Sân khấu Chèo thời hội nhập: Giữ lấy hồn cốt cho chèo

Bước vào thời hội nhập, chèo như gặp phải một môi trường khốc liệt, khác biệt với bản thể sinh thành của mình là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước.

Cảnh trong vở Cảnh trong vở "Linh khí Hoa Lư".

Nhiều đêm vắng tiếng trống chèo, các nghệ sĩ khó nhọc cất lên tiếng hát. Nhưng chèo vẫn tồn tại, vẫn hằng ngày tự vượt qua mình, vẫn thường xuyên tự biến cải mình để phù hợp với thời đại. Sự hiện diện của 19 tác phẩm của 17 đơn vị cùng 1.000 nghệ sĩ tại Hội diễn Sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2009 cho thấy một tương lai, dù còn vô vàn khó khăn.

Giữ lấy hồn cốt cho chèo

Cách đây chỉ mươi năm về trước, ngành chèo đã từng ngả nghiêng bởi những “cách tân” vô lối để rồi xuất hiện những cụm từ như “kịch hát mới”, “chèo cải biên”, đó là chưa kể các dòng chèo – nhạc vàng, chèo – rock, chèo – cải lương, chèo – opera hay chèo – tấu hài. Ngay cả Liên hoan Chèo truyền thống 2005, đồng nghiệp cũng bị sốc khi phải xem những “hạt sạn” to đùng bởi cách dựng chèo truyền thống bằng tư duy quá hiện đại... Ngỡ rằng cơ chế thị trường sẽ khiến chèo vẫn cứ bị lai tạp, nhưng bất ngờ là phần lớn các vở tham gia hội diễn lần này dù mang những đề tài lịch sử, hiện đại khác nhau, nhưng tất cả đều được các nghệ sĩ thể hiện minh bạch về chủ đề tư tưởng, rõ ràng về thẩm mỹ, nghiêm túc, công phu trong tư duy sáng tạo và các tác phẩm trong Hội diễn mang tính chuyên nghiệp, hấp dẫn và thời sự. Gọi theo ngôn ngữ đời thường là: sạch sẽ, hoành tráng, chỉn chu và có nghề. Những ghi nhận nổi bật về chất lượng được kể tới ở các vở như: Linh khí Hoa Lư (NH Chèo Ninh Bình), Chiến trường không tiếng súng (NH Chèo Nam Định), Danh chiếm bảng vàng (Đoàn NT Bắc Giang), Mảnh gương nhân sự, Bà Huyện trong mơ (NH Chèo Việt Nam), Hùng ca Bạch Đằng Giang (Đoàn NT Chèo Tổng cục Hậu cần), Đào Duy Từ (Đoàn NT Chèo Thanh Hóa).

Bên cạnh những tên tuổi nổi tiếng vẫn giữ được phong độ như tác giả Trần Đình Ngôn, đạo diễn Bùi Đắc Sừ, đạo diễn – NSND Lê Hùng... là sự xuất hiện của những gương mặt trẻ. Những tác phẩm của những cây bút như Trần Đình Văn, Đỗ Ngọc Sơn tuy chưa đạt tới mức xuất sắc tuyệt vời nhưng đã có kiến thức văn học, vốn sống, vốn nghề và có ý thức nối nghiệp cha anh, kế thừa truyền thống một cách chân thành. Những vở diễn của lớp đạo diễn trẻ như Trương Hải Thọ, Hà Quốc Minh, Vũ Ngọc Minh, Văn Lê, Hoàng Mai, Thúy Mùi... đã tạo được sự ngọt ngào, thanh xuân, hóm hỉnh và đậm bản sắc truyền thống. Cùng với đội ngũ tác giả, đạo diễn trẻ, Hội diễn lần này cũng có một lực lượng diễn viên trẻ có bản lĩnh nghề nghiệp với những nhân tố thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần nhuần nhụy trong các hình tượng nhân vật. Ví dụ trong số họ là đào Thanh Tuyển, 18 tuổi trong vai Tiêu Thị của Nhà hát Chèo Ninh Bình, kép Quốc Phòng của NH Chèo Hà Nội, mới 20 tuổi mà đã tạo được hình tượng Quang Trung chững chạc...

Tuy nhiên vẫn còn những xử lý quá mới, quá xa lạ với truyền thống và lịch sử của một số vở đã không được sự hưởng ứng của bạn nghề. Đề tài lịch sử không cấm các nghệ sĩ sáng tạo và cả hư cấu nhưng những sáng tạo đó phải được dựa trên tính chân thật lịch sử, khó có thể chấp nhận với hiện tượng trong chính sử ông vua được sinh ra 14 ngày thì trên sân khấu thời điểm đó vẫn nằm trong bụng mẹ hay luật “chu di tam tộc” là đối với đàn ông nhưng ở sân khấu hành quyết có đàn bà, con gái. Một bậc danh nhân văn hóa thế giới có thừa thơ ở thế kỷ XV lại đọc thơ của các tác giả thế kỷ XX. Chiếu chèo tại hội diễn lần này xuất hiện những sáng tạo theo lối tả chân, khác với số đông những sáng tạo theo lối tả ý, tả thần. Đó là chứa đựng các bục cao, bục thấp, cảnh sơn thủy hữu tình, những đạo cụ, phục trang như ở đời thường với những hoạt động sinh hoạt tả thực như cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên lối tả chân này khó có thể xây dựng được những miếng trò hay, mẫu nhân vật độc đáo với những anh hề thông minh, hóm hỉnh hấp dẫn như chèo truyền thống. Trong tổng kết hội diễn, PGS-TS Trần Trí Trắc đã nhận định rất xác đáng: “Sự lạm dụng quá thừa về trang trí đã làm hỏng chất lượng của một số vở diễn. Vẽ tả cái tháp lại tương là cột điện, cung phi, hoàng hậu thời Trần lại đội mũ “Nam Phương hoàng hậu” thời Nguyễn, vua mặc áo hoàng bào lại đi hia. Thậm chí có nhiều mảng, miếng của đạo diễn bị “nhai lại” hết vở này đến vở khác, bị “hoành tráng hóa” vào các vở không thể “hoành tráng” nổi, bị “hề hóa” vào các vở không thể hề và ép các khuôn múa, làn điệu chèo vào chỗ không hợp với bản chất của múa, hành động chèo. Đặc biệt, nhiều vở kết cấu dài dòng, thừa thãi. Trên sân khấu đã hết chuyện, khán giả đã về, thế mà nghệ sĩ cứ kêu gọi, cứ múa, cứ hát, cứ than khóc nhiệt tình, vô nghĩa”.

Thương người giữ lửa...

Đến hội diễn, lắng nghe tâm tư của người nghệ sĩ chèo mới thấu hiểu những nhọc nhằn mà họ đang phải đối diện. Nhạc sĩ Hạnh Nhân- giải Nhạc sĩ xuất sắc tại hội diễn chia sẻ: “Lăn lộn với các đoàn chèo địa phương mới thấy diễn viên chèo khổ như thế nào. 1 buổi tập của một diễn viên địa phương cao nhất chỉ có 8.000 đồng, nếu bản thân nghệ sĩ không có ngọn lửa yêu nghề thì làm sao chèo có thể níu giữ được họ sống chết với nghề”. Chuyện nhạc sĩ, đạo diễn, tác giả... trích lại % tiền nhuận bút ủng hộ cho diễn viên là chuyện thường gặp trong chèo. ½ số đơn vị tham dự hội diễn được địa phương cấp trên dưới 200 triệu đồng để dựng vở lẫn đi hội diễn. Tiền khách sạn, tiền ăn đắt đỏ, anh em nghệ sĩ phải dồn lương làm cả năm để thêm tiền đi hội diễn. Đồng nghiệp tiếc cho đoàn chèo Tuyên Quang vắng mặt chỉ vì không có kinh phí đi xa. Đa số các nghệ sĩ đều muốn ở lại để xem bạn nghề diễn nhưng họ cũng chỉ dám ở có một vài ngày đầu hoặc ngày cuối có vở đơn vị mình diễn vì không có kinh phí lo tiền ăn nghỉ.

Hiện nay hơn 90% diễn viên chèo hầu hết là diễn viên hạng 3. Nghệ sĩ có thâm niên hàng chục năm trong nghề, kịch sàn thì bậc lương của diễn viên hạng 3 cũng chỉ được hệ số 4,06 lương cơ bản. Còn đội ngũ diễn viên hợp đồng, thời vụ, mới vào nghề chỉ được trả 700.000 đến 1 triệu đồng một tháng. Thế nên cũng dễ hiểu ban đêm, trên sân khấu diễn viên là những ông hoàng, bà chúa nhưng ban ngày có ông hoàng chạy xe ôm, có bà chúa dọn hàng nước, bán quần áo...

Gian nan nghiệp diễn viên chèo là vậy, ấy thế mà suốt 11 buổi diễn, người nghệ sĩ chèo vẫn “chơi đẹp” khi dành tặng nhau những bó hoa tươi thắm và những tràng pháo tay trước những sáng tạo của bạn nghề. Làm gì để nghệ thuật chèo phát triển và có vị trí trong đời sống đương đại, trước tiên cần khắc phục những khó khăn còn tồn tại bao năm qua như: Đào tạo, bổ sung sự thiếu hụt trong nguồn nhân lực của chèo, đặc biệt là đội ngũ tác giả; Đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cho các đơn vị, có chế độ đãi ngộ thích đáng cho tài năng và những nghệ sĩ có danh hiệu; Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền về nghệ thuật chèo truyền thống trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa ra các dự án mới về chèo vào học đường. Có thực mới vực được đạo, ngành chèo thiếu thốn và khó khăn là vậy nhưng vẫn nỗ lực xây dựng được những tác phẩm có chất lượng, bám truyền thống là sự ghi nhận lớn đối với nghệ sĩ chèo hôm nay khi vẫn giữ được nghề tổ.

 

Theo VH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác