Sân khấu truyền thống có thể khai thác đề tài hiện đại?

Quan sát hoạt động của các đơn vị nghệ thuật kịch hát truyền thống (bảy đoàn tuồng và 17 đoàn chèo) trên cả nước thời gian qua, dễ nhận ra thực tế: với thời gian, "đất dụng võ" của họ ngày càng thu hẹp. Chương trình biểu diễn thưa vắng dần.

Sân khấu chèo liệu có phù hợp với các đề tài hiện đại?Sân khấu chèo liệu có phù hợp với các đề tài hiện đại?

Ngay những vở diễn kết tinh giá trị to lớn của tuồng chèo, hoặc những trích đoạn tiêu biểu, mẫu mực, vẫn thường được trình diễn với niềm tự hào chính đáng thì sức lay động cũng ít nhiều bộc lộ dấu hiệu phai nhạt, không còn gây kinh ngạc và niềm say mê thích thú mãnh liệt như trước.

Ðể tìm lại vị thế của sân khấu truyền thống đời sống tinh thần của xã hội, nhiều nghệ sĩ tài năng và tâm huyết đã bắt tay vào cuộc thử nghiệm nghệ thuật, đưa hình ảnh của con người và hoàn cảnh của thời đại hôm nay lên sàn diễn truyền thống.

Tiếp sức cho quyết tâm chính đáng này còn có những chỉ thị, định hướng của các cấp quản lý ngành, kèm theo đó là nguồn ngân sách cũng như sự cổ vũ của một bộ phận công chúng. Và thế là hơn nửa thế kỷ qua hàng trăm tiết mục tuồng, chèo... thể hiện nhân vật đương thời đồng loạt, kế tiếp nhau xuất hiện.

Chỉ cần điểm lại bản danh mục các vở diễn đề tài này cũng thấy ngay sự phong phú, bề bộn của nó. Tuồng sớm có những tiết mục đi vào đề tài hiện đại ngay từ năm 1946 với Cờ giải phóng của tác giả Tống Phước Phổ, mấy năm sau lại có thêm tác phẩm bề thế Chị Ngộ (1952) của Nguyễn Lai và cộng sự.

Tiếp đến là loạt những vở diễn ít nhiều gây tiếng vang như Sư gia và em bé, Gan bất khuất, Má Tám, Tình mẹ, Suối đất Hoa, Sáng mãi niềm tin, Người cáo, v.v. gần đây nhất tại Hội diễn 2005 có thêm thành công đáng ghi nhận của hai vở Cội nguồn (Nhà hát tuồng Ðào Tấn) và Rừng thức (Nhà hát tuồng Trung ương).

Chèo đi sau một nhịp nhưng lại tỏ ra dồi dào đa dạng hơn, trải ra ở nhiều phương diện của đời sống hiện đại. Có loạt vở đi vào tấm gương chiến đấu hy sinh ở thời kỳ tiền khởi nghĩa như Tuổi trẻ Nguyễn Văn Cừ, Ni cô Ðàm Viên, Người con gái sông Cấm, Cô gái sông Lam, v.v. bên cạnh những tiết mục khai thác hiện thực chiến tranh cứu nước như Cô giải phóng, Cô du kích Hoàng Ngân, Nguyễn Viết Xuân, Dũng sĩ Rạch Gầm, Sông Trà Khúc, Ðường về trận địa, Ánh sao đầu núi.

Một loạt vở thể hiện những xung đột trong quá trình xây dựng đất nước qua các giai đoạn lịch sử như Mối tình Ðiện Biên, Người Dao xuống núi, Người tốt nhà số 5, Câu chuyện làng Nhân.
Và gần đây tại Hội diễn 2005, lại có thêm Cà-phê chín đỏ (Nhà hát chèo Thanh Hóa), Những vần thơ thép (Nhà hát chèo Việt Nam) rồi tiết mục mới ra mắt nóng hổi nhất Bà Huyện trong mơ, v.v.

Chắc chắn bản liệt kê ấy chưa thể đầy đủ những tiết mục đáng chú ý khác, nhưng thế cũng đã đủ hình dung được sự phong phú những vở diễn thuộc các loại hình sân khấu truyền thống về đề tài hiện đại. Ðiều này từng được đánh giá như một thành tựu của sân khấu kịch hát truyền thống thời gian qua.

Nghịch lý là, những gì tiêu biểu cho thành tựu ấy vẫn không được công chúng thừa nhận.Lịch sử lâu dài của nghệ thuật sân khấu trên thế giới và cả ở nước ta cho thấy dường như mỗi loại hình một khi đã định hình đều có sở trường sở đoản riêng trong tương quan với hiện thực đời sống.

Khó mà có một hình thức nghệ thuật nào có thể tồn tại và phát huy bản thân mình như một phương tiện vạn năng. Nếu kịch nói và cải lương do gần với hình thức đời sống nên có thể tả xung hữu đột như một con dao pha để tiếp cận nhiều phương diện phức tạp của hiện thực con người, nhưng cũng có những khu vực phải nhường bước cho điện ảnh và văn xuôi tự sự.

Với tuồng và chèo, hai hình thức kịch hát chủ yếu của sân khấu truyền thống dân tộc, di sản quý giá mà cha ông truyền lại cho con cháu, cái hay và vẻ đẹp hoàn mỹ tuyệt vời đến mức lạ lùng của nó trên nhiều phương diện vẫn không ngừng mời gọi sự khám phá, lý giải, kế thừa, học hỏi của các thế hệ hiện tại và tương lai.

Nhưng chính sự định hình và hoàn mỹ của nó đã đạt tới tầm mức cổ điển thì lại bộc lộ ra trước hiện tại như một thứ khuôn thước mà các thế hệ hậu sinh chỉ có thể nghiêng mình thưởng thức trong niềm thán phục, chứ khó mà có cơ hội đụng chạm, can thiệp vào cơ cấu nghệ thuật nội tại của nó nếu không sợ rơi vào tình trạng làm biến dạng nguyên bản, mất mát đi vẻ đẹp và chiều sâu nguyên bản của nó.

Từ nhận thức này, đối chiếu vào các vở diễn tuồng, chèo đề tài hiện đại mà suốt nhiều thập niên ròng rã vừa qua, thậm chí cả hiện nay, đội ngũ nghệ sĩ sân khấu đã nỗ lực tạo ra, không thể không thừa nhận rằng, ngay cả những tiết mục mới được tôn vinh qua các đợt liên hoan hội diễn toàn quốc bằng huy chương vàng và các giải thưởng cao quý khác vẫn thua xa vẻ đẹp của tuồng, chèo truyền thống, chứ chưa nghĩ tới vượt lên trước.

Ðành rằng, không thể đem so đo những sản phẩm của mấy chục năm với những tập đại thành của mấy thế kỷ. Nhưng nghệ thuật vốn có những quy định riêng, giới hạn riêng của nó. Khi một hình thức đã phát triển đến tận độ của nó trong một phạm vi nhất định thì tất yếu phải nhường bước cho những hình thức khác tương thích hơn với những điều kiện mới.

Phải chăng tuồng, chèo của chúng ta cũng nên xem là một vẻ đẹp của một thời như vậy? Cần gìn giữ và bảo lưu nó như một di sản quý giá - một thứ quốc bảo, mà chớ nên tùy tiện nóng vội cải biên, đổi mới nó, sử dụng nó vào những phạm vi không thích hợp.

Nhiều năm qua sân khấu đã tiến hành việc bảo lưu những giá trị di sản quý giá, nhưng cũng còn nhiều phần việc phải tiếp tục làm để vẻ đẹp đó không phôi phai mai một, nhất là khâu giới thiệu với bộ phận khán giả trẻ và bạn bè quốc tế hiểu biết về sân khấu truyền thống.

Nhìn sang các nước láng giềng như Nhật Bản với các hình thức sân khấu độc đáo như sân khấu Noh và Kabake đã được gìn giữ công phu với một chiến lược lâu dài. Riêng việc sử dụng các hình thức truyền thống này để thể hiện đề tài đương đại lại hết sức dè dặt và thận trọng, gần như là sự thử nghiệm nghệ thuật mà cũng ít khi tiến hành.

Ở Trung Quốc với niềm tự hào về đỉnh cao nghệ thuật của kinh kịch, và câu khúc, một thời gian cũng rộ lên quá trình hiện đại hóa di sản nhưng gần đây đã thay đổi cách nhìn để tập trung hơn vào bảo lưu tinh hoa. Ðó là những kinh nghiệm để giới sân khấu chúng ta tham khảo. 


(Theo Nhân Dân)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác