đó vẫn vẹn nguyên bầu nhiệt huyết như thời thanh xuân. NSƯT Kim Liên là một trong những diễn viên lứa đầu tiên của đoàn chèo Nam Ðịnh, cũng là một trong những giọng ca đã làm nổi danh cho chiếng chèo Nam qua các vai diễn: Cô Tâm trong vở Chị Tâm bến Cốc, cô Tư Hồng trong vở Người lái đò sông Vị... Và đặc biệt, không ai có thể quên chất giọng êm mượt của Kim Liên khi bà ngâm sáu câu thơ xuân của Bác Hồ ngay sau khi Người đọc lời chúc Tết xuân 1968 gửi đồng bào cả nước. Ðến với chèo từ năm 17 tuổi, cũng chính giọng chèo vừa sắc mẩy, vừa ngọt ngào uyển chuyển đã mang lại cho NSƯT Kim Liên may mắn được bốn lần gặp Bác Hồ. Ðể rồi, ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên nhân dịp đi thăm Nam Ðịnh, khi xem Kim Liên hóa thân thành cô Tâm trong vở Chị Tâm bến Cốc, Bác Hồ đã tặng hoa Kim Liên và khen ngợi: "Cô Tâm" hát hay múa dẻo. 

Sống hết mình với chèo, những nghệ nhân như NSƯT Kim Liên còn truyền tình yêu của mình cho những lớp thế hệ diễn viên sau. Dưới sự dìu dắt của bà, hàng loạt nghệ sĩ đã trưởng thành như: NSƯT Bích Thục (Nhà hát chèo Nam Ðịnh), NSƯT Lương Duyên (nghệ sĩ chèo Hà Nam)... Người ta vẫn hay hỏi vì đâu mà nghệ thuật chèo Nam Ðịnh lại luôn được gìn giữ và phát triển, ấy chính là bởi luôn có những người "giữ lửa" để "truyền nghề", thế hệ nọ tiếp nối thế hệ kia. Tiếp bước NSƯT Kim Liên, những học trò của bà như NSƯT Bích Thục, NSƯT Ðăng Khoa cũng đang nỗ lực truyền tình yêu, đam mê và kỹ thuật hát chèo cho những người trẻ. NSƯT Bích Thục chia sẻ: "Ði theo nghiệp chèo từ năm 13 tuổi, cống hiến cho nghề cũng đã hơn 40 năm, làm công tác đào tạo được hơn 30 năm, có những lúc không khỏi thấy cuộc sống có nhiều khó khăn, vất vả. Nhưng cứ mỗi khi cất lời ca, tiếng hát thì dường như những khó khăn, vất vả lại biến mất". Ðến thăm Nhà hát chèo Nam Ðịnh, chúng tôi gặp những diễn viên trẻ triển vọng, trong đó có Diệu Hằng - giọng ca đã từng đạt ba huy chương vàng trong ba kỳ Hội diễn sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000, 2004, 2010. Chị cho biết: "Hiện nay nhiều bạn trẻ yêu nhạc quốc tế hơn các dòng nhạc truyền thống. Nhưng như chúng tôi, càng tìm hiểu về chèo thì lại càng thấy yêu, thấy say chèo hơn".

Luôn chú trọng công tác tuyên truyền trong giáo dục, đó là một trong những bí quyết giúp mảnh đất Nam Ðịnh bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo truyền thống. Giám đốc Nhà hát chèo Nam Ðịnh, NSƯT Bùi Huy Soái trò chuyện với chúng tôi: "Vấn đề cốt yếu để nuôi dưỡng tình yêu chèo là phải phát hiện và đào tạo được những lực lượng trẻ kế cận. Vì thế, Nhà hát chèo Nam Ðịnh luôn cố gắng giữ quan hệ mật thiết với các làng chèo, phường chèo ở các cơ sở. Cứ hằng quý, Nhà hát cử cán bộ có kinh nghiệm lâu năm xuống địa phương hướng dẫn thêm cho các đội không chuyên, từ đó phát hiện ra những hạt nhân có triển vọng. Ba năm một, Nhà hát chèo tuyển một lớp đào tạo về kỹ năng hát, diễn xuất và sử dụng nhạc cụ trong nghệ thuật chèo".

Kết hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Sở Giáo dục và Ðào tạo, Nhà hát chèo Nam Ðịnh còn thường xuyên thực hiện chiến dịch đưa sân khấu đến với học đường, tổ chức lưu diễn tại các trường tiểu học, trung học, phổ thông và cao đẳng trên địa bàn tỉnh, giúp các em học sinh thêm hiểu, thêm yêu nghệ thuật dân tộc, từ đó tạo dựng một lớp công chúng trẻ cho sân khấu chèo. Nhờ thế, nghệ thuật chèo ở Nam Ðịnh đã trở nên gần gũi hơn với thế hệ trẻ. Ðể rồi, như một thứ "hữu xạ tự nhiên hương", dòng chảy của nghệ thuật chèo cứ âm thầm truyền qua các thế hệ.

 

Theo ND

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác