Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030

Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 - ảnh 1
Ảnh minh họa/internet
(Cinet)- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Tờ trình số 267/TTr-BVHTTDL ngày 28 tháng 11 năm 2014 về việc phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.
Theo đó, triển khai nhiệm vụ được phân công tại Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 22-NQ/TW) và quán triệt tinh thần của Nghị quỵết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 33-NQ/TW), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiến hành xây dựng dự thảo “Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030”.
Nội dung cơ bản của Dự thảo gồm 5 phần:
Phần mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết phải xây dựng Chiến lược và vai trò của văn hóa đối ngoại.
Phần I. Thực trạng văn hóa đối ngoại trong thời gian qua: Đánh giá những thành tựu đạt được và hạn chế của công tác đối ngoại trong thời gian vừa qua từ đó đưa ra những nguyên nhân của các hạn chế.
Phần II. Bối cảnh, cơ hội và thách thức: Đánh giá bối cảnh trong nước, quốc tế từ đó phân tích những cơ hội và thách thức đổi với việc phát triển văn hóa đối ngoại của Việt Nam.
Phần III. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ
Về quan điểm: Thứ nhất, văn hóa đối ngoại là một bộ phận quan trọng đặc biệt của nền văn hóa quốc gia, thể hiện sức mạnh nội sinh của dân tộc, có vai trò tích cực trong việc nâng cao vị thế của đất nước, con người và văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước.
Thứ hai, văn hóa đối ngoại Việt Nam là nền văn hóa đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng.
Thứ ba, phát triển văn hóa đối ngoại Việt Nam là sự nghiệp toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, định hướng, hỗ trợ về cơ chế, chính sách và xây dựng thông điệp hình ảnh quốc gia.
Thứ tư, phát triển văn hóa đối ngoại phải đồng bộ, toàn diện, gắn liền với các nhiệm vụ đối ngoại của đất nước, đồng thời phải dựa trên cơ sở phát triển văn hóa trong nước, gắn bó chặt chẽ với quá trình xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Về mục tiêu chung: Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa để quảng bá các giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại nhằm xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc.
Về mục tiêu cụ thể: Quảng bá các giá trị văn hóa của dân tộc ra thế giới, làm cho thế giới hiểu biết hơn về đất nước, con người, văn hóa Việt Nam, tạo dựng lòng tin và sự yêu mến đối với Việt Nam, góp phần thúc đấy việc triển khai quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác; Tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêm những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần xây dựng nền văn hóa con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp và đồng bộ, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa ra các thị trường nước ngoài, góp phần đưa thương hiệu văn hóa Việt Nam ra thế giới, quảng bá văn hóa quốc gia.
Về nhiệm vụ:
Đến năm 2020: Xây dựng và vận hành cơ chế điều phối quốc gia về văn hóa đối ngoại; Phát triển những loại hình, mô hình, phương thức hoạt động văn hoá đối ngoại đa dạng, hiệu quả để giới thiệu các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua các hoạt động văn hoá nghệ thuật và truyền thông phù hợp với từng địa bàn. Cụ thể là Ngày Văn hoá, Tuần Văn hóa Việt Nam, Lễ hội Văn hóa - Du lịch, các hoạt động xúc tiến, quảng bá văn hóa - du lịch tại nước ngoài, tăng cường sự hiện diện của Việt Nam tại các sự kiện văn hóa nghệ thuật quốc tế lớn như EXPO, Biennale, các Liên hoan phim nổi tiếng quốc tế...; Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, xây dựng biểu tượng văn hóa quốc gia và một số thương hiệu sản phẩm văn hóa quốc gia; Tiến hành xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ văn hóa Việt Nam ra nước ngoài, xây dựng thị phần cho công nghiệp văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế; Thành lập một số Trung tâm Văn hoá ở một số địa bàn trọng điểm trên thế giới và xây dựng trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài; Thiết lập đội ngũ Tham tán văn hóa, Tùy viên Văn hóa tại các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và hệ thống Trung tâm văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài; Hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin và sản phẩm văn hoá từ trong nước; có các chính sách nhằm gắn kết cộng đồng, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước; Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguôn nhân lực cho công tác văn hóa đối ngoại. Hợp tác với các nước để đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn hoá, nghệ thuật; đào tạo cán bộ chuyên môn trình độ cao; Xây dựng và phát triển một số Liên hoan nghệ thuật quốc tế có thương hiệu tại Việt Nam, tạo điều kiện cho công chúng Việt Nam được tiếp cận với các nền văn hóa, nghệ thuật đa dạng của thế giới, khẳng định năng lực tổ chức các sự kiện quốc tế của Việt Nam, nâng cao vị thế, uy tín đất nước; Tạo điều kiện thuận lợi để các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài giói thiệu đất nước, con người, văn hoá, du lịch tại Việt Nam. Phối hợp triển khai các Tuần Văn hoá, những sự kiện văn hóa lớn của các nước tại Việt Nam; Thu hút các nguồn lực hỗ trợ cho phát triển văn hóa nghệ thuật, góp phần thực hiện chính sách xã hội hoá. Tổ chức các hoạt động văn hóa đối ngoại theo hình thức xã hội hóa với sự tham gia của các tố chức, cá nhân trong và ngoài nước; Tăng cường các hoạt động giao lưu nhân dân, đặc biệt là giao lưu biên giới.
Tầm nhìn đến 2030: Đưa các quan hệ quốc tế về văn hoá đã được thiết lập đi vào chiều sâu, chủ động, ổn định. Mở rộng quan hệ với các quốc gia, các vùng lãnh thố, các tổ chức văn hoá quốc tế, các tập đoàn kinh tế, các cơ quan văn hóa trong khu vực và trên thế giới, hướng đến triển khai các chương trinh hợp tác thực chất, hiệu quả.
Từ năm 2030 sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động ở các địa bàn trên và tăng cường các hoạt động ở các khu vực Nam Mỹ, Trung Đông, châu Phi và những địa bàn có khoảng cách địa lý xa.
Văn hóa Việt Nam có những đóng góp mới được ghi nhận trong đời sống văn hóa thế giới và cộng đồng quốc tế.
Thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam phát triển, định vị văn hóa và sáng tạo như những thành tố then chốt của các thành phố lớn, để các thành phố này có thể trở thành các trung tâm về kinh tế sáng tạo ở châu Á.
Phần IV. Các giải pháp thực hiện gồm: Giải pháp về chính sách; Giải pháp về xây dựng sản phẩm văn hóa đối ngoại; Giải pháp về quảng bá, truyền thông; Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực; Giải pháp về tổ chức; Giải pháp về nguồn lực tài chính; Giải pháp đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Phần V. Tổ chức thực hiện: Phân định rõ vai trò chủ trì, phối hợp của Bộ VHTTDL, các Bộ, ngành liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thực hiện Chiến lược.
CN
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác