Những kinh nghiệm trong việc dàn dựng, biểu diễn kịch kinh điển thế giới trên sân khấu Việt hiện đại

Năm 2006, NXB Sân khấu ra mắt 100 kiệt tác sân khấu thế giới. Việc dựng kịch kinh điển, như thế đã thành nhu cầu sáng tạo rất mạnh của sân khấu Việt đương đại. Trong bối cảnh ấy, hai vở kịch Ibsen được dàn dựng và trình diễn bởi Nhà hát Kịch và nhà hát Tuổi Trẻ VN, đã thành kinh nghiệm đắt giá: Kể chuyện kịch Ibsen trên sân khấu theo cách Việt Nam.

Cảnh trong vở Cảnh trong vở "Nhà búp bê" do Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng.

Kinh nghiệm thứ nhất: “NôraViệt” không sập cửa nhà búp bê    

Dễ đến trăm năm sau khi H.Ibsen qua đời (1828-1906), công chúng vẫn bị ám ảnh tiếng sập cửa Nôra trong Nhà búp bê. Trong chuỗi kịch luận đề về thân phận phụ nữ của Ibsen, Nhà búp bê đặt vấn đề: Đương không, một gia đình hạnh phúc, bỗng có biến cố. Và người vợ phải bỏ nhà vĩnh viễn ra đi.

Kịch bắt đầu khi Nôra phát hiện mình sống như búp bê. Người chồng Nôra yêu, hiện nguyên hình ích kỉ, độc đoán. Anh ta chỉ yêu mình. Trong chốc lát, sự thật về gia đình “búp bê” hiện ra trần trụi. Vỡ lẽ trong đớn đau, thất vọng, Nôra sập cửa, bỏ lại ảo ảnh hạnh phúc bên thềm nhà, vĩnh biệt thân phận búp bê. Khi Nhà búp bê (1879), của Ibsen xuất hiện, cả châu Âu bàng hoàng. Sau này, nhà văn Anh B.Shaw thán phục: “Tiếng sập cửa của Nôra ở hồi cuối còn vang rền hơn tiếng đại bác ở cứ điểm Mêtgiơ hay trong trận Xêđăng, buộc Napoleon III phải đầu hàng và bị bắt sống”.
Cuối 2006, đạo diễn Lê Hùng ra mắt Nhà búp bê, nhân Lễ hội Ibsen tại Việt Nam 2006, ở Hà Nội. Trong vai Nôra, đến đoạn kết, thay vì sập cửa, Nôra - Lê Khanh dứt áo ra đi mà không sập cửa.
Ngay khi “vỡ hoang” kịch, tôi - cố vấn văn học và Lê Hùng đã muốn Khanh diễn đoạn kết thật ấn tượng: sau lời cuối với chồng, Nôra - Lê Khanh lặng lẽ quay lưng, băng xuống khán phòng, rồi vòng lên sàn diễn, độc thoại rời rạc: nhà búp bê…nhà búp bê… với đôi mắt ráo khô. Nét mặt không biểu cảm, khóe mắt không giọt lệ. (Chỉ trước đó, Nôra của Khanh đã đổ bao nước mắt, khi biết bản chất của “hôn nhân búp bê”, khi vỡ lẽ cuộc sống vợ chồng là “đồng sàng dị mộng”).

Nhạc nền là tiếng đồng hồ quả lắc phóng thanh như tiếng đập trái tim Nôra bị tổn thương. Khanh cố tình kiệm lời, diễn phẳng lặng, ít động tác. Khanh muốn Nôra nuốt nỗi đau tận lòng, nhận chìm sóng ngầm xuống đáy niềm riêng…Cách tiết chế này rất gần bản tính “ước lệ” của sân khấu cổ truyền Việt. Màn khép, tiếng sập cửa không vang lên, nhưng ngân vọng mãi trong thổn thức của chiếc đồng hồ to tướng treo giữa sân khấu.

Đạo diễn Lê Hùng đã cho họa sĩ phóng to quả lắc chiếc đồng hồ này theo ước lệ: vừa là cửa ra vào của nhân vật, vừa gợi ý: việc ra vào ấy, có khi làm thay đổi số phận họ. Chuyển động quả lắc đồng hồ đã tạo điểm nhấn cho không gian “búp bê” của vợ chồng Nôra, không gian duy nhất trên sàn diễn. Vào ra cánh cửa được quy ước ấy, các nhân vật có thể hạnh phúc, bất hạnh. Cánh-cửa-đồng-hồ ấy còn chứng kiến thời khắc định mệnh: Nôra bỏ nhà, một đi không trở lại.              
Như thế, vở diễn đã khép lại trong kết thúc có hậu, theo cách “Việt hóa” tinh tế.

Trả lời phỏng vấn Lao Động, 10.11.07, đại sứ Nauy tại VN Kjell Storlokken nói: Lê Khanh đã không sập cửa, người xem Việt vẫn sửng sốt và phải suy nghĩ. Tôi thích cách diễn rất Việt ấy và thích xem sinh viên vỗ tay tán thưởng Lê Khanh”. 

Kinh nghiệm từ “Hedda Gabler”: Hiểu kịch bản chưa sâu 

Nhà hát Kịch VN dựng “Hedda Gabler”, cũng về chủ đề thân phận phụ nữ trong kịch Ibsen. Ngược Nôra, phải đi khỏi nhà hồi chót, Hedda Gabler trở về nhà với chồng, sau chuyến trăng mật. Hedda lấy chồng không tình yêu, chỉ muốn kết thúc cuộc sống tự do, phóng đãng, với vỏ bọc thượng lưu, che giấu thất vọng về tình yêu và cái nghèo. Cô là con gái tướng Gable, người thất thế từ trước khi con gái lấy chồng.

Thoạt đầu, Ibsen đặt tên vở “Hedda”, sau đổi là: “Hedda Gabler”. Giữ nguyên tên thời con gái, ông nhấn mạnh: Hedda không mang họ chồng, chỉ muốn mang họ tướng Gabler. Điều này khiến nhân vật phức tạp về tâm lý, kịch bản đa mang hai yếu tố bi kịch (theo ghi chép Ibsen, khi viết “Hedda Gabler”, qua nghiên cứu của Dương Tường, người dịch “Hedda Gabler” ra tiếng Việt).

Thứ nhất: Ibsen muốn miêu tả một bi kịch về sự vô mục đích mà người ta áp đặt lên phụ nữ thời đại ông. (“Cuộc đời đối với Hedda là trò hề chẳng bõ xem đến hết”, ông ghi, khi viết đoạn kết).
Thứ hai: Đây là bi kịch của cái không khắc phục được về thân phận người đàn bà trong xã hội. Vậy, thông điệp “Hedda Gabler” đã không phải về đạo đức, kiểu: ''Hãy sống trung thực với chính mình cả trong tình yêu và lao động thì hạnh phúc sẽ đến với mình. Còn ngược lại…chỉ dẫn đến bất hạnh”. Đây là cách hiểu đơn giản của đạo diễn Ngọc Phương, khi dựng “Hedda Gabler”. Vì thế, xảy ra cong vênh giữa người dịch, người dàn dựng, người diễn và người xem, về cách hiểu trên cùng một văn bản kịch.

Đây quả là vấn đề của sân khấu Việt đương đại, khi diễn đạt thông điệp từ văn bản, sang ngôn ngữ vở diễn. Theo dịch giả, thông điệp nằm trong bi kịch của Hedda, trong mặc cảm thân phận, ẩn ức tình yêu, tình dục, với ứng xử khác thường trong suốt kịch bản, được Ibsen viết nghiêm ngặt theo luật tam duy nhất: thời gian, địa điểm, hành động.

Đối chiếu với văn bản, Dương Tường cho việc dàn dựng, biên tập “Hedda Gabler” như thế là sai lạc tinh thần Ibsen. Chưa mở màn, người xem đã biết thông điệp đơn sơ: Hãy trung thực thì hạnh phúc. Không trung thực, thì…bất hạnh. Phục vụ thông điệp phiến diện này, đạo diễn đã “ấn” vào miệng Lovborg (Trần Thạch) câu nói không có trong kịch bản: “Hãy sống thật với lòng mình. Đừng để sự dối trá làm tha hóa tâm hồn em” và vì thế, Lan Hương vào vai khá gượng ép. Nhân vật góc cạnh bị bào đến mỏng dẹt, bị tước đoạt đa dạng, biến thành ''phác đồ''. Vở diễn minh hoạ vụng về kịch Ibsen đa nghĩa. Diễn biến tâm trạng dẫn đến cái chết Hedda vốn hợp lí trong cái viết của Ibsen, vào cái diễn của Lan Hương đã thành gượng gạo.

Vì thế, giải pháp ngoài kịch bản khi đạo diễn cho “nhân vật” Ibsen ra sân khấu “tự giới thuyết”, đã không làm tăng tính kịch, mà ngược lại. Trên sân khấu, cây dương cầm cũ của Hedda là kỉ niệm, cô vẫn muốn chồng mua đàn mới, dù có tiền hay không, đã bị khai thác lệch hướng. Hễ Hedda có tâm trạng là Lan Hương chơi đàn như muốn ngã gục xuống phím. Lan Hương đã không chịu mới khi bắt chước đàn chị xử lí cảnh này. Thêm nữa, cách cắt xén kịch bản tùy nghi đã làm méo mó, xộc xệch lời kịch đa nghĩa. Cuối cùng, là khập khiễng: nhạc nền điện tử, diễn viên lại nói giọng mộc. Âm nhạc ồn ào, nên nghĩa lời kịch chẳng âm vang…

Như vậy, khảo sát hai trường hợp dựng kịch Ibsen của hai nhà hát sáng giá ở Việt Nam cho thấy kinh nghiệm cả về thành công lẫn thất bại. Đây quả là bài học quý giá cho dàn dựng, biểu diễn kịch kinh điển thế giới trên sân khấu Việt hiện đại, đang quá hiếm thử nghiệm mới trên những kịch bản hay…

 

Theo VnM

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác