Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Thực trạng và tương lai

Những năm của thập kỷ 90 đã từng là “một thời hoàng kim của nghệ thuật sân khấu”. Chúng ta nuối tiếc nhớ đến quang cảnh các rạp hát nườm nượp khách, công chúng háo hức đến rạp và mặc dầu diễn một vở ngày 2, 3 thậm chí 4 xuất diễn vẫn không còn một chỗ trống trong khu vực khán giả.

Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Thực trạng và tương lai - ảnh 1

Rồi sau những vinh quang dần tiếp đến sự thăng trầm của nghệ thuật sân khấu.
Đã một thời xa xưa, nghệ thuật sân khấu là độc tôn. Khi nghệ thuật điện ảnh ra đời từ thế kỷ trước là lúc nghệ thuật sân khấu nhường bước cho sự tiến hoá văn minh của nhân loại. Nghệ thuật sân khấu không còn là một món quà tinh thần độc tôn nữa. Nhân loại làm quen dần với các loại hình nghệ thuật khác và cả sự phát triển của thể thao bóng đá, quần vợt, trượt băng nghệ thuật v.v…

Nghệ thuật truyền hình đã thâm nhập thật khách quan và rộng khắp vào nhu cầu tinh thần của công chúng. Vô-tuyến truyền hình đã phủ sóng tới mọi ngóc ngách, mọi nẻo đường. Chúng ta hào hứng đón nhận sự tiến bộ của con người thì cũng đồng thời thừa nhận nghệ thuật sân khấu dần thu hẹp lại. Việt Nam đã phát sóng truyền hình từ vũ trụ bao la.

Nghệ thuật sân khấu hiện giờ đang ở đâu và tương lai sẽ ra sao…?

Nghệ thuật Sân khấu ở miền Bắc Việt Nam

Hơn một nửa thế kỷ, nhân dân của một nửa đất nước Việt Nam từ bờ sông Bến Hải - Vĩnh Linh tới biên giới Việt - Trung ổn định và sống dưới một thể chế xã hội chủ nghĩa. Người dân tự nguyện tuân thủ sự lãnh đạo của nhà nước với ý thức tập thể tốt. Chính sách biên chế của nhà nước đã quy định chế độ tiền lương cho mọi người. Thói quen “bao cấp” về nhu cầu văn hoá, nghệ thuật đã gần như một ý thức hệ đương nhiên của con người. Nhân dân được nhà nước quan tâm hết lòng 1à đặc điểm ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trước kia, tại những vùng sâu, vùng xa, ở miền núi hay tại vùng nông thôn thường được nhà nước chú trọng miễn phí cho nhu cầu thưởng thức văn hoá, văn nghệ của người dân.

Hiện nay đời sống theo sự phù hợp của “kinh tế thị trường” ở phía Bắc giờ đã hình thành khá rõ, kèm theo sự phân hoá từ từ mà chắc chắn, sự phân biệt rõ ràng hơn giữa người giàu - người nghèo đang hình thành. Những điều tốt lành và những gì tiêu cực, hạn chế đang đan xen lẫn lộn, nhất à từ bỏ một thói quen đã có từ lâu chẳng dễ dàng gì. Công chúng chưa hoàn toàn có thói quen đến rạp hát.

Cũng cần xem xét đến thực trạng của các chương trình văn nghệ. Công chúng có nhiều nhàm chán khi cảm nhận thấy các vở diễn với nhiều cốt truyện khác nhau vẫn chỉ được trình bày theo một cách. Hình thức các vở diễn chưa phong phú và sinh động. Hầu hết các vở diễn thường chú trọng tới nội dung, tư tưởng nhiều hơn, tương tự dập khuôn như đài, báo và truyền hình.

Ngoài ra, chương trình trên truyền hình phong phú, hấp dẫn, đa dạng gồm cả chương trình trong nước và quốc tế, mà rất thuận tiện đối với người sử dụng. Còn phải nói đến là chương trình truyền hình không tốn kém về kinh phí cá nhân. Rồi băng, đĩa CD tràn lan, các chương trình nhạc trẻ hấp dẫn cho thanh niên... Tóm lại, nhu cầu thưởng thức tinh thần của người dân thành phố phong phú, tuỳ ý lựa chọn và vô cùng thuận tiện. Vậy khán giả đến rạp để làm gì?
Tại các vùng nông thôn thì tình hình có khá hơn. Nhu cầu tinh thần ở nông thôn còn ít ỏi. Người nông dân phấn đấu cho sự sống trong “một nắng hai sương”. Việc các gia đình quây quần nghe đài phát thanh, ti vi trở thành nhu cầu cốt tử.

Nghệ thuật sân khấu ở khu vực phía Nam

Trước năm 1975, sân khấu khu vực phía Nam là sân khấu tư nhân do các ông bầu, bà bầu nắm quyền chỉ huy.

Từ năm 1975, sân khấu phía Nam được chuyển đổi về hình thức là sự chuyển đổi từ các gánh hát tư nhân sang các đơn vị tập thể hoá. Thực chất vẫn chỉ là phương thức bầu gánh tư nhân.
Hiện nay, hầu hết các đoàn nghệ thuật, cải lương chỉ tồn tại ở các tỉnh. Thành phố Hồ Chí Minh đã lần lượt tự giải tán các đoàn tập thể hoá. Sân khấu thành phố chỉ còn duy trì được 3 nhà hát: Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Nhà hát Kịch thành phố và đoàn Ca múa Bông Sen. Đồng thời một số đoàn nghệ thuật với hình thức xã hội hoá như nhà hát 5b Võ Văn Tần, Kịch Phú Nhuận, Kịch IDECAF, Sân khấu Trống Đồng, Kịch Phước Sang đang tồn tại.
Thành phố Hồ Chí Minh còn có một số hãng phim tư nhân, nhóm nghệ sĩ sân khấu hoặc nghệ sĩ tấu hài tự lực kinh doanh.

Bản chất của các đoàn nghệ thuật xã hội hoá vẫn là mô hình cũ được dán nhãn hiệu mới: những đoàn do cá nhân kinh doanh mà thôi.

Mọi việc diễn ra đều là mô hình thoả thuận giữa người chủ và nghệ sĩ, là những “hợp đồng có thời hạn dài hay ngắn” do sự thoả thuận về điều kiện kinh tế.

Sân khấu phía Nam có lượng khán giả nhiều hơn và duy trì được đều đặn hơn sân khấu phía Bắc.
Sân khấu phía Nam thích hợp hơn với điều kiện cơ chế thị trường và kinh doanh linh hoạt nhiều màu sắc hơn. Tuy vậy, sân khấu phía Nam có thể vì thế mà thiếu những vở diễn chỉ đơn thuần có sức nặng về tư tưởng do kén khán giả. Một hoạt động sân khấu năng động nhưng thiếu những vở diễn có quy mô hoành tráng, còn nặng về tính chất giải trí, đáp ứng thị hiếu của các tập thể khán giả khác nhau. Xuất hiện cả những sân khấu tầu hài, những vở diễn ma, quỷ để gây cảm khoái “giật gân”. Gần đây có đơn vị còn “sáng tạo” ra cách lôi cuốn khán giả bằng những hoạt động xử lý nghệ sĩ trình diễn những đoạn sex trên sân khấu, kể cả sex tập thể.

Vấn đề xã hội hoá các đoàn nghệ thuật

Nghệ thuật sân khấu trong tương lai bao gồm những đơn vị chuyên nghiệp của nhà nước và những đoàn xã hội hoá.

Khu vực phía Nam có nhiều điều kiện xây dựng các đơn vị xã hội hoá hơn khu vực phía Bắc. Công chúng phía Nam cũng như những nhà hoạt động sân khấu, những nghệ sĩ đều đã quen với nền kinh tế thị trường từ lâu rồi. Họ biết cách kinh doanh theo cách làm xã hội hoá. Những người lãnh đạo đoàn nghệ thuật xã hội hoá thường là những chủ nhân có tài về năng lực tổ chức kinh doanh trong nghệ thuật sân khấu.

Tính chất xã hội hoá của các đơn vị nghệ thuật phía Nam chưa hoàn toàn đầy đủ. Đó vẫn chỉ là những đoàn tư nhân hoá mà thôi. Các đơn vị đầu tư kinh phí cá nhân cho các chương trình, tiết mục. Mục tiêu quan trọng là không để đụng chạm, ảnh hưởng về mặt nội dung, không có sai phạm về mặt chính trị và cũng không có xu hướng gây tác hại đồi truỵ về văn hoá là đủ. Người nghệ sĩ có thể làm cả những vở diễn “vô thưởng và vô phạt” hoặc chỉ dừng lại ở các tác phẩm về quan hệ đạo đức, nhân phẩm. Mục tiêu là phải nắm bắt, đáp ứng cho được thị hiếu của khán giả. Thường là vở diễn có những đoạn “trò nhời”, những đoạn gây yếu tố hài hước để phục vụ khán giả, đôi khi còn diễn thêm những đoạn ngẫu hứng tại chỗ. Yếu tố giải trí được nhấn mạnh, mục đích doanh thu là chính yếu. Khán giả rời khỏi rạp hát khi vãn trò, ra về có thể không còn chú ý gì đến vở diễn mà lại nhập vào cuộc vui hoặc các dịch vụ khác.

Trái lại, khu vực miền Bắc rất khó giải thể những đơn vị nghệ thuật bao cấp thành những đơn vị xã hội hoá. Các đơn vị nghệ thuật phía Bắc do điều kiện có lương trong biên chế nhà nước nên hoạt động còn có phần thiếu sự đam mê nghề nghiệp, thiếu ý thức phấn đấu vươn nên trừ một số nghệ sĩ lớn đang hết mình về nghệ thuật. Chính sách biên chế đã vô tình tạo ra một hàng ngũ “công chức nghệ thuật”. Nhiều người đã quên mất “ý thức công dân của người nghệ sĩ”. Đã vậy, những tài năng trẻ không thể có chỗ đứng trong khi những nghệ sĩ đàn anh chưa đến tuổi về hưu nên không nhường chỗ. Từ đó hẫng hụt sự kế thừa tài năng, thậm chí thiếu sự vươn nên của những tài năng trẻ. Càng không thể nói đến sự ganh đua xứng đáng khi chưa có nổi sự thì đua cần thiết.

Các giải pháp để phát triển văn hoá trong giai đoạn “hội nhập quốc tế” và cho tương lai

Xoá bỏ chế độ biên chế của nghệ sĩ ở phía Bắc. Đồng nhất chung một chế độ hợp đồng trong toàn quốc. Đất nước Việt Nam chỉ có một dòng chảy duy nhất trong nghệ thuật sân khấu.
Chế độ biên chế kiểu “viên chức” đã quá lạc hậu. Nghệ sĩ phấn đấu suốt đời không tới bậc thang lương cuối cùng. Như vậy, chế độ lương là bất cập. Nghệ sĩ chỉ nên hợp đồng kinh tế với đơn vị nghệ thuật, tuỳ theo năng lực mà có thời hạn dài ngắn khác nhau. Sự kế thừa tài năng sẽ luôn được xảy ra và các tài năng trẻ luôn được bổ sung kịp thời tạo điều kiện cho nghệ thuật sân khấu phát triển. Chế độ trả lương hợp đồng cũng nên linh hoạt trả thoả thuận theo từng tài năng.
Chính sách hỗ trợ cho các dự án nghệ thuật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã có từ lâu nhưng chưa phát huy được hiệu quả bao nhiêu. Tiến tới, các đơn vị nhà nước và đơn vị xã hội hoá khi có dự án cần thiết sẽ đăng ký xin tài trợ về kinh tế của nhà nước, thậm chí và “cơ chế xin - cho” lớn đối với nhà nước nếu là chính đáng. Những nhu cầu văn hoá lớn, đúng định hướng của nhà nước cần phải được chú trọng như vậy một cách thường xuyên. Tiếc rằng nhiều đơn vị nghệ thuật chưa có ý thức “làm ăn lớn”.

Xây dựng những chính sách, chế độ mới đối với nền nghệ thuật dân tộc độc đáo, tiêu biểu cho văn hoá Việt Nam trong duy trì, bảo vệ và phát triển giao lưu hội nhập quốc tế theo đúng Nghị quyết văn hoá của Đảng.

Nên duy trì và phát triển nghệ thuật cải lương của khu vực phía Nam. Đó là “đặc thù Nam Bộ”. Hơn nữa nghệ thuật cải lương còn đang có được nền móng vững chắc của “đờn ca tài tử” - vốn phát triển rộng khắp tại bất cứ vùng miền nào ở phía Nam và vẫn và món ăn tinh thần của đồng bào Nam Bộ.

Phía Bắc vẫn nhất thiết bảo tồn và phát triển sân khấu dân tộc như: Chèo, Rối nước và Dân ca phong phú cũng như tại phía Bắc và khu vực miền Trung cần duy trì và phát triển nghệ thuật Tuồng.
Riêng nghệ thuật Rối nước và nghệ thuật Chèo là nghệ thuật dân tộc độc đáo của Việt Nam, hoàn toàn xứng đáng góp mặt cùng những nền văn minh của nhân loại.…


NSND Trọng Khôi (Nguồn HNV)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác