Người tâm huyết với nghệ thuật chèo

Nghệ sĩ nhân dân Trần Bảng là một trong những người có niềm tin sắt đá vào sức sống bất diệt của nghệ thuật chèo, bộ môn nghệ thuật sân khấu tượng trưng cho bản sắc văn hóa dân tộc.

Ngay cả vào thời kỳ khó khăn nhất của nghệ thuật chèo, khi mà người ta đua nhau dựng những vở chèo cải biên, thì ông vẫn khẳng định rằng: "phong trào phá chèo" rồi sẽ qua. Dĩ nhiên bây giờ nhìn lại thì thấy rằng, điều này chẳng có gì là ghê gớm, rằng mọi điều tất yếu phải thế. Nhưng thực ra cách đây khoảng hơn chục năm, những người yêu vốn chèo cổ đích thực đã thật sự ngao ngán khi một ngôi sao chèo sáng chói lên sàn diễn chỉ để "múa may quay cuồng", bởi không thuộc một làn điệu chèo nào đến nơi đến chốn, mà nói chung chẳng biết hát hỏng gì vì không có giọng. Và cũng không nhất thiết diễn viên chèo phải có giọng vì đã có người hát thế. Rồi đàn organ, ghi ta điện tử được lôi lên sân khấu để "đệm" cho cả chèo! Ông kể, thập niên 60 và nửa thập niên 70 của thế kỷ trước, chèo phát triển rực rỡ nhất ở miền Bắc nước ta, nhất là ở những nơi được coi là chiếc nôi của nghệ thuật chèo như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Tây,... Mà không riêng chèo, các bộ môn nghệ thuật dân tộc khác cũng vậy. Đó là thời kỳ văn nghệ phục vụ trực tiếp cho chính sách của Đảng và Nhà nước với mục tiêu chính là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà. Về vị trí xã hội, văn công chỉ đứng sau bộ đội, mà trong các chương trình biểu diễn của các đoàn văn công, chèo bao giờ cũng thống soái, các nghệ sĩ hát chèo đi đến đâu cũng được dân tin yêu, quý trọng. Nghệ sĩ đi về nông thôn thì sống với dân, ra tiền tuyến thì sống với bộ đội. Tình yêu quê hướng đất nước với tình yêu nghề nghiệp hòa làm một, nên những vở diễn mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống. Ngược lại, thời đó chưa có tivi, phương tiện nghe nhìn cũng hạn chế, nên nghệ thuật dân tộc, trong đó có chèo, được coi là phương tiện tuyên truyền quan trọng nên được quan tâm ưu ái. Chèo phát triển mạnh ở các địa phương, đặc biệt là ở đồng bằng Bắc Bộ. Hầu như hợp tác xã nông nghiệp nào, xí nghiệp thủ công nghiệp nào cũng có một đội chèo. Riêng tỉnh Hải Dương nuôi dưỡng tới 360 đội chèo nghiệp dư, trong đó có vài ba đội đạt tới trình độ chuyên nghiệp.

Thời Nghệ sĩ nhân dân Trần Bảng, lao động nghệ thuật nghiêm túc là một nguyên tắc sống còn của những người làm công tác nghệ thuật. Vở "Súy Vân" của ông được dàn dựng trong 6 tháng trời, trau chuốt, tìm tòi, khám phá... Những vở khác được làm nhanh hơn, nhưng cũng phải mất 3 đến 4 tháng mới dựng xong. Riêng vở "Tình rừng" được sửa đi sửa lại phải đến một năm mới được coi là tạm hoàn thiện. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và cái chính là tư tưởng "mì ăn liền" là nguyên nhân sản sinh ra những vở diễn mà kịch bản được viết ra trong vòng một tuần, dàn dựng ba tuần và công diễn...dăm buổi! Đồ thị đi xuống của nghệ thuật chèo có thể bắt nguồn từ đây?

(Theo NĐB)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác