Nghệ thuật sân khấu Tuồng thời hội nhập

Tuồng là loại hình nghệ thuật sân khấu độc đáo và giàu bản sắc của văn hóa Việt Nam, nhưng đáng buồn là lại đang đứng trước nguy cơ mai một.

Nghệ thuật sân khấu Tuồng thời hội nhập - ảnh 1

NSND Hoàng Khiềm - Giám đốc Nhà hát Tuồng T.Ư cho biết: “Có những đêm diễn, rạp chỉ bán được hai vé cho khán giả cao niên”.

Bước đường gập gềnh

Từ thời Lý, khởi nguồn trong dân gian, tuồng đi vào cung đình. Đề tài của tuồng phản ánh giáo lý: Trung quân ái quốc. Trung với vua hiền là trung quân còn trung với bạo chúa là ngu trung. Đề tài hạt nhân này quyết định tất cả cấu trúc, tính chất, ngôn ngữ, âm nhạc, màu sắc, xung đột, tính cách nhân vật. Các nhân vật, cao nhất là vua, cầm đầu các quan và hay làm phản là tể tướng, sau đó là các vai thái hậu, hoàng hậu, phi tần, thái giám hạng cao... đều là những nhân vật lớn của lịch sử, có chống nhau, hủy diệt nhau thì cũng vì đại sự. 

Thời Lê, tuồng bị khủng hoảng và sang đến thời Nguyễn thì phát triển rực rỡ. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, tuồng không được chú ý. Đến năm 1959 với sự khởi xướng của Gs Hoàng Châu Ký, đoàn tuồng phía Bắc được thành lập. Với sự góp mặt của các nghệ sỹ tên tuổi ở phía Bắc như: Quang Tốn, Bạch Trà cùng với sự tham gia của các nghệ sỹ tên tuổi của miền Trung như: Lê Bá Tùng, Nguyễn Hoàng Tốn (Nghệ An), Đoàn Thị Ngà (Huế)... các tác giả: Tống Phước Phổ, Hoàng Châu Ký (Quảng Nam); Mịch Quang (Bình Định)... Đoàn đã dàn dựng một số vở tuồng cổ như: Sơn Hậu, Nữ tướng Đào Tam Xuân, Triệu Đình Long cứu chúa... Còn tại miền Nam, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa của chính quyền Sài Gòn đã cho dịch và xuất bản một số kịch bản tuồng cổ (có in kèm phần nguyên bản bằng chữ Nôm) như: Sơn Hậu diễn truyện, Trần trá hôn diễn ca, Đinh lưu tú diễn ca... 

Thời kỳ 1960 - 1980, các nhà hát tuồng luôn đỏ đèn mà vẫn không đáp ứng hết nhu cầu thưởng thức của người dân. Vậy mà hiện nay, với sự bùng nổ của các loại hình giải trí, nhất là các kênh truyền hình, tuồng đang bên bờ vực thẳm.

Kho tàng tuồng cổ có trên 200 vở nhưng phần nhiều kịch bản tuồng gốc gần như nguyên vẹn này lại đang nằm trong các bảo tàng, thư viện và các kho lưu trữ ở nước ngoài. Thư viện Viện Hán Nôm hiện có hơn 60 vở tuồng, xong gần 50 vở là bản photocopy do thư viện Hoàng gia Anh tặng chính quyền miền Nam năm 1971. Thư viện Viện Sân khấu còn gần 50 vở (phần lớn là do Viện mua lại của ông Hoàng Ngọc Cơ - tức ông Giám Cơ, chủ rạp Đồng Xuân Lâu ở Huế năm 1976), nhưng có một số bản tuồng không còn đầy đủ các chương hồi, một số vở đã có hiện tượng mục nát. Thư viện Quốc gia chỉ lưu giữ được 4 bản in khắc gỗ vở tuồng Sơn Hậu nhưng chỉ có 1 vở còn nguyên vẹn. Nhà hát Tuồng T.Ư hiện còn lưu giữ 18 vở tuồng chữ Nôm.

Dại gì gắn bó với tuồng (?!)

Anh em nghệ sỹ tuồng thường nói: “Tuồng làm thật nhưng ăn giả”. Để trở thành một kép giỏi, người diễn viên phải trải bao khổ luyện, bởi tuồng giàu tính ước lệ, tượng trưng, có tính bác học cao. Vũ đạo (gồm cả múa và võ thuật) cũng đóng vai trò cần thiết và tạo nên sức sống của tuồng. NSND Đàm Liên với hơn 40 năm đứng trên sân khấu tuồng nói những lời từ đáy lòng: “Muốn thực sự cầu tiến, các bạn trẻ đừng như câu diễn cửa miệng của tuồng: “như ta đây” mà chẳng chịu học ai, hỏi ai, không cần nghiên cứu. Học tuồng là thầy phải bắt tay chỉ ngón cho trò chứ không thể học đại trà được”. Biết bao đào kép trẻ của tuồng đã học qua trường lớp, từng diễn bao nhiêu đêm nhưng mấy ai được khán giả nhắc tới. Thuộc động tác đã khó, diễn thuần thục không vấp càng khó hơn và diễn để lưu danh thì thật là kỳ tích. Ngoài diễn xuất ngoại hình, niêm luật chặt chẽ về hóa trang, trang phục, diễn viên tuồng còn phải luyện giọng. Làm sao để diễn giữa một sân khấu lớn đông vài trăm người mà giọng vẫn vang lên tròn vành rõ chữ. 
Học hành khổ luyện và khắt khe là thế nhưng kết quả sau hàng năm trời tập vở chỉ bán được lèo tèo dăm vé, thậm chí có người được mời còn không đi thì thử hỏi ai dại gì mà mặn mà dấn thân vào tuồng. NSND Hoàng Khiềm buồn rầu: “Việc tuyển chọn diễn viên tuồng rất khó. Các thí sinh không mặn mà đến với tuồng thì biết đào tạo ai”. Còn Phó chủ tịch Hội Nghệ sỹ sân khấu Lê Chức cho biết: “Có những diễn viên còn phải làm cả nghề xe ôm, bán quán, làm pháp sư cúng tế...”. Vài năm một lần, có hội diễn hay liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc thì các đoàn tuồng mới phá bỏ thế tĩnh lặng. 

Cứu tuồng bằng cách nào?

Làm sao để biến khẩu hiệu: “Bất đáo Hồng Hà (rạp tuồng T.Ư) bất đáo Hà Nội” trở thành hiện thực như người Nhật đã làm: “Bất đáo rạp Nô, bất đáo Tokyo”? Nếu không kịp có chính sách cứu nguy thì nghệ thuật đỉnh cao này sẽ ngày càng mai một. Khi đó, ai muốn xem tuồng sẽ đến đâu? Tuy nhiên, trong khi đợi Nhà nước có một chính sách ưu đãi cho tuồng, một số nghệ sỹ đã đi hát Cầu ngư, giỗ cá ông. NSND Phạm Thị Thành khởi xướng việc đưa sân khấu vào học đường. Còn Giám đốc Nhà hát Cung đình Huế Nguyễn Hải “khoe” việc sống khỏe của đoàn mình khi đưa tuồng vào Duyệt Thị Đường trong chương trình du lịch cố đô Huế. Ông Hải cho biết, từ ngày 1.1.2008, mỗi ngày đoàn sẽ có 4 suất diễn, với 2 mức vé: 50.000 và 100.000 đồng. Vừa xem tuồng, khách vừa có thể thưởng trà cung đình... 

Cũng có ý kiến cho rằng, Nhà nước nên đầu tư xây dựng một bảo tàng tuồng. Bên cạnh đó là một rạp tuồng luôn đỏ đèn với những vở diễn cổ để người xem tới học tập, nghiên cứu, thưởng thức. Rạp tuồng này còn có thể dành cho khách du lịch. Nhà văn Nguyễn Đình Chính tin tưởng: “Giữa cơn bão táp này, người nghệ sỹ chân chính sẽ có cách của mình để gìn giữ tuồng”.

 

Theo NĐB

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác