Việt Nam hóa kịch Tây

Theo TS Nguyễn Thị Minh Thái, kịch phương Tây, mà trực tiếp là sân khấu kịch Pháp, khi kết hợp với tinh hoa của sân khấu truyền thống Việt Nam, đã làm thế giới, thậm chí cả các nước phương Tây - cái nôi của kịch - cũng phải kinh ngạc.

Việt Nam hóa kịch Tây - ảnh 1

Đến cuối thế kỷ XIX, Việt Nam đã có một nền sân khấu bản địa truyền thống với các loại hình đặc sắc như: rối nước, rối cạn, chèo, tuồng, cải lương..., với lịch sử hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm. Khi thực dân Pháp sang xâm lược, cùng với áp đặt về chính trị, là sự đồng hóa về văn hóa. Trong tình thế cưỡng đoạt ấy, tiếp xúc với văn hóa phương Tây, các trí thức Việt đã nhận thấy ưu điểm của “kịch Tây” và đưa nó vào Việt Nam nhằm gây dựng một sân khấu mới, thỏa mãn mỹ cảm mới của cư dân đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng... đầu thế kỷ XX. Theo Ts Nguyễn Thị Minh Thái: “từ vạch xuất phát ấy, những trí thức Tây học người Việt đã tìm hiểu, chiếm hữu “công nghệ kịch” của người Pháp, để Việt Nam hóa thành kịch Việt hiện đại. Việt Nam hóa kịch Tây là một quá trình văn hóa, đi liền với hiện đại hóa sân khấu Việt thế kỷ XX, cho đến nay đã diễn ra gần một thế kỷ”.

Một trong những người góp phần đưa kịch vào Việt Nam là học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Tới Pháp năm 1906, 
Việt Nam hóa kịch Tây - ảnh 2
ông đã choáng ngợp khi xem loại hình sân khấu này. Biết rằng muốn dựng một vở kịch phải bắt đầu từ kịch bản văn học, ông đã dịch các tác phẩm sân khấu kinh điển của Pháp sang tiếng Việt. Từ năm 1913 - 1917, Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút của Đông Dương tạp chí, đã đăng liền kỳ chùm hài kịch của Moliere: Trưởng giả học làm sang, Người bệnh tưởng, Người biển lận trên tạp chí này. Không lâu sau, Người bệnh tưởng được một cặp vợ chồng người Pháp dàn dựng, diễn bằng tiếng Việt lần đầu tiên vào ngày thành lập Hội Khai Trí Tiến Đức, 25.4.1920, tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Sau đó, Trưởng giả học làm sang vüEM>Người biển lận cũng được đưa lên sân khấu.

Những người làm sân khấu Việt nhận thấy khả năng diễn tả hiện thực xã hội và cứu chữa xã hội của kịch Tây. Tuy nhiên, họ muốn có một sân khấu của mình, dù diễn theo lối kịch Pháp, nhưng kịch bản được viết bằng tiếng Việt, do người Việt viết, dựng và diễn cho người Việt xem. Các khâu được Việt hóa hoàn toàn thì sân khấu kịch nước ta bắt đầu hình thành, đánh dấu bằng vở diễn Chén thuốc độc của Vũ Đình Long, tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào ngày 22.10.1921. Vở kịch đã kéo theo một chuỗi sáng tạo khác hình thành. Theo các nhà nghiên cứu, nghệ thuật dàn dựng và biểu diễn kịch Việt hoạt động theo lối tài tử trong suốt nửa đầu thế kỷ XX. Đến những năm 1960, các đạo diễn Việt Nam mới được đưa đi đào tạo bài bản ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước phương Tây xã hội chủ nghĩa. Khi trở về, lực lượng này đã trở thành những nhà sư phạm và nhà thực hành sân khấu hàng đầu của thể loại kịch Việt Nam. Cũng từ đó, các trường nghệ thuật sân khấu Việt được thành lập và đào tạo diễn viên kịch.

Việt Nam hóa kịch Tây - ảnh 3

Du nhập từ phương Tây, các nghệ sỹ được đào tạo chủ yếu từ phương Tây, nhưng kịch đã được Việt Nam hóa đến mức, khi vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt (kịch bản: Lưu Quang Vũ, đạo diễn: NSND Nguyễn Đình Nghi) xuất hiện tại Liên hoan sân khấu kịch quốc tế Moscow 1990, đã làm những người trong lĩnh vực sân khấu kịch, cũng như khán giả phương Tây kinh ngạc, bởi sự kết hợp nhiều yếu tố của sân khấu truyền thống Việt Nam, đặc biệt là phong cách ước lệ. Vở diễn đã đạt giải Nhất tại Liên hoan, sau đó tiếp tục chinh phục khán giả trong chuyến lưu diễn tại 20 trường đại học của Mỹ năm 1998.

Kịch Việt Nam đã gây tiếng vang, nhưng trong quá trình phát triển cũng nhiều lần trải qua khủng hoảng công chúng và hiện đang đánh mất tính chuyên nghiệp. Ts Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng: đầu thế kỷ XXI, kịch Việt Nam cố gắng tìm lại công chúng đã mất ở các đô thị lớn, nhất là công chúng trẻ, bằng việc phát triển loại hình sân khấu nhỏ và xã hội hóa hoạt động sân khấu kịch ở các đô thị lớn, đặc biệt ở TP Hồ Chí Minh. Trong tương lai, kịch vẫn là thể loại mang linh hồn của sân khấu hiện đại Việt Nam. Và người Việt hoàn toàn không vì thế mà lãng quên sân khấu dân tộc, bởi đó là bảo vật của kho báu văn hóa truyền thống và đó cũng là kho vô tận cho những người làm sân khấu Việt hiện đại khai thác vốn cổ truyền, làm giàu cho thể loại kịch.

 

Theo NĐB

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác