Chính sách cho nghệ nhân: Thực hiện ngay trước khi quá muộn

(Cinet) – Được Bộ VHTTDL xây dựng dự thảo và khởi động từ năm 2003 theo quy định của Luật di sản văn hóa nhưng cho đến nay, chính sách cho nghệ nhân vẫn chưa được phê duyệt. Trong 10 năm qua, các nghệ nhân – những kho dữ liệu sống vô giá đã lần lượt ra đi khi chưa kịp hưởng bất kỳ đãi ngộ nào của Nhà nước. Hãy thực hiện trước khi quá muộn?

Các nghệ nhân dân gian - những báu vật sống của Việt Nam người đã ra đi mãi mãi, người đang sống những ngày tháng cuối cùng..Các nghệ nhân dân gian - những báu vật sống của Việt Nam người đã ra đi mãi mãi, người đang sống những ngày tháng cuối cùng..

>Dự thảo chưa được phê duyệt bởi nhiều vướng mắc

Dự thảo thông tư Quy định về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục hồ sơ xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú, đã được Bộ VHTTDL soạn thảo và hoàn thành cuối năm 2009. Dự thảo thông tư bao gồm 4 chương, 17 điều, theo đó những người được xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT là những người năm giữ, truyền dạy và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình di sản văn hóa gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam, ngữ văn dân gian; tập quán xã hội; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian. Ngoài những tiêu chuẩn cơ bản như phẩm chất đạo đức, được đồng nghiệp và quần chúng mến mộ…NNND phải có thời gian thực hành từ 25 năm trở lên; với NNƯT là 20 năm trở lên và phải có học trò là người thừa kế, truyền dạy di sản.

Cũng theo Dự thảo thì dự kiến các đợt xét tặng và công bố danh hiệu NNND, NNƯT sẽ được tổ chức hai năm một lần vào dịp Quốc khánh 2-9. Quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu nghệ nhân sẽ được thực hiện theo cấp tỉnh và cấp nhà nước. Thời hạn nộp hồ sơ tới Hội đồng cấp tỉnh là trước ngày 31/12 trước năm xét tặng và tới Hội đồng cấp Nhà nước trước ngày 31/3 của năm xét tặng. Theo dự thảo thông tư, những nghệ nhân được phong tặng danh hiệu bên cạnh Huy hiệu, Bằng chứng nhận do Chủ tịch nước tặng còn được hưởng những chính sách đãi ngộ khác. Cụ thể, tiền thưởng kèm theo danh hiệu đối với NNND là 12,5 lần mức lương tối thiểu chung và đối với danh hiệu NNƯT là 9,0 lần mức lương tối thiểu chung. Ngoài ra, các nghệ nhân được phong tặng danh hiệu cũng sẽ được hưởng những chế độ, chính sách ưu đãi khác theo quy định.

Dự thảo được xây dựng năm 2003 và hoàn thành năm 2009, nhưng ngay khi thông tư về dự thảo hoàn tất chỉ còn chờ ngày ký thì theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ VHTTDL phải nâng cấp thông tư để xứng tầm với danh hiệu. Bên cạnh đó lại có ý kiến quan ngoại về sự chồng chéo, trung lặp giữa hai bộ là Bộ VHTTDL và Bộ Công Thương bởi trước đó Bộ Công Thương đã ban hành thông tư số 01/2007 TT-BCT xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT cho các nghệ nhân thuộc lĩnh vực nghề thủ công truyền thống. Vì thế, nhiều ý kiến cho rằng cần phải có một cơ quan đứng ra chủ trì, làm đầu mối xét tặng danh hiệu nghệ nhân. Sau một thời gian làm việc, bàn bạc Bộ VHTTDL và Bộ Công Thương đã đi đến thống nhất là Bộ Công Thương tiếp tục đảm trách phần phong tặng nghệ nhân nghề thủ công truyền thống và Bộ VHTTDL chịu trách nhiệm các loại hình còn lại.

>>Các nghệ nhân không thể chờ chính sách

Vậy nhưng cho đến nay, cũng không biết đến khi nào thì dự thảo do Bộ VHTDL đề xuất được phê duyệt và ngày nào Thông tư ban hành về chế độ đãi ngộ với nghệ nhân mới được Thủ tướng Chính Phủ ký ban hành, chỉ biết rằng các nghệ nhân – những báu vật sống của Việt Nam đang lần lượt ra đi.    

Ngày 3 tháng 3 vừa qua, nghệ nhân dân gian Hà Thị Cầu – nghệ nhân hát xẩm tàu điện cuối cùng đã ra đi trong nghèo đói, túng thiếu. Khi ra đi, nghệ nhân Hà Thị Cầu vẫn thuộc diện hộ nghèo. Nghệ nhân Hà Thị Cầu ra đi đồng nghĩa với việc Việt Nam mất đi một kho dữ liệu sống về xẩm, mất đi một người thầy truyền dạy xẩm truyền thống nguyên gốc.

Chính sách cho nghệ nhân: Thực hiện ngay trước khi quá muộn - ảnh 2
Nghệ nhân Phan Thị Mơn - nghệ nhân ca trù Cổ Đạm, Hà Tĩnh đã ra đi khi chưa được hưởng bất kỳ đãi ngộ nào của Nhà nước mặc dù bà có tên trong hồ sơ đệ trình Unesco công nhân ca trù là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại..
Chính sách cho nghệ nhân: Thực hiện ngay trước khi quá muộn - ảnh 3
Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu đã ra đi ngày 3 tháng 3 vừa qua trong nghèo đói, thiếu thốn mặc dù tiếng hát của bà đã vang xa và được biết đến không chỉ ở Việt Nam.
Chính sách cho nghệ nhân: Thực hiện ngay trước khi quá muộn - ảnh 4
Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc là một trong rất ít nghệ nhân có cơ hội truyền dạy nghệ thuật ca trù tinh túy của mình, nhưng bà cũng đã ở cái tuổi gần đất xa trời và không biết liệu có thể chờ được đến khi chính sách cho các nghệ nhân được phê duyệt...
Chính sách cho nghệ nhân: Thực hiện ngay trước khi quá muộn - ảnh 5
Nghệ nhân Vũ Văn Hồng, Nguyễn Thị Sinh, Nguyễn Phú Đẹ....các nghệ nhân đều ở tuổi ngoài 90 mắt mờ, lưng còng, chân run...liệu các nghệ nhân có cơ hội để ghi lại ngón đàn, tiếng hát của mình để lưu giữ lại cho thế hệ mai sau? Liệu các nghệ nhân có còn cơ hội để hưởng những chính sách đãi ngộ của Nhà nước?

Cuối năm 2011, nghệ nhân PhanThị Mơn ( nghệ nhân ca trù Cổ Đạm, Hà Tĩnh) cũng đã ra đi. Trước đó ít tháng nghệ nhân Nguyễn Thị Kim ( nghệ nhân ca trù Thanh Hóa) cũng từ biệt cõi trần ở tuổi 89. Tháng 10 năm 2011, tại Liên hoan ca trù toàn quốc diễn ra ở Hà Nội, nghệ nhân Nguyễn Thị Kim được Hội Văn nghệ dân gian xướng tên mời lên nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian, người ta xướng tên bà mà thậm chí không biết rằng bà đã ra đi từ trước đó gần nửa năm.

Hai nghệ nhân Phan Thị Mơn và Nguyễn Thị Kim đều được nhắc đến trong hồ sơ ca trù gửi Unesco đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong hồ sơ trình Unesco có đoạn ghi âm bài hát do nghệ nhân Nguyễn Thị Kim thực hiện, bà chính là một trong những yếu tố góp phần mang đến thành công trong việc đề nghị Unesco công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho ca trù của Việt Nam. Nghệ nhân Nguyễn Thị Kim được đánh giá là người có một lối hát đặc biệt, rung mịn, nhàn nhã, tròn vành rõ chữ, điêu tiết hơi tốt và là một trong số ít người nắm giữ được giá trị nguyên gốc, hồn vía nguyên gốc của nghệ thuật ca trù. Nếu như tiếng phách, giọng đàn của các nghệ nhân không được giữ, những giá trị văn hóa không được lưu truyền thì liệu ca trù hay các loại hình nghệ thuật truyền thống khác có được công nhận di sản?

Nghệ nhân đàn đáy Vũ Văn Hồng nay đã 90 tuổi, cái tuổi mà lưng còng, chân mỏi, mắt kém nhưng ông vẫn ôm cây đàn đáy đến với những nơi được mời để biểu diễn. Vừa là để có thêm thu nhập và là bởi cái nghiệp đeo bám suốt cuộc đời. Tiếng đàn của nghệ nhân 90 tuổi đã yếu dần, liệu công chúng còn được thưởng thức ngón đàn điều luyện này thêm bao nhiêu lần nữa? Còn nhớ trong kỳ Liên hoan ca trù toàn quốc năm 2012, danh sách phong tặng nghệ nhân dân gian của Hội Văn nghệ dân gian chỉ có 11 người. Trong số 9 nghệ nhân cao tuổi được tôn vinh, người thì ốm liệt gường, người quá già không thể đi lại đường xa, chỉ còn có 5 nghệ nhân lập cập bước lên được sân khấu nhận giải nhờ vào sự giúp sức của người dìu bên cạnh.

Chưa có một con số thống kê đầy đủ nào về việc có bao nhiêu nghệ nhân – những báu vật sống đã qua đời bởi hầu hết các nghệ nhân đều sống lặng lẽ ở quê nhà, và ra đi cũng trong cái sự lặng lẽ đó. Nếu như không có những chiến dịch làm hồ sơ công nhận di sản thì chắc gì những nghệ nhân dân gian đã được truyền thông nhắc đến, bởi để có thể sống họ vẫn phải mưu sinh bằng đủ thứ công việc đồng áng hàng ngày nơi thôn quê, và ở nơi đó họ chỉ là những người nông dân bình thường quanh năm chân lấm tay bùn.

Khi được Unesco công nhận là Di sản Văn hóa thì các quốc gia có di sản đều phải cam kết có những chương trình hành động để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật được công nhận ấy, trong đó chính sách đãi ngộ nghệ nhân là một phần rất quan trọng trong các cam kết của Việt Nam với Unesco. Việc chậm trễ trong việc ban hành chính sách sẽ ảnh hưởng đến cam kết cũng như uy tín của chúng ta đối với quốc tế. Điều quan trọng hơn là khi các nghệ nhân ra đi mà chưa kịp truyền lại những tinh hoa của mình cho thế hệ kế cận đồng nghĩa với việc những tinh hoa đó mãi mãi mất đi.

Cho đến nay, những tư liệu về các nghệ nhân như nghệ nhân Quách Thị Hồ, Hà Thị Cầu, Nguyễn Thị Kim, Phan Thị Mơn, Nguyễn Phú Đẹ, Vũ Văn Hồng…không có nhiều. Chỉ có một số rất ít được ghi âm lại trên trên băng cassette xưa kia, những hình ảnh chụp các nghệ nhân cũng không nhiều, tài liệu về cách hát, bài hát… lại chủ yếu là bản chép tay dễ hư hỏng và thất lạc theo thời gian. Các nghệ nhân còn sống cũng không thể truyền dạy nếu không có các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bởi muốn dạy học cũng phải có kinh phí. Vậy là các nguồn tư liệu sống cứ mất dần, mất dần theo thời gian…Chính sách đãi ngộ vẫn phải chờ chưa biết đến ngày nào, nếu như chúng ta không nhanh chóng thực hiện ngay vấn đề này thì liệu có còn nghệ nhân nào sống được đến ngày hưởng chế đội đãi ngộ?

Nguyễn Hương

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác