Sân khấu phía Bắc: Thưa vắng khán giả

Lấp đầy khoảng trống trong rạp vào các giờ “đỏ đèn” là vấn đề không dễ đối với các nhà hát phía Bắc. Không chỉ gặp phải tình cảnh khó khăn chung từ cuộc sống thời “bão giá” mà bản thân môn nghệ thuật truyền thống cũng ngày càng gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ những môn nghệ thuật hiện đại. Cùng đó sự thay đổi thị hiếu của công chúng càng làm các sân khấu phía Bắc thưa thớt khán giả, vé bán ế ẩm, rạp hát im ắng...

Sân khấu phía Bắc: Thưa vắng khán giả - ảnh 1

Vắng khách vì đâu?

Trong khi các chương trình âm nhạc hiện đại như: nhạc trẻ, thời trang, điện ảnh đang phát triển với muôn hình muôn vẻ thì một số môn nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương ngày càng đi vào ngõ cụt. Thiếu vắng chương trình hay, khán giả thưa thớt, vé bán ế ẩm, rạp hát im ắng đã trở thành nỗi buồn thê lương của những người trong nhiều năm trở lại đây. Đã có lúc Nhà hát Tuồng Trung ương trong hai tháng trời bán được 2 vé cho một người cao niên. Dường như với giới trẻ các “show” ca nhạc của các ngôi sao trẻ mới nổi lên, với phong cách biểu diễn “bốc lửa”, trang phục phá cách mới là tâm điểm chú ý của họ. Nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại khi nói rằng: “Không thể kiên trì xem hết một vở cải lương, chèo hay tuồng bởi mỗi cảnh rút vũ khí hạ kẻ thù mà người ta phải mất đến gần 30 phút “vòng vo”, diễn viên mới hoàn thành nhiệm vụ”. Có lẽ với cuộc sống phát triển như vũ bão, con người luôn bị cuốn theo lối sống gấp gáp thì tư duy cũng không đủ kiên trì để đi xem một vở nghệ thuật truyền thống với tiết tấu chậm, nội dung hình ảnh nhân vật quen thuộc, mà ý nghĩa, nội dung thường quá khô khan, giáo điều. Giờ đại bộ phận quần chúng đều hướng đến những tiết mục văn nghệ nhẹ nhàng nhưng mới mẻ và có phần sôi động.

Hiện nay với sự tồn tại hơn 130 đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, mỗi tỉnh đều có ít nhất một nhà hát. Riêng TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, có thể liệt kê đến hàng chục rạp hát. Nhưng buồn thay, trụ sở thì nhiều, diễn viên đông nhưng số đêm “đỏ đèn” thì dường như còn quá hiếm hoi. Có lẽ các nhà hát này chỉ tấp nập khi có các sự kiện lớn diễn ra như các cuộc liên hoan nghệ thuật toàn quốc hoặc quy mô quốc tế. Nếu không, các rạp hát này sẽ trở thành nơi cho thuê đám cưới, triển lãm hay nơi tổ chức một lễ kỷ niệm của ban, ngành nào đó nhằm mục đích “tránh lãng phí” và kiếm thêm thu nhập cho Nhà hát. Thực tế hiện cũng cho thấy, các đoàn chèo, cải lương, tuồng chỉ thực sự hoạt động nhiều vào dịp đầu xuân với các chương trình phục vụ lễ hội, nhưng sau đó là thời điểm đi “săn” kịch bản. Mỗi năm dựa vào kinh phí Nhà nước, mỗi nhà hát chỉ dàn dựng được vài tiết mục mới, còn lại hầu hết là các tiết mục cũ, người ta không còn thấy diễn viên ở các loại hình nghệ thuật này đôn đáo chạy phục vụ bà con khắp nơi như trước kia. Tuy nhiên, ngay cả với các tiết mục mới được dàn dựng cũng không tránh được cảnh diễn vài buổi, sau đó lại “xếp xó” bởi không có người xem.

Nếu không có sự bao cấp của Nhà nước thì hầu hết các đoàn nghệ thuật truyền thống sẽ đi vào bế tắc, không thể tự nuôi sống bản thân. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, lý do chính khiến một số loại hình nghệ thuật truyền thống ở miền Bắc chưa thu hút được người xem là bởi quá khan hiếm kịch bản hay, những đề tài mang hơi thở cuộc sống đương đại. Hiện nay đội ngũ những người viết kịch bản cho sân khấu ở ta không ít, nhưng đa số lại là các “lão làng” trong khi quan niệm sống và cách nhìn của họ khác hẳn với thế hệ hôm nay.

Một lý do nữa khiến cho khán giả đến với sân khấu truyền thống ngày càng thưa vắng đó chính là lối diễn xuất “vô hồn” của một bộ phận diễn viên vốn có suy nghĩ “ăn xổi” khi gia nhập các môn nghệ thuật này. Sự phát triển của công nghệ cũng đồng nghĩa với việc nghệ sĩ được giảm sức lao động bằng máy móc hiện đại như micro; cách thiết kế sân khấu, ánh sáng và âm thanh mới. Tuy nhiên, sự đổi mới này cũng chính là con dao hai lưỡi, nhiều diễn viên đã ỷ lại vào công nghệ mà lười biếng luyện tập chất giọng, đôi khi diễn cũng không đúng nguyên tắc truyền thống. Hát tuồng là phải hát từ hơi ruột, hơi gan, phải luyến láy đúng thì mới chinh phục người nghe. Thế nhưng, thực tế cho thấy nhiều nghệ sĩ (kể cả những người đã có thâm niên) đến nghệ sĩ trẻ hiện nay giọng quá yếu, nhưng vẫn cố gắng hát, vô hình trung đã tạo ra thứ “tuồng thét, tuồng quát”… gây phản cảm cho người nghe.

Xã hội hoá – “phao cứu sinh” cho nghệ thuật?

Công bằng mà nói, không phải tất cả các môn nghệ thuật truyền thống của ta đều không biết cách thu hút khán giả. Một điển hình rõ ràng nhất chính là loại hình nghệ thuật múa rối. Hàng ngày, Nhà hát Múa rối Trung ương có 4-5 ca diễn đều đặn, hết phục vụ khách nước ngoài đến các em thiếu nhi. Điều đó cũng khiến người ta đặt ra câu hỏi “tại sao một môn nghệ thuật truyền thống như múa rối lại vẫn sống được nhờ khán giả”. Mang câu hỏi này tới NSƯT Vương Duy Biên, chúng tôi nhận được câu trả lời thích đáng: “Sở dĩ lôi cuốn của người xem trong và ngoài nước chính là việc không ngừng đổi mới các tiết mục. Sống với tiết mục múa rối nước với các tích trò truyền thống nhằm vào đối tượng là người nước ngoài, với các thiếu nhi chúng tôi lại phục vụ bằng các tiết mục giải trí sôi động, chú trọng yếu tố âm thanh, múa và ca hát để đưa các em hoà vào chương trình…”.

Cũng với loại hình nghệ thuật truyền thống, nếu như miền Bắc không khí ảm đạm bao trùm lên các rạp hát thì ở phía Nam các tụ điểm văn hoá này luôn trở nên sôi động bất kể thời điểm nào. Đơn cử ở tỉnh Bình Định, lãnh đạo Nhà hát luôn bận rộn sắp xếp lịch diễn cho hàng trăm chương trình mỗi năm. Từ các chương trình phục vụ khán giả trong tỉnh, đến các buổi diễn phục vụ bà con vùng sâu, vùng xa rồi các chương trình quảng bá sang nước ngoài. Làm được điều đó vì các nghệ sĩ ở đây luôn biết tôn trọng môn nghệ thuật mà mình đã theo đuổi. Ngoài việc gìn giữ các vở truyền thống, họ còn tìm tòi những cách diễn mới, sáng tạo vở diễn mang hơi thở của thời đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người xem. Đó là con đường duy nhất để những người nghệ sĩ sống được bằng nghề và nhận được niềm tin của khán giả.

Một điểm chung có thể nhìn thấy từ những đơn vị nghệ thuật “sống được với nghề” này chính là phương thức hoạt động theo mô hình xã hội hoá nghệ thuật. Tìm nhà tài trợ cho các tiết mục, huy động sự góp sức của các thành phần kinh tế để các nghệ sĩ chuyên tâm đầu tư cho vai diễn đó đang là giải pháp hàng đầu để giúp các đoàn nghệ thuật truyền thống ở ta ngày càng đi vào chuyên nghiệp.

Tuy nhiên cho đến nay, xã hội hoá nghệ thuật vẫn là bài toán khó với nhiều nhà hát ở phía Bắc. Phó Giám đốc một nhà hát khẳng định: “Vấn đề lớn nhất lúc này đối với các nhà hát là việc giải quyết chế độ chính sách cho số lao động dôi dư. Với 1/3 số người đã thuộc biên chế ăn lương, không thể tham gia các vai diễn vì tuổi tác nhưng lại chưa đủ tuổi về hưu, còn các nghệ sĩ trẻ đầy sức cống hiến thì lại không có cơ chế thu nhận”.

Theo SKVN

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác