Sân khấu truyền thống không bao giờ hết diễn viên trẻ

Đó là một câu nói nửa đùa, nửa thật nhưng cũng là ước mơ của nhạc sỹ Hạnh Nhân, trưởng khoa kịch hát dân tộc, Trường đại học Sân khấu điện ảnh Hà Nội. Sinh ra và lớn lên trong “cái nôi” 3 đời làm nghệ thuật dân tộc nên 9 tuổi ông đã đưa tay bấm phím đàn nguyệt thuần thục.

20 năm rong ruổi hết đoàn nghệ thuật Nam Định lại đến Ninh Bình, thậm chí có thời theo học âm nhạc hiện đại ở “trời Tây” nhưng niềm đam mê tuồng, chèo… cứ đeo đẳng mãi bên ông. Thế nên cuối cùng, ông lại trở về với “bến đỗ” là sân khấu truyền thống. Ngoài những giờ đứng trên bục giảng, ông đã sáng tác và có trong tay “vốn liếng” gần 200 vở sân khấu, đủ mặt tuồng, chèo, cải lương… Yêu sân khấu lại làm nghề giáo nên ông luôn có niềm tin vào thế hệ trẻ ở “điểm hẹn” sân khấu truyền thống.

Rất nhiều người cho rằng, sân khấu truyền thống đang đứng bên bờ vực thẳm, còn ông thấy thế nào?

Tôi nghĩ rằng nhận xét ấy mới chỉ đúng một phần. Quả thực cách đây một năm, sân khấu truyền thống không thu hút được khán giả. Nhưng vào thời điểm này, tôi hoàn toàn lạc quan và bình thản. Bởi hiện tại gần 20 đoàn nghệ thuật ở các tỉnh phía Bắc vẫn “đỏ đèn” hoạt động bình thường. Thậm chí ngay ở Hà Nội, tại một xã ở huyện Đông Anh, trong đợt vừa qua đã đón nhận gần 20 đêm diễn chèo. Hay như gần đây nhất, sự ra đời của các vở “Chiếc áo thiên nga”, “Cung phi Điểm Bích”, “Dấu ấn giao thời” đã phần nào khẳng định được vị thế của loại hình nghệ thuật này, đồng thời thu hút khá nhiều khán giả trẻ quan tâm theo dõi. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế là loại hình nghệ thuật này vốn mang đậm văn hoá thuần Việt, phản ánh tâm hồn, đời sống, tâm tư tình cảm của người dân Việt. Hơn nữa, nó còn là một di sản quý giá mà cha ông truyền lại cho con cháu, cái hay và vẻ đẹp hoàn mỹ tuyệt vời đến mức lạ lùng. Song chính sự định hình và hoàn mỹ ấy khiến thế hệ hậu sinh chỉ có thể nghiêng mình thưởng thức trong niềm thán phục chứ khó có cơ hội đụng chạm, can thiệp vào cơ cấu nghệ thuật nội tại của nó. Thế nên dù cố gắng đến mấy thì chất lượng vẫn không thể sánh với thời hoàng kim của nó.

Theo ông thì đâu là nguyên nhân khiến sân khấu truyền thống kém hấp dẫn?

Có rất nhiều nhận xét và đánh giá khác nhau. Với con mắt của người làm công tác đào tạo và sáng tác, tôi nghĩ có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là do hiện nay có quá nhiều thứ nghệ thuật cùng tồn tại và phát triển, tây có ta có, điều này làm cho thị trường nghệ thuật bị loãng dần. Bên cạnh đó thì tiết tấu của loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo… cơ bản là chậm, không còn phù hợp với cuộc sống sôi động, nhanh, gấp của thế hệ trẻ nữa. Ngay như chất lượng và kỹ năng của từng nghệ sỹ biểu diễn cũng đã có sự pha tạp, không còn vẹn nguyên. Vì cuộc sống không ít nghệ sỹ được đào tạo chuyên ngành chèo lại nhảy sang hát quan họ, hát văn, miễn là khán giả có nhu cầu. Điều này vô tình làm cho khán giả có kiến thức không dễ dàng chấp nhận. Song điều cơ bản nhất vẫn là sự quan tâm của các nhà quản lý chưa thực sự đầu tư cho sân khấu truyền thống. Thậm chí là “thả nổi” và khoán trắng cho các đoàn nghệ thuật, bắt các nghệ sỹ tự hoạch định doanh thu nên mới có chuyện diễn viên đóng vai chính trong một vở nổi tiếng của chèo chỉ nhận được 15 – 30 nghìn đồng, còn các ca sỹ hát nhạc trẻ hát những bài mà sau khi nghe xong người ta không hiểu nội dung là gì, vẫn nhận cát xê lên tới vài chục triệu đồng. Trong khi đó, nhìn sang các nước láng giềng như Nhật Bản, với các hình thức sân khấu độc đáo như như sân khấu Noh và Kabake đang được gìn giữ công phu với một chiến lược lâu dài. Hay như ở Trung Quốc tràn đầy niềm tự hào về kinh kịch cũng đã có biện pháp bảo lưu và đầu tư xứng đáng cho tinh hoa của dân tộc mình.

Ông cảm nhận thế nào về chất lượng biểu diễn của diễn viên trẻ, nhất là các diễn viên chạy sô vì kinh tế?

Nhìn chung, khả năng diễn xuất của diễn viên trẻ không chất lượng, bởi phần lớn chưa thổi được tình yêu nghệ thuật vào vai diễn. Đó là không kể đến chuyện cách tân một cách bừa bãi, thậm chí nực cười. Ngay cả những tiết mục được tôn vinh qua các đợt liên hoan, hội diễn toàn quốc bằng huy chương vàng và các giải thưởng khác, các diễn viên vẫn diễn thua xa vẻ đẹp mẫu mực của các nghệ sỹ xưa. Đành rằng không thể đem so với những cách diễn mấy chục năm trước, song nghệ thuật vốn có những qui định riêng, giới hạn riêng của nó. Nhưng cũng phải có cái nhìn khách quan và thông cảm cho các diễn viên trẻ hiện nay. Đôi khi họ cũng chịu tác động của các nhà đạo diễn, bởi để có được một vở diễn làm say lòng khán giả quả là khó, và yếu tố quyết định còn phụ thuộc vào tác giả kịch bản, đạo diễn, nhạc sỹ, biên đạo múa… chứ không phải chỉ ở diễn viên. Còn đối với cách diễn pha trộn lẫn lộn cải lương, tuồng, chèo ở một số diễn viên chạy sô bên ngoài hiện nay, nhìn ở góc độ nghệ thuật, tôi không thể chấp nhận và càng không thể ủng hộ họ. Tuy nhiên, với cái nhìn cảm thông và chia sẻ trong cuộc sống thì tôi chỉ biết nói rằng “Không nên trách họ quá nhiều!”. Nhà thơ Xuân Diệu – người suốt đời cống hiến cho thơ ca đã từng nói “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Và dân văn nghệ sỹ chúng tôi vẫn thường nói “Cơm áo không đùa với nghệ sỹ hát chèo, cải lương…”.

Với kinh nghiệm giảng dạy và tâm hồn của một người sáng tác nhạc và viết kịch bản sân khấu truyền thống, ông có định hướng đào tạo nào cho thế hệ trẻ hiện nay?

Sân khấu truyền thống là một loại hình nghệ thuật có đặc thù riêng. Bởi vậy, các em theo học chuyên ngành này phần lớn là con nhà nòi, hoặc phải là những em có lòng đam mê nghệ thuật dân tộc thực sự. Cho nên hướng đào tạo nhìn chung vẫn phải tuân theo những nguyên tắc chung với những giáo trình và bài bản riêng. Nên chăng là sự cách tân trong việc tuyển sinh, cần có sự sàng lọc chặt chẽ, không vì thiếu chỉ tiêu mà đầu vào kém chất lượng.

Theo Hanoinet

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác