Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Còn nhiều bất cập

Vừa qua, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã tổ chức giám sát tình hình hoạt động và thi hành chính sách, pháp luật về nghệ thuật biểu diễn tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Thừa Thiên - Huế và Gia Lai đồng thời làm việc với lãnh đạo các Bộ: Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nội vụ, Tài chính. GS Nguyễn Minh Thuyết, đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã nếu một số ý kiến về vấn đề liên quan.

- Xin GS cho biết, thực trạng công tác quản lý Nhà nước và việc cấp phép công diễn các chương trình nghệ thuật hiện nay?

- GS. Nguyễn Minh Thuyết: Theo Quy chế 47, các chương trình biểu diễn nghệ thuật (BDNT) phải duyệt trước khi cấp giấy phép công diễn. Cục NTBD duyệt, cấp giấy phép cho các đơn vị của Trung ương, Sở VHTTDL địa phương cấp giấy phép cho các đơn vị trên địa bàn.

Cục NTBD và các Sở VHTTDL thành lập Hội đồng nghệ thuật giúp người đứng đầu các cơ quan này duyệt chương trình trước khi cấp giấy phép. Các đơn vị phải tổ chức tổng duyệt. Điều này gây tốn kém cho đơn vị nghệ thuật. Để thuận tiện, nhất là trong việc tập hợp diễn viên, các đơn vị biểu diễn thường bố trí thời gian tổ chức tổng duyệt gần với thời gian biểu diễn chính thức, nhưng điều này lại ảnh hưởng đến việc bán vé và quảng cáo vì phải có giấy phép mới được quảng cáo và bán vé.

Thêm vào đó, các cơ quan chức năng ở các thành phố lớn không thể duyệt hết được các chương trình trên địa bàn. Như ở Tp. Hồ Chí Minh, hằng năm có đến 400 chương trình, trong đó trên 300 chương trình ca - múa - nhạc và thời trang, nhưng chỉ có 70 chương trình được duyệt trực tiếp trước khi cấp giấy phép. Nhiều chương trình bị từ chối ở địa phương này, mang sang địa phương khác lại được cấp phép. Đó là chưa kể toàn bộ các chương trình trên sóng phát thanh, truyền hình đều không qua khâu duyệt và cấp phép.

Theo quy định, các chương trình không bán vé thu tiền thì không phải duyệt, cấp giấy phép. Trên thực tế, có những phòng trà ca nhạc tổ chức hoạt động BDNT chuyên nghiệp tuy không bán vé thu tiền nhưng lại tính phần trăm trên hóa đơn giải khát. Không ít chương trình BDNT kết hợp với quảng cáo sản phẩm, vận động gây quỹ từ thiện...

Điều 23, Quy chế 47 quy định giấy phép có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc và quy định các đơn vị đã có giấy phép, đến địa phương khác sẽ được Sở VHTTDL của địa phương đó cấp giấy tiếp nhận. Tuy nhiên, không ít trường hợp, chương trình đã được cấp giấy phép ở địa phương này, nhưng đến địa phương khác lại không được tiếp nhận hoặc bị yêu cầu duyệt cấp phép lại.

- GS có thể nói gì về hoạt động sản xuất, phát hành băng, đĩa sai luật hiện nay?

- Do Cục NTBD không công bố danh mục tác giả, tác phẩm trước năm 1975 và ca khúc hải ngoại được phổ biến (hoặc bị cấm) cho nên các Sở VHTTDL gặp khó khăn khi thẩm định và doanh nghiệp khó lập hồ sơ xin cấp phép. Tình trạng không thống nhất giữa các địa phương về tiêu chí cấp phép cũng diễn ra thường xuyên, tạo kẽ hở cho nhà sản xuất “chạy” giấy phép.

Băng đĩa lậu xuất hiện gần như đồng thời, thậm chí đôi khi sớm hơn băng đĩa gốc với giá bán thấp hơn, làm cho các doanh nghiệp không dám bỏ vốn đầu tư lớn cho những sản phẩm văn hóa mang tính nghệ thuật cao. Trong khi đó, từ năm 2009, thuế giá trị gia tăng đối với băng đĩa tăng từ 5% lên 10%, làm đội giá sản phẩm, gây thêm khó khăn cho nhà sản xuất. Tại Tp. Hồ Chí Minh, có đến gần 100 phòng thu tư nhân, vừa làm album cho ca sĩ chuyên nghiệp vừa thu đĩa cho người hát không chuyên. Không ít những chương trình thu thanh trái phép do các ca sĩ hải ngoại về nước thực hiện. Nhiều chương trình ngoài luồng đã bị cơ quan quản lý văn hóa phát hiện. Cho đến nay vẫn chưa có một quy định cụ thể nào để quản lý các phòng thu này.

- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 khẳng định: Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực BDNT vẫn diễn ra phổ biến. Xin GS cho biết cụ thể về vấn đề này?

- Điều này có nguyên nhân từ nhận thức chưa đúng của người sử dụng tác phẩm, và một số cơ quan quản lý văn hóa.

Năm 2009 mới có 11/65 đoàn ca múa nhạc chuyên nghiệp các tỉnh thành phía bắc ký hợp đồng sử dụng tác phẩm âm nhạc; ở Hà Nội, riêng năm 2008, Sở VHTTDL cấp phép công diễn cho 493 chương trình, nhưng không có tổ chức nào trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc.

Sau khi nước ta gia nhập Công ước Bern, Cục NTBD có công văn nói rõ: “Khi sử dụng các tác phẩm âm nhạc, sân khấu của tác giả là người nước ngoài dưới mọi hình thức [...] phải được phép bằng văn bản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc tổ chức đại diện hợp pháp quyền tác giả. Văn bản đó được bổ sung vào hồ sơ xin cấp phép biểu diễn, sản xuất, phát hành băng đĩa”.

Tuy nhiên, đối với tác giả là người Việt Nam vẫn chưa có quy định nào tương tự để bảo vệ quyền lợi của họ.

Nghị định 103 là văn bản mới nhất về hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng quy định hồ sơ xin cấp phép sản xuất, lưu hành băng đĩa ca nhạc, sân khấu phải có “giấy tờ chứng minh chủ sở hữu bản quyền” đối với tác phẩm, nhưng hồ sơ xin cấp phép công diễn lại không cần giấy tờ chứng minh.

Một số quy định trong Luật và văn bản quy phạm pháp luật khác chưa rõ ràng hoặc còn sơ hở, tạo điều kiện cho nhiều đơn vị tổ chức BDNT trốn tránh nghĩa vụ về quyền tác giả, dẫn đến tình trạng không thống nhất giữa các Sở VHTTDL trong quy trình cấp phép công diễn.

Một số Sở VHTTDL không yêu cầu phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu tác phẩm; trong khi đó, một số Sở lại yêu cầu phải xuất trình giấy tờ này. Một số Sở còn yêu cầu xuất trình cả giấy chứng nhận đã thanh toán tiền tác quyền thông qua Trung tâm bảo vệ quyền tác giả. Thậm chí, có Sở còn thu giúp tiền tác quyền.

Nhiều ca khúc, nhiều bản ghi âm, ghi hình bị phát tán tràn lan lên mạng Internet, mạng điện thoại di động,... không ai quản lý. Nhiều bài hát không nằm trong danh mục được phép phổ biến.

- Xin GS nói rõ về việc quản lý hoạt động BDNT có yếu tố nước ngoài?

- Quy chế 47 đã tạo điều kiện cho diễn viên Việt Nam ra nước ngoài và diễn viên nước ngoài, diễn viên Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam biểu diễn. Tuy nhiên, việc cấp phép cho các nghệ sĩ hải ngoại với thời gian ba tháng là quá ngắn.

Nhiều nội dung của Quy chế chưa được các nhà tổ chức BDNT và nghệ sĩ tuân thủ nghiêm túc. Một số nghệ sĩ trong nước lợi dụng danh nghĩa đi du lịch để biểu diễn, trốn tránh thủ tục xin phép. Mặc dù Quy chế 47 cởi mở đến mức cho phép diễn viên đi du lịch nước ngoài, nếu có nguyện vọng BDNT thì chỉ cần báo cáo trước với Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, thế nhưng hầu như không ca sĩ nào báo cáo. Họ muốn tránh nộp thuế thu nhập cá nhân. Chỉ khi họ có phát ngôn sai, biểu diễn những bài hát trong danh mục cấm... khiến báo chí lên tiếng thì cơ quan quản lý mới xử phạt. Đối với ca sĩ định cư ở nước ngoài về nước, cũng có một số trường hợp biểu diễn không đúng như giấy phép, thậm chí có trường hợp vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ.

- Từ kết quả giám sát, Ủy ban có kiến nghị gì đối với Quốc hội và Chính phủ?

- Ủy ban kiến nghị Quốc hội: Từ năm đầu của kế hoạch 5 năm (2011-2015), tăng mức đầu tư cho văn hóa lên 3% ngân sách, tương đương mức đầu tư cho khoa học - công nghệ. Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia tăng cường cơ sở vật chất cho NTBD. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao. Đến năm 2014 ban hành Pháp lệnh về NTBD, năm 2020 ban hành Luật NTBD. Sửa đổi điều 6 Bộ luật lao động và điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội.

- Ủy ban kiến nghị Chính phủ: Sớm ban hành Nghị định về NTBD. Tiếp tục xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành NTBD; sắp xếp lại các đoàn nghệ thuật công lập và các trường VHNT cả nước; có chính sách cụ thể hỗ trợ các đoàn nghệ thuật truyền thống.

Chỉ đạo nghiên cứu để cụ thể hóa chính sách xã hội hóa và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động NTBD; ban hành chính sách thuế và đất đai phù hợp để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cơ sở vật chất và tham gia hoạt động NTBD. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nâng cấp trang thiết bị cho ngành NTBD; nghiêm cấm bán, chuyển đổi mục đích sử dụng đối với các thiết chế văn hóa. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, chế độ. Cụ thể là: - Sửa đổi, bổ sung chế độ tiền lương, phụ cấp, thù lao, nhuận bút; hướng dẫn tổ chức thi nâng ngạch cho diễn viên. Sửa đổi tiêu chuẩn phong tặng danh hiệu NSND, NSƯT; có chính sách ưu đãi về tiền lương đối với những nghệ sĩ được phong tặng các danh hiệu vinh dự hoặc đoạt giải cao trong các liên hoan nghệ thuật. Sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo liên quan đến bản quyền cho phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ.  Có cơ chế tuyển sinh phù hợp với đặc thù của các trường VHNT; tăng kinh phí đào tạo hợp lý; miễn học phí cho người học các bộ môn nghệ thuật truyền thống; đưa đi đào tạo nước ngoài một số ngành nghệ thuật. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ công tác cũng như cơ chế phối hợp trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa; kiện toàn tổ chức, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm.

- Xin trân trọng cảm ơn GS Nguyễn Minh Thuyết.

 

Theo Nhandan

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác