Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa

Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 1
Ảnh minh họa
(Cinet) - Chính sách văn hóa Áo được chỉnh sửa lại năm 2014, mục tiêu chính là cải thiện hệ thống quản lý văn hóa, hợp tác văn hóa thế giới, phát triển sự sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa và đảm bảo sự bền vững lâu dài của lĩnh vực văn hóa.
 
1. Bối cảnh lịch sử: Chính sách và các công cụ phát triển văn hóa
Sau chiến tranh phát xít Đức, chính sách văn hóa của Áo chủ yếu tăng cường hỗ trợ các nhà hát hoặc tổ chức các lễ hội tại Liên bang , đồng thời giảm sự quan tâm đến phát triển các tác phẩm văn học đương đại, nhà hát lớn, nghệ thuật thị giác và âm nhạc.
 
Hầu hết các nhà nghệ thuật và các nhà tri thức, những người theo chủ nghĩa phát xít Đức trong suốt cuộc chiến tranh đều không được mời quay trở lại tham gia vào sự phát triển của các chính sách văn hóa.
Các biện pháp thực hiện chính sách văn hóa của Bộ Giáo dục và Nghệ thuật Liên bang  được thông qua vào năm 1975. Mục đích chính của các biện pháp này nhằm tăng cường các hoạt động văn hóa và nâng cao nhận thức của cộng đồng, đồng thời giảm khoảng cách về nhận thức của người dân giữa thành phố và nông thôn. Trung tâm dịch vụ văn hóa (OKS) do Bộ quản lý được thành lập nhằm tạo mối liên kết một mặt giữa các nhà nghệ thuật và những người làm việc trong lĩnh vực văn hóa, mặt khác giữa các trường, các tổ chức giáo dục vị thành niên, các công ty và các trung tâm văn hóa.
Vào những năm cuối của thập kỷ 80, những ưu tiên hàng đầu trong chính sách văn hóa đã thay đổi và các cuộc thảo luận tập trung vào các vấn đề bảo trợ và tư nhân hóa văn hóa.
Giữa năm 1998 và 2006, tất cả các chương trình nghị sự về văn hóa nằm dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Nghệ thuật và thành viên của Văn phòng thủ tướng Liên bang .
Kể từ năm 2007 tất cả các vấn đề liên quan đến nghệ thuật được kết hợp lại với nhau dưới cùng một mái nhà chung khi chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục, Nghệ thuật và Văn hóa Liên bang  đến năm 2013.
Kể từ năm 2014, tất cả các vấn đề liên quan đến nghệ thuật và văn hóa được giao cho Bộ trưởng Liên bang  Bộ Nghệ thuật và Văn hóa, Hiếp pháp và Truyền thông.
Chính sách văn hóa ở cấp Liên bang  tập trung vào các vấn đề về sự đa dạng văn hóa, sự cung cấp các dịch vụ văn hóa, toàn cầu hóa, phát triển các nhà nghệ thuật trẻ. Các điều kiện cơ bản đối với các nhà nghệ thuật và các nghệ nhân ngày càng được tăng cường, trong khi các vấn đề liên quan như thuế và sự cải cách luật bản quyền phải được thảo luận và tập trung xem xét.
Trọng tâm của các chính sách là quảng bá nghệ thuật và nền điện ảnh đương đại, tăng cường sự tham gia vào các hoạt động nghệ thuật và văn hóa, tăng cường sự hiểu biết về nghệ thuật và văn hóa.  
2. Các mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hóa
2.1 Các đặc điểm chính của mô hình chính sách văn hóa hiện nay
Áo là một quốc gia Liên bang . Theo điều khoản chung, Điều 15 của Luật Hiến pháp trao quyền phát triển văn hóa cho các tỉnh hoặc ‘chủ quyền văn hóa’. Chính sách văn hóa của Liên bang  nằm dưới sự quản lý của Cục Nghệ thuật và Cục Văn hóa thuộc Văn phòng Thủ tướng phủ Liên bang  . Nhiệm vụ của các cơ quan này cân bằng các giá trị hữu hình và vô hình cũng như tạo các điều kiện cho nhiều  người dân tham gia các hoạt động văn hóa. Mục đích chính là liên tục tăng cường và củng cố các điều kiện cơ bản trong hoạt động phát triển nghệ thuật và văn hóa.
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 2
Ảnh minh họa.

Nhiệm vụ chính của Cục Nghệ thuật là tăng cường hoạt động sáng tạo nghệ thuật đương đại tại Áo và sự hiện diện của các nhà nghệ thuật trên các lĩnh vực nghệ thuật dân gian, kiến trúc, thời trang và thiết kế, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, nhiếp ảnh, điện ảnh và nghệ thuật truyền thông, văn học và xuất bản cũng như các sáng kiến phát triển văn hóa của khu vực.
Cục Văn hóa có nhiều khả năng tạo các điều kiện phù hợp như các khoản tiền trợ cấp cho các tổ chức văn hóa Liên bang  và các bảo tàng khu vực, các hoạt động văn hóa phổ biến và văn hóa dân gian, các thư viện công. Các ưu tiên chính khác bao gồm bảo vệ các khu lăng tẩm lịch sử, các di sản văn hóa, quản lý hiệu quả quá trình lưu trữ các tài liệu về nguồn gốc, bằng chứng và quá trình phục hồi các tư liệu, tăng cường sự hiểu biết về văn hóa cho người dân, mở rộng mạng lưới thông tin bằng cách cung cấp các hoạt động trao đổi thông tin điện tử, trực tuyến về văn hóa cũng như đẩy mạnh  sự hợp tác và trao đổi trên phạm vi quốc tế trong lĩnh vực văn hóa.
Trách nhiệm của cộng đồng đối với các sự kiện văn hóa được quy định lại theo từng ngành cho các tổ chức hoặc các cơ quan khác nhau như Viện điện ảnh Áo, Trung tâm phát triển nguồn lực và năng lực Áo, Khu tổ hợp các bảo tàng, Nhà hát lớn Liên bang  Bundestheater-Holding.
2.3 Các mục tiêu phát triển chính sách văn hóa
Nhìn chung, các mục tiêu chính của quá trình thiết lập chính sách văn hóa tại Áo có thể được chia thành ba loại:
- Các nhu cầu văn hóa cơ bản: Tự do thể hiện các hoạt động nghệ thuật và biểu diễn nghệ thuật, đa dạng về số lượng, chất lượng, tăng cường hoạt động đổi mới, sáng tạo, công nhận, quốc tế hóa các hoạt động văn hóa, tăng cường các điều kiện chung cho các nhà nghệ thuật và tạo khả năng cho họ phát triển, tăng cường cơ sở dữ liệu số;
- Quản lý: Tính minh bạch, sự tăng cường, tính cạnh tranh, tính hiệu quả, sự liên kết giữa các ngành công và tư, tính linh hoạt, giảm sự tập trung hóa, lập kế hoạch (các hợp đồng đầu tư kéo dài từ ba đến năm năm), hướng phát triển các dịch vụ văn hóa, và
- Các mục tiêu chính trị, xã hội: Sự tham gia, sự liên kết, sự công bằng, đảm bảo an ninh xã hội, sự đại diện, sự hiểu biết về các ảnh hưởng kinh tế đối với ngành văn hóa.
3. Thẩm quyền, ra quyết định và quản lý
 3.1. Cơ cấu tổ chức:
Hiện nay chưa có mô hình cơ cấu tổ chức chính thức về ra quyết định và quản lý tại Áo.
Kể từ năm 2014, Bộ trưởng Liên bang  Bộ Nghệ thuật và Văn hóa, Hiếp pháp dưới sự quản lý của thủ tướng Liên bang  đã chia phân chia chức chức năng quyền hạn cho các cục như sau:
- Cục Nghệ thuật với 7 sở. Nhiệm vụ trọng tâm của Cục Nghệ thuật là phát triển nghệ thuật đương đại tại Áo và tăng cường sự hiện diện của các nhà nghệ thuật Áo tại nước ngoài. 
- Cục Văn shóa với 8 sở. Cục Văn hóa chịu trách nhiệm tạo các điều kiện đủ và phù hợp với các hoạt động sáng tạo nghệ thuật và văn hóa cũng như sự tham gia vào văn hóa và nghệ thuật, tăng cường lợi ích cho một bộ phần lớn người dân Áo. Các vấn đề khác là bảo vệ các lăng tẩm và di sản cũng như các chính sách văn hóa của liên minh châu Âu và các sự kiện văn hóa quốc tế.
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 3
Ảnh minh họa
Vụ Chính sách văn hóa thuộc Bộ châu Âu, liên kết và ngoại giao Liên bang  (BMEIA) là một trong bảy vụ và bao gồm bốn sở:
- Sở 1 chịu trách nhiệm hợp tác, lập kế hoạch, thu chi, đánh giá các chính sách văn hóa quốc tế;
- Sở 2 chịu trách nhiệm tổ chức các sự kiện văn hóa và khoa học tại nước ngoài;
- Sở 3 chịu trách nhiệm hợp tác về khoa học và công nghệ, tổ chức các diễn đàn trao đổi giữa các nền văn hóa của các khu vực; và
- Sở 4 chịu trách nhiệm các vấn đề đa văn hóa trên thế giới (UNESCO).
 Các chương trình nghị sự của Áo tại nước ngoài trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa bao gồm:
- tổng số 30 diễn đàn văn hóa;
- 82 văn phòng đại sứ (26 đại sứ quán tổ chức diễn đàn văn hóa);
- 280 tòa lãnh sự danh dự;
- 60 bảo tàng Áo tại 28 bang (chủ yếu tại Đông Âu và khu vực Biển đen, Nam Caucusus và Trung Á);
- 10 cơ sở Viện Áo;
Các Bộ Giáo dục và vấn đề về phụ nữ Liên bang  châu Âu, liên kết và đối ngoại về Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế cùng chịu trách nhiệm về:
- Các trung tâm nghiên cứu và chức vụ giáo sư;
- Liên kết khoa học và giáo dục;
- OEAD (Trung tâm hợp tác quốc tế về giáo dục và nghiên cứu của Áo)
Văn phòng thủ tướng Liên bang  cũng chịu trách nhiệm:
- Các chính sách truyền thông, các vấn đề liên quan đến phát triển mạng lưới truyền thông mới;
- Xã hội hóa thông tin ;
- Các vấn đề liên quan đến các nhóm dân tộc;
- Liên kết các chính sách phát triển khu vực; (cấp Liên bang )
- Cục truyền thông Áo.
Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang  chịu trách nhiệm về:
- các khu di tích lịch sử;
- du lịch văn hóa;
- giải thưởng khác nhau trong các ngành nghệ thuật (ví dụ kiến trúc, thiết kế, truyền hình, quảng cáo...vv cũng như sáng kiến mới nhằm phát triển các ngành nghệ thuật sáng tạo)
- Các hợp đồng được ký kết giữa hai bên trong ngành điện ảnh
Bộ Nội vụ Liên bang  chịu trách nhiệm về:
- Các vấn đề về di cư, tị nạn, hộ chiếu, nơi ở của người dân, cấp giấy phép, các hoạt động cấp phép...vv;
- An ninh dữ liệu;
- Tổ chức kỷ niệm ngày diễn ra thảm họa diệt chủng người Do Thái
Cấp tỉnh:
Thẩm quyền cấp địa phương bao gồm:
- Bảo tồn các ngôi làng, thị trấn, các khu phố cổ
- Các lễ hội, đặc biệt tại các thành phố trực thuộc tỉnh (trong quá trình liên kết lần lượt với Chính phủ Bundesland (nhà nước Liên bang ) và Chính phủ Liên bang  );
- Tăng cường hoạt động của các tổ chức tại các thành phố (các cuộc biểu diễn, các trung tâm văn hóa...vv)
- Nghệ thuật nghiệp dư (các nhà hát kịch, các ban nhạc, các nhóm nhạc dân gian nghiệp dư);
- Các nghề thủ công;
- Các bảo tàng địa phương;
- Các thư viện, các cơ sở đào tạo cho người lớn.
3.3 Tổng quan về hệ thống quản lý
Cơ sở cho hoạt động điều hành trong lĩnh vực văn hóa là Luật Liên bang . Kể từ năm 2014, sau khi thay đổi trách nhiệm của các bộ trong những thập kỷ gần đây, các hoạt động nghệ thuật, văn hóa và các di sản văn hóa được đưa vào trong nhiệm vụ của Văn phòng thủ tướng Áo. Cục Nghệ thuật và Cục Văn hóa nằm dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Nghệ thuật và Văn hóa, Hiến pháp và Truyền thông Áo.
Các quốc gia Liên bang  Áo rất tích cực trong quảng bá nền văn hóa trên tất cả các lĩnh vực liên quan trên cơ sở luật riêng của từng lĩnh vực. Tất cả các Chính phủ Liên bang   có ít nhất một bộ chịu trách nhiệm về vấn đề văn hóa. Cơ sở pháp lý cho tăng cường phát triển nghệ thuật và văn hóa là Luật Phát triển văn hóa (ngoại trừ thủ đô Vienna) với các quy định thành lập các ban tư vấn và xuất bản tài liệu, báo cáo về chi tiêu trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa.
Thủ đô của các quốc gia Liên bang  cũng như các khu đô thị tự trị tại vùng nông thông phân bố các nguồn lực cho hoạt động phát triển văn hóa, nhằm mục đích tạo điều kiện cho các tổ chức, thư viện, các cơ sở giáo dục người lớn tại vùng đô thị cũng như các bảo tàng địa phương phát triển mạnh hơn. Trong những năm qua, xu hướng minh bạch các hoạt động hỗ trợ văn hóa cho các khu đô thị tự trị ngày càng được thể hiện rõ nét hơn thông qua các chiến lược phát triển văn hóa; Các báo cáo về hỗ trợ các hoạt động văn hóa cũng như thành lập các tổ chức tư vấn là hoạt động chung tại hầu hết các thành phố lớn.
3.3 Hợp tác liên bộ và liên chính phủ
Những minh chứng về sự hợp tác liên bộ được thể hiện trên các lĩnh vực như các ngành nghệ thuật, du lịch văn hóa, đa dạng văn hóa, các chính sách về kiến trúc và các cuộc thảo luận liên ngành văn hóa.
3.4. Hợp tác văn hóa trên phạm vi quốc tế
3.4.1. Tổng quan về cấu trúc và các xu hướng chính
Chương trình nghị sự về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa được phân chia cho các bộ khác. Các nhà hoạt động chính bao gồm sở phát triển chính sách văn hóa trực thuộc Bộ Liên bang  châu Âu, Hội nhập quốc tế và các vấn đề ngoại giao và các sở thực hiện chính sách phát triển văn hóa của liên minh châu Âu và các sự kiện văn hóa song phương và đa phương của Cục Văn hóa, đơn vị chịu sự quản lý của Văn phòng Thủ tướng Áo. Các bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế, Giáo dục, các vấn đề về phụ nữ, gia đình và thanh niên, Bộ Lao động, Vấn đề xã hội và Bảo vệ người tiêu dùng Liên bang  cũng tham gia vào lĩnh vực này.
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 4
Ảnh minh họa

Vụ Chính sách văn hóa thuộc Bộ Liên bang  châu Âu, Hội nhập quốc tế và các vấn đề ngoại giao gồm 4 sở. Các cơ quan này chịu trách nhiệm về hợp tác, lập kế hoạch, đánh giá và cung cấp nguồn tài chính cho các hoạt động hợp tác văn hóa quốc tế, tổ chức các sự kiện văn hóa và khoa học tại nước ngoài, cac cuộc đối thoại về khoa học và kỹ thuật giữa các nền văn hóa của các khu vực khác nhau, cũng như các chính sách văn hóa và các sự kiện văn hóa của UNESCO.
Trong lĩnh vực trao đổi và hợp tác quốc tế, Vụ VI/6 thuộc Vụ Văn hóa, Văn phòng Thủ tướng Áo chịu trách nhiệm về các sự kiện văn hóa trong cơ cấu hoạt động chung của liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và UNESCO. Vụ VI/7 chịu trách
nhiệm về trao đổi văn hóa song phương và đa phương, ví dụ hỗ trợ các hoạt động của các nhà nghệ thuật Áo tại nước ngoài, các sự kiện và các chương trình ổn định chỗ ở cho các nhà nghệ thuật trong cơ cấu khung của hiệp định về văn hóa.
Các hoạt động trao đổi văn hóa quốc tế cũng được thực hiện ở cấp tỉnh và thành phố, đồng thời tăng cường tổ chức các sự kiện, các dự án bao gồm hỗ trợ các hoạt động cho các nhà nghệ thuật Áo tại nước ngoài (các chương trình học bổng, chi phí đi lại) và thu xếp chỗ ăn nghỉ cho các nhà nghệ thuật.
Các tổ chức văn hóa lớn, các trường đại học nghệ thuật cũng như các sáng kiến văn hóa ở phạm vị nhỏ hơn giúp duy trì các mối quan hệ hợp tác văn hóa giữa các ngành, bao gồm hoạt động trong  mạng lưới châu Âu và quốc tế.
Trong thời gian trước mắt, Chiến lược phát triển khu vực Danube thuộc liên minh châu Âu tập trung vào mở rộng mối quan hệ đối tác với phần còn lại của khu vực Danube, khu vực Biển Đen và phía Tây Ban- căng. Nhiều kế hoạch phát triển chính sách văn hóa quốc tế trong những năm tới đang được triển khai liên quan đến các vấn đề về văn hóa và tôn giáo, đặc biệt chuẩn bị diễn đàn hàng năm về “Liên minh giữa các nền văn minh 2013-2014” tại Vienne và các vấn đề về quyền con người với tư cách là thành viên trong Hội đồng bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc 2011-2014. Nền văn hóa Áo được quốc tế công nhận qua các hoạt động âm nhạc, nghệ thuật dân gian và văn học. Trong những năm sắp tới, chính sách văn hóa quốc tế của nước này cũng sẽ tập trung chủ yếu vào loại hình nghệ thuật múa và kiến trúc.
3.4.2. Các nhà nghệ thuật và ngoại giao văn hóa
Bộ Liên bang  châu Âu, Hội nhập quốc tế và ngoại giao chịu trách nhiệm quản lý 30 diễn đàn văn hóa Áo với quy mô đa dạng tại 27 quốc gia cũng như các vụ văn hóa hoặc tùy viên văn hóa tại các đại sứ quán Áo.
Hầu hết ngân sách dành cho phát triển chính sách văn hóa quốc tế được phân bổ cho hoạt động của các diễn đàn văn hóa với ngân sách riêng hàng năm dành cho từng diễn đàn. Kế hoạch phát triển chương trình văn hóa phải được sự đồng ý của đại sứ và vụ chịu trách nhiệm liên quan trong Bộ châu Âu, Hội nhập quốc tế và các vấn đề về ngoại giao Liên bang .
Các nghị định thư hoặc chương trình với thời hạn ba hoặc bốn năm quy định các loại hình hợp tác văn hóa song phương, chú trọng vào các điều kiện cơ bản và cũng bao gồm các hiệp định về trao đổi kinh nghiệm, hoạt động văn hóa, các nhóm nghệ thuật, các đoàn hát múa và công ty nghệ thuật biểu diễn. Các điều khoản chung và riêng cho hoạt động tài chính văn hóa được quy định trong các hiệp định và nghị định thư đã được thỏa thuận giữa các bên.
Áo đã ký kết các hiệp định hợp tác văn hóa với tổng số 28 quốc gia bao gồm 15 thành viên trong Liên minh châu Âu. Ngoài các hiệp định về văn hóa, các hiệp định khác về hợp tác trên các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật đã được ký kết với 18 quốc gia. Hợp tác không chính thức trên các lĩnh vực văn hóa và khoa học đã được thực hiện với bảy đối tác không yêu cầu ký kết bất kỳ hiệp định nào.
Nhiệm vụ chính của chính sách văn hóa quốc tế được nêu khái quát trong Bản dự thảo phát triển điêu khắc của Áo 2011 đến 2014. Nhìn chung, trọng tâm của bản thảo là tầm quan trọng của văn hóa như một nhân tố tạo hình ảnh quan trọng nhất cho Áo với các mục tiêu chính:
- quảng bá quốc gia Áo trên trường quốc tế như một đất nước giàu có về nghệ thuật, khoa học và luôn đổi mới trên nhiều phương diện;
- dựa trên nguyên tắc “thống nhất trong sự đa dạng”, hoạt động tích cực trong tăng cường phát triển liên kết với châu Âu;
- đóng góp lâu dài cho quá trình tạo dựng niềm tin toàn cầu và đảm bảo nền hòa bình thông qua các sáng kiến trong các cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa và các khu vực.
3.4.3 Các nước châu Âu và quốc tế, các chương trình phát triển văn hóa
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 5
Ảnh minh họa

Các vấn đề đa phương trong chính sách phát triển văn hóa quốc tế liên quan đến khung hoạt động của UNESCO, liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE). Áo cũng là thành viên của các mạng lưới khác nhau: Mạng lưới chính sách văn hóa quốc tế (INCP), mạng lưới các tổ chức xã hội tăng cường các cuộc đối thoại văn hóa tại khu vực Địa Trung Hải giữa các các tổ chức văn hóa thuộc Liên minh châu Âu ((EUNIC). Ngoài ra, Áo cũng tham gia vào mạng lưới các nhà nghệ thuật trên thế giới, Mạng lưới đa văn hóa quốc tế (INCD). Các quốc gia Liên bang  duy trì mối quan hệ đối tác trong khu vực trong và ngoài châu Âu, đồng thời xuất hiện trong các mạng lưới như Hội đồng khu vực châu Âu, Ủy ban khu vực.
Các khu tự trị duy trì quan hệ đối tác giữa các thành phố tự trị và tăng cường hợp tác; Thủ đô Vienna là thành viên của mạng lưới châu Âu và quốc tế.
Áo đã thông qua Hiệp ước với UNECO về Bảo vệ Di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1992, có 9 di sản được dưa vào trong danh sách di sản thế giới được UNESCO công nhận.
Theo kế hoạch của Áo khi tham gia vào quá trình phê chuẩn Hiệp ước Bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể, chương trình nghị sự của quốc gia đối với các di sản văn hóa phi vật thể đã được thiết lập dưới sự ủy nhiệm của UNESCO vào năm 2006. Kể từ năm 2010, hơn 60 di sản được đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể tại Áo.
3.4.4 Hợp tác phát triển chuyên môn trực tiếp
Có nhiều tổ chức trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa tham gia vào quá trình hợp tác liên quốc gia tại Áo, từ các tổ chức lớn như các bảo tàng và nhà hát tới các tổ chức văn hóa quy mô nhỏ. Kể từ những năm 90, các kế hoạch tăng cường hợp tác đã được tập trung chủ yếu tại các khu vực trung và đông nam châu Âu. Các hoạt động bao gồm các lễ hội (trong lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh....vv), các cuộc triển lãm (nghệ thuật dân gian, kiến trúc, nhiếp ảnh...vv), các hội thảo và hội nghị, các chương trình thông tin và đào tạo...vv. Các tổ chức tư nhân (ngân hàng và các công ty bảo hiểm) cũng bắt đầu thực hiện các sáng kiến làm cho các loại nghệ thuật thị giác, kiến trúc, thiết kế, đạc biệt từ các khu vực trung và đông nam châu Âu, có thể dễ dàng tiếp cận với một bộ phận lớn dân chúng. Nhiều các lễ hội truyền thống được sự hỗ trợ lớn từ nhiều cấp chính quyền (bang, tỉnh và các thành phố). Nhờ phát triển các sáng kiến cho riêng ngành văn hóa, các hoạt động lễ hội tại Áo ngày càng phát triển: vào năm 2012, 78 lễ hội được tổ chức với 3507 buổi biểu diễn nghệ thuật tại các trung tâm khác nhau và 1,6 triệu du khách đã tham gia vào các lễ hội này. Vào năm 2012, 22 thành viên thuộc diễn đàn Liên hoan phim Áo đã tiếp đón 237.000 lượt du khách với khoảng 3000 bộ phim và 251 các sự kiện bên lề liên hoan phim.
3.4.5. Các cuộc đối thoại và hợp tác liên văn hóa với các nước láng giềng
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 6
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 7

Ngoài các mạng lưới và quan hệ đối tác như hiện nay, Áo đã tham gia vào 15 chương trình trong cơ cấu hoạt động khung của Quỹ Cơ cấu liên minh châu Âu 2007-2013. Các chương trình này bao gồm 7 chương trình giữa các vùng biên giới, 3 chương trình liên quốc gia và 4 chương trình hợp tác liên khu vực. Hơn hết là chương trình quốc gia và 8 chương trình cấp tỉnh về tăng cường tính cạnh tranh và cơ hội việc làm cũng như hai chương trình lệch pha nhằm mục đích hội tụ đầy đủ tại Burgenland, mỗi một chương trình được cấp kinh phí hoạt động từ Quỹ Xã hội châu Âu (ESP) hoặc Quỹ Phát triển khu vực châu Âu (ERDF). Một loạt các dự án phát triển nghệ thuật và văn hóa được công nhận trong cơ sở hoạt động của các chương trình này, tất cả các dự án liên tỉnh và đa quốc gia trong quá trình hợp tác với các nước láng giềng.
4. Các vấn đề về phát triển chính sách và các cuộc tranh luận
4.1 Các vấn đề và ưu tiên hàng đầu phát triển chính sách văn hóa
Những vấn đề trọng tâm về hỗ trợ phát triển nghệ thuật và văn hóa trong bối cảnh hiện nay được đề cập đến trong chương trình hành động của chính phủ giai đoạn 2013-2018.
Các khía cạnh, mục tiêu, thách thức và các biện pháp chính được mô tả như sau:
Mục tiêu 1: Đảm bảo sự phát triển nghệ thuật và văn hóa tại Áo trong thời gian dài
Thách thức: Cam kết của chính phủ về cấp vốn cho các hoạt động nghệ thuật và văn hóa, tự do nghệ thuật, đa dạng văn hóa, cân bằng giới tính trong các lĩnh vực này.
Biện pháp:
- Chi trả cho các hoạt động cần thiết đối của các bảo tàng Liên bang , Bảo tàng quốc gia Áo và nhà hát Liên bang  (với các mục tiêu chung về văn hóa, chính trị, tối ưu hóa bộ máy chính quyền với các hoạt động quản lý liên kết); thực hiện chương trình đầu tư cho các nhà hát Liên bang  và mở “tài khoản đầu tư văn hóa” cho toàn dân để huy động nguồn kinh phí cho hoạt động của các tổ chức nghệ thuật và văn hóa (ngoài các tổ chức Liên bang ) vì mục đích đẩy mạng sự phát triển của nền kinh tế; xem xét các khả năng tăng cường tính pháp lý của Chính phủ Liên bang   cho các khoản vay dài hạn đối với các bảo tàng Liên bang  và tăng khả năng trả nợ của các tổ chức này;
- Hỗ trợ về mặt tài chính (thông qua các hoạt bảo trợ, tài trợ), khấu trừ thuế được dành riêng cho các hoạt động bảo tồn khu di tích nằm trong danh sách các di sản cần được bảo tồn và có thể dễ dàng được người dân tiếp cận, tìm hiểu về các hoạt động nghệ thuật của các nghệ sĩ đương thời (giới hạn về số tiền);
- Hiện đại hóa các phương tiện bảo tồn các khu di tích lịch sử và các lăng tẩm (theo luật Liên bang  Áo đã được sửa đổi về bảo tồn các khu lăng tẩm) và xây dựng cơ sở trùng tu, lưu trữ ngầm đối với Bảo tàng quốc gia Áo.
Mục tiêu 2: Ưu tiên phát triển nghệ thuật đương đại
Thách thức: Tạo tham số tài chính dài hạn cho các nhà nghệ thuật, các lễ hội và các tổ chức văn hóa. Phát triển các hoạt động sáng tạo nghệ thuật đương đại, nền nghệ thuật hiện nay.
Phương pháp:
- Chi phí cho các hoạt động nghệ thuật đương đại theo cách đã được xác định rõ trong giới hạn tài chính cho nghệ thuật và văn hóa của chính phủ;
- ưu tiên thực hiện các sáng kiến phát triển văn hóa khu vực, văn học, âm nhạc, kiến trúc, nghệ thuật cho giới trẻ, sự tiến bộ của phụ nữ trong các lĩnh vực này;
- phát triển Áo như một trung tâm điện ảnh và âm nhạc: tuân theo Hiệp định giữa ngành truyền hình và điện ảnh với việc đảm bảo sự cân bằng về số lượng kinh phí cho các hoạt động của cả hai ngành như hiện nay; thành lập Trung tâm pháp triển điện ảnh Áo (FISA); tăng số lượng phim Áo và các hoạt động sản xuất phim liên quan đến sự ra đời Công ty phát thanh Áo (ORF); tăng các nguồn cho tạo kinh phí xây dựng các bộ phim truyền hình; thực hiện cam kết của ORF về hỗ trợ các hoạt động âm nhạc Áo; tăng cường sản xuất âm nhạc, quảng bá và các hoạt động mua bán trên thị trường âm nhạc;
Mục đích 3: Phát triển giáo dục văn hóa
Thách thức: Khuyến khích tất cả mọi người tiếp cận với các loại hình văn hóa và nghệ thuật trong mọi hoàn cảnh hoặc vị trí xã hội, tăng cường các sự tham gia của người dân trong các loại hình văn hóa cũng như sự ra đời của các tổ chức đoàn thể.
Biện pháp:
- tiếp tục thực hiện chính sách “Tự do tham gia tới 19 tuổi” áp dụng cho đối tượng vào tham quan tại các bảo tàng Liên bang  và Thư viện quốc gia Áo với các sáng kiến về phát triển giáo dục cho trẻ em và thanh niên; đưa ra các sáng kiến tăng cường sự hợp tác giữa các tổ chức văn hóa và giáo dục;
- thực hiện “kế hoạch phát triển thư viện Áo” bằng cách mở rộng mạng lưới thư viện hiện đại trên toàn quốc, chú trọng phát triển thông tin điện tử và đẩy mạnh các hoạt động số hóa đối với các thư viện;
- tăng cường các hoạt động giáo dục vào dịp kỷ niệm hoàn thiện dự án xây dựng “Tòa nhà lịch sử Áo” năm 2018 và cam kết trùng tu cũng như tích cực trong các hoạt động kỷ niệm ngày lễ văn hóa của quốc gia;
Mục đích 4: Chi trả công bằng cho các tác phẩm sáng tạo.
Thách thức: Xây dựng chiến lược chung liên quan đến các tài sản trí tuệ và tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho các nhà nghệ thuật.
Biện pháp:
- khai thác mọi tiềm năng của tài sản trí tuệ bằng cách phát triển và thực hiện chiến lược quốc gia về tài sản trí tuệ, tư vấn cho tất cả các tổ chức tham gia, đồng thời chú trọng đến phát triển mọi loại hình tài sản trí tuệ. Nâng cao nhận thức của người dân nói chung về bảo vệ bản quyền và chức năng của bản quyền. Đổi mới luật bản quyền và các điều khoản liên quan khác, đặc biệt chú trọng bảo vệ dữ liệu cũng như các lợi ích của khách hàng thuộc các công ty nghệ thuật và sáng tạo đang hoạt động tại Áo. Đưa luật bản quyền với các tác phẩm điện ảnh vào trong hệ thống tư pháp châu Âu; phân tích sự cần thiết của các điều khoản liên quan đến luật ký kết hợp đồng bản quyền; rà soát lại các điều khoản về xuất bản tài liệu số về các bộ sưu tập;
- tăng số lượng của các học bổng và giải thưởng, đổi mới chế độ bảo hiểm cho các nhà nghệ thuật.
Mục tiêu 5: Tăng sự hiện diện của Áo trên trường quốc tế  như một quốc gia giàu về nghệ thuật và văn hóa
Thách thức: Tăng cường và phát huy hơn nữa danh tiếng của Áo và vị thế trên trường quốc tế như một đất nước giàu  nghệ thuật và văn hóa.
Biện pháp:
- tăng khả năng linh động của các nhà nghệ thuật và đẩy mạnh các hoạt động trao đổi văn hóa ở trong khu vực châu Âu và trên toàn thế giới; cam kết phát triển nền nghệ thuật và văn hóa lớn mạnh hơn trong liên minh châu Âu và các chương trình phát triển của liên minh châu Âu;
- xây dựng chiến lược “Áo – đất nước giàu văn hóa” trong khuôn khổ của quá trình mở rộng đối tác và chiến lược này là một phần trong thực hiện dự án Thương hiệu quốc gia Áo – Sự nổi bật”
- khai thác triệt để các nỗ lực chung và tăng cường tính hiệu quả với các nguồn sẵn có cho sự hiện diện của Áo tại nước ngoài như một quốc gia giàu có về nghệ thuật và văn hóa;
- vào năm 2015, nhân dịp kỷ niệm 200 năm Quốc hội Vienna, Chính phủ Liên bang   sẽ tổ chức các sự kiện, các buổi thảo luận đặc biệt có sự tham gia của những người trẻ tuổi về tương lai của lục địa châu Âu.
4.2 Các vấn đề và các cuộc tranh luận về chính sách văn hóa
4.2.1 Các vấn đề lý luận về chính sách phát triển nghệ thuật:
Ở cấp Liên bang , nhiệm vụ của chính sách văn hóa phải được Cục Nghệ thuật, Cục Văn hóa thuộc Văn phòng thủ tướng Liên bang  thực hiện. Bộ đẩy mạnh sự phát triển của nghệ thuật đương đại tại Áo cũng như các nhà nghệ thuật Áo tại nước ngoài, đồng thời cũng chịu trách nhiệm về các chương trình cung cấp kinh phí cho hoạt động văn hóa ở cấp Liên bang  đối với mọi loại hình nghệ thuật đương đại gồm nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật dân gian, âm nhạc, văn học, điện ảnh, truyền thông mới, nhiếp ảnh, kiến trúc và thiết kế cũng như các sáng kiến phát triển văn hóa khu vực. Dựa trên quan điểm mở về nghệ thuật và văn hóa, nhiệm vụ của Cục Văn hóa là trung hòa giá trị hữu hình và vô hình của văn hóa, tăng cường các điều kiện tham gia văn hóa cho một bộ phận lớn người dân, liên tục đảm bảo và cải thiện các điều kiện làm việc trong lĩnh vực văn hóa. Các nhiệm vụ khác là hỗ trợ các tổ chức văn hóa Liên bang , bảo vệ lăng tẩm và di sản văn hóa, các vấn đề về trùng tu cũng như chính sách văn  hóa của liên minh châu Âu và quốc tế.
4.2.2 Các vấn đề và chính sách về di sản
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 8
Ảnh minh họa

Một số tổ chức văn hóa quan trọng nhất của quốc gia trong lĩnh vực di sản đã thực hiện quá trình thay đổi về cơ cấu tổ chức, cơ sở pháp lý, cơ cấu kinh tế. Cải cách quan trọng nhất là quyết định trao quyền pháp lý đầy đủ cho các bảo tàng Liên bang  và đưa các bảo tàng trở thành các tổ chức khoa học theo luật pháp quốc gia – một bước tiến quan trọng hướng tới trao nhiều quyền tự chủ hơn.
Một cuộc tranh luận về vấn đề tài chính và sự chồng chéo về nội dung giữa các bảo tàng Liên bang  với sự tham gia của nhiều chuyên gia, các đảng chính trị, giám đốc cac bảo tàng và đại diện giới truyền thông đã đưa đến một cuộc cải cách toàn diện đối với các bảo tàng Liên bang  năm 2010. Những chủ đề chính bao gồm chính sách bảo tàng quốc gia, chính sách quy hoạch và phát triển bộ sưu tập, các hoạt động quản lý. Các quy định về bảo tàng được rà soát và thay đổi, các hiệp định khung giữa các bảo tàng có hiệu lực.
Những điểm nhấn quan trọng trong quá trình thực hiện cải cách bảo tàng:
- tăng ngân sách cho các bảo tàng Liên bang  và Bảo tàng quốc gia Áo lên tới 150 triệu EUR;
- phát huy nét đặc trưng của các bảo tàng cá nhân và thiết lập những ưu tiên pháp triển hàng đầu;
- tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động của bảo tàng;
- tính minh bạch của các bộ sưu tập với mức độ tiếp cận dễ dàng với các bộ sưu tập;
- phát triển chiến lược thông tin số hóa đối với các bộ sưu tập;
- phát triển các chương trình liên quan đến vấn đề thời gian;
- bảo trợ hàng năm cho các dự án với sự tham gia của nhiều cá nhân;
- tất cả trẻ em và thanh niên đến 19 tuổi đều được tự do tham gia;
- các dự án phát triển trường học, liên kết các hoạt động giảng dạy của giáo viên, các chiến lược học tập lâu dài, đầu tư 600 000 euro cho 31 dự án phát triển nghệ thuật trong quá trình hợp tác với tổ chức phi chính phủ Kultur- Kontakt Áo trong lĩnh vực hợp tác phát triển văn hóa giáo dục;
- tăng cường phát triển nghệ thuật đương đại;
- mở rộng quy mô hoạt động của Bảo tàng nghệ thuật đương đại;
- mở rộng và tăng cường các cuộc nghiên cứu về hợp tác giữa các bảo tàng, ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế (sáng kiến đầu tiên: Vì sự phát triển của bảo tàng, một chương trình hỗ trợ trong nhiều năm với môn nghệ thuật ứng dụng và trường đại học Nghệ thuật ứng dụng );
- nghiên cứu về tính khả thi của một quan điểm mới về bảo tàng với nghệ thuật ứng dụng và trường đại học Nghệ thuật ứng dụng;
- các biện pháp khác: tổ chức thường kỳ các cuộc họp với Cục Văn hóa thuộc Văn phòng Thủ tướng  Liên bang  ; tổ chức các cuộc hội thảo với sự tham gia của các giám đốc các tổ chức nghệ thuật.
Trong khuôn khổ hoạt động tự do của trẻ em và thanh niên tham gia vào các bảo tàng Liên bang  và Thư viện quốc gia Áo được thực hiện vào năm 2010 với ngân sách 600000 euro trong quá trình liên kết với tổ chức phi chính phủ về văn hóa giáo dục KulturKontakt Áo, Bộ Giáo dục và Văn hóa trước đây đã bắt đầu một cuộc tấn công về giáo dục.
Ngoài ra, nguyên Bộ trưởng Bộ văn hóa đã phác thảo một kế hoạch chiến lược về đầu tư cho các bảo tàng Liên bang  đến năm 2013 với tổng số tiền 51,5 triệu euro, bao gồm ba dự án trọng điểm. Với ba dự án này và một dự án tái mở cửa Tòa nhà 21, một bảo tàng và triển lãm về nghệ thuật đương đại, bộ trưởng đã đặt mốc son mới cho sự phát triển của hệ thống bảo tàng Áo.
Với việc phê chuẩn hiệp định về Bảo tồn các di sản văn hóa vi vật thể của UNESCO năm 2003, Áo đã cam kết bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể của chính quốc gia này. Văn phòng quản lý các di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia trực thuộc Ủy ban UNESCO Áo được ủy thác thực hiện hiệp định và dự thảo hướng dẫn thực thi hiện định này trên phạm vi cả nước.
4.2.3. Các ngành công nghiệp văn hóa/sáng tạo: chính sách và chương trình
Năm báo cáo về các ngành công nghiệp sáng tạo đã được đưa ra ở cấp quốc gia cũng như nghiên cứu về các thành phố và các tỉnh. Tuy nhiên, các định nghĩa ở mỗi cấp và mỗi ngành khác nhau. Định nghĩa chung nhất hiện nay được rút ra từ nghiên cứu đầu tiên về các ngành công nghiệp sáng tạo, do Chính phủ Liên bang   dự thảo trong quá trình hợp tác với Viện nghiên cứu kinh tế Áo (WIFO). Các ngành công nghiệp sáng tạo theo đó sẽ bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến kiến trúc, nghệ thuật nghe nhìn (phim ảnh, video, truyền hình và truyền thanh), nghệ thuật dân gian và thị trường nghệ thuật, nghệ thuật biểu diễn và giải trí, nghệ thuật tạo hình, thiết kế thời trang, văn học, xuất bản, thông tin ấn phẩm, đa thông tin, các phần mềm trò chơi, mạng Internet, các bảo tàng và thư viện, ngành công nghiệp âm nhạc, quảng cáo.
Trong những năm gần đây, các chương trình hỗ trợ của các tổ chức tài chính khác nhau đã được thực hiện với các ngành công nghiệp sáng tạo. Các hoạt động hỗ trợ ở cấp Liên bang :
Sáng kiến “Đổi mới” nhằm tăng cường làm mới các ngành công nghiệp sáng tạo của Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang  trong quá trình hợp tác với Trung tâm đào tạo các nhà nghệ thuật và Ngân hàng tài trợ cho các công ty kinh doanh nghệ thuật với tổng ngân sách 25 triệu euro tới năm 2013. Sáng kiến “Đổi mới” cung cấp các dịch vụ giáo dục, đào tạo, tư vấn và tăng cường mạng lưới cũng như cung cấp nguồn tài chính thông qua chương trình “Sự thúc đẩy” đối với quá trình phát triển hoạt động chuyên môn và lần đầu tiên đưa các sản phẩm nghệ thuật của các công ty trong ngành nghệ thuật ra thị trường, các dự án thử nghiệm, các biện pháp nâng cao nhận thức.
Hiệp hội thời trang Áo là một trung tâm thông tin, hợp tác và cung cấp dịch vụ về thiết kế thời trang, kinh tế và văn hóa. Với  ngân sách hàng năm 100 000 euro từ các quỹ thuộc Văn phòng Thủ tướng  Liên bang   và thuộc thành phố Vienna, các giải thưởng nghệ thuật đã lên tới 8000 euro dành cho các nhà thiết kế thời trang trẻ trong khuôn khổ chương trình “Hỗ trợ AFA”. Mục đích của chương trình là tăng cường cơ hội việc làm. Các nhiệm vụ khác bao gồm tăng cường tính cạnh tranh của quốc gia, phát triển tính cộng đồng và nâng cao ý thức qua các hệ thống báo chí cũng như tăng cường sự hiện diện về mặt kinh tế trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
Kể từ năm 2004, một cuộc tấn công lớn trên phạm vi toàn cầu đối với các ngành công nghiệp sáng tạo cũng đã được phát động. Kể từ sau chiến dịch lớn này, gần 100 dự án quốc tế đồng tài trợ, hơn 1800 công ty Áo từ các ngành thiết kế, kiến trúc, âm nhạc, thời trang, nghệ thuật, đa thông tin, điện ảnh đã được tư vấn và được hỗ trợ triển khai tại 20 nước khác nhau tại năm châu lục. Các nhóm hoạt động nghệ thuật thuộc Trung tâm đào tạo các nhà nghệ thuật nằm dưới sự quản lý của Phòng Lao động Áo đã thể hiện những mối quan tâm của các ngành nghệ thuật ở cấp quốc gia, châu Âu và quốc tế. Mục đích của hoạt động này nhằm phát triển các ngành nghệ thuật tại Áo và tạo các mối liên kết với các ngành khác. Các hoạt động này bao gồm phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho sự thành công của các nhà nghệ thuật thông qua các dịch vụ cụ thể và mở rộng mạng lưới các công ty kinh doanh nghệ thuật và các đối tác trung gian; thể hiện được những mong đợi của các ngành nghệ thuật, cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức như một trung tâm thông tin, thực hiện các cuộc nghiên cứu và tăng cường khả năng thành công với những nét nổi bật trong ngành nghệ thuật.
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 9
Ảnh minh họa

Các sáng kiến quan trọng đối với các ngành nghệ thuật cũng được thực hiện ở cấp tỉnh Liên bang  và cấp thành phố: Kể từ năm 2003, “Sự đổi hướng- Cục Nghệ thuật thuộc thành phố Vienna” do Hội đồng thành phố Vienna sáng lập hoạt động như một trung tâm hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ kinh tế cho các công ty kinh doanh trong lĩnh vực nghệ thuật tại Vienna. Kể từ khi bắt đầu được thành lập, 402 dự án (trong tổng số 1751 hồ sơ) đã được trung tâm này hỗ trợ thực hiện với 76 chương trình khác nhau trong nguồn kinh phí 25,4 triệu euro chủ yếu trong các lĩnh vực thời trang, âm nhạc, đa thông tin, thiết kế, xuất bản, quảng bá nghệ thuật và kiến trúc. Vào năm 2014, trung tâm cũng như Cục thông tin thành phố Vienna (ZIT) sẽ liên kết với nhau trong Sở thương mại Vienna.
Tuần lễ thiết kế Vienna, lễ hội quốc tế được tổ chức từ năm 2006 đã tạo hành lang cho các nhà thiết kế trẻ có cơ hội thể hiện các ý tưởng của họ, đồng thời góp phần đổi mới quan hệ hợp tác giữa các ngành văn hóa, thiết kế và thương mại. Sự kiện này cũng góp phần làm cho thiết kế trở thành một nhân tố cạnh tranh quan trọng trong quá trình tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng.
Nhiều sáng kiến khác hỗ trợ các ngành nghệ thuật được thực hiện ở cấp tỉnh nhằm mục đích đẩy mạnh sự phát triển của các ngành nghệ thuật trong khu vực và liên kết với các ngành, thương mại và dịch vụ khác.
Dự án “VINCE – Phiếu quà tặng trong các ngành nghệ thuật” được thực hiện tại Salzburg, một trong bốn khu vực thử nghiệm của liên minh châu Âu vào tháng 9 năm 2012. Đây là một dự án thử nghiệm của Liên minh các ngành nghệ thuật châu Âu do Trung tâm dịch vụ nghệ thuật Áo thực hiện với đối tượng là 20 công ty kinh doanh nghệ thuật ở quy mô vừa và nhỏ với số tiền hỗ trợ 5000 euro để hoàn tất quá trình thực hiện các kế hoạch đổi mới. Dự án này được liên minh châu Âu và Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang  đầu tư thực hiện.
Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang  thông qua cơ cấu phân bổ ngân sách và trao cho các doanh nghiệp Áo 300 phiếu quà tặng. Do nhu cầu rất lớn ngay sau khi tiến hành dự án, ngân sách đã được nhân lên gấp đôi với 600 phiếu quà tặng vào năm 2013.
Kể từ năm 2009, sáng kiến của Phòng thương mại Áo/Các ngành nghệ thuật Áo đã được thực hiện với tên gọi Kho nghệ thuật.
Trên cơ sở dữ liệu điện tử, các tác phẩm thuộc tất cả các lĩnh vực (ví dụ, nhiếp ảnh, thơ, đăng nhập các trang mạng, các phần mềm dữ liệu mở ...vv) có thể được lưu giữ nhằm mục đích bản quyền của các tác phẩm này luôn sẵn có và được bảo vệ. Sáng kiến Kho nghệ thuật giúp thực hiện các chức năng phác họa tác phẩm cho cộng đồng, mã công việc nhất định, cấp phép đạt tiêu chuẩn, đường dẫn ổn định cho công việc và các hoạt động cấp phép, tạo thời điểm mã hóa dư liệu số, các chức năng đánh giá và lựa chọn hình thức quảng bá.
Vào năm 2012, các sáng kiến thiết kế quan trọng nhất của Áo cùng góp phần tạo hành lang cho mở trang Thiết kế qua mạng. Mục đích của thực hiện các sáng kiến này là đưa nền thiết kế Áo gia nhập vào các sự kiện quốc tế và quan trọng hơn là tạo mạng lưới liên kết các hoạt động quốc tế hiệu quả hơn. Hành lang này đã nhận được sự ủng hộ của Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang , Bộ công thương Áo và Trung tâm dịch vụ nghệ thuật Áo.
Lĩnh vực được Bộ Văn hóa chú trọng hiện nay là sự hỗ trợ cho ngành điện ảnh. Nhằm mục đích tăng cường quảng bá thế hệ mới trong ngành điện ảnh, văn phòng hợp tác thuộc Sở Điện ảnh, Cục Nghệ thuật thuộc văn phòng Thủ tướng Liên bang   cùng với Viện điện ảnh Áo (OFI) hoạt động như đầu mối trung gian, liên kết các hoạt động phát triển cơ cấu quảng bá trên khắp cả nước cho các thế hệ mới trong ngành điện ảnh.
Một công cụ khác giúp tăng cường sự phát triển của ngành công nghiệp điện ảnh Áo được đưa ra vào năm 2011 với sáng kiễn hỗ trợ Trung tâm làm phim Áo (FISA) do Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang  thực hiện nhằm phát triển hoạt động sản xuất phim truyền hình. Cho đến năm 2012, chương trình được cấp vốn hoạt động lên tới 20 Mio.Euro. FISA hiện nay đã mở rộng hoạt động vào cuối năm 2014 với ngân sách hàng năm 7,5 triệu Euro.
Nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa điện ảnh và truyền hình, Hiệp định giữa ngành điện ảnh và truyền hình được thực thi với hai đối tác Viện điện ảnh  Áo và Công ty truyền thông Áo lần đầu tiên được ký kết vào năm 1981. Mục đích của hiệp định này cung cấp sự hỗ trợ đặc biệt cho hoạt động quảng bá các bộ phim Áo. Với việc sửa đổi Hiệp định giữa ngành điện ảnh và truyền hình vào năm 2011, ngân sách hàng năm cho ngành công nghiệp điện ảnh Áo tăng từ 5,9 triệu euro trong năm trước lên tới 8 triệu euro mỗi năm. Ủy ban bao gồm các thành viên của Viện điện ảnh (OFI) và ORF quyết định về việc phân bổ  ngân sách hoạt động. Các nhà làm phim có thể đưa ra những yêu cầu về cấp vốn cho các hoạt động làm phim.
4.2.4.  Chính sách đa dạng và hội nhập văn hóa
Vào năm 1976, Chính phủ Liên bang  đã thông qua luật mới về quyền của các nhóm dân tộc bản xứ tại Áo (Luật các nhóm dân tộc), quy định cơ bản về quyền của các nhóm dân tộc theo điều 7 thuộc Hiệp ước quốc gia 1955. Năm nhóm  sau này mở rộng thành sáu nhóm  và đã được công nhận là dân tộc thiểu số tại năm khu vực khác nhau của Áo. Vào năm 1992, Người La mã (sống ở tất cả 9 bang) trở thành cộng đồng dân tộc thiểu số được công nhận gần đây nhất. Hiện nay cũng có các cuộc tranh luận giữa các nhóm dân tộc được công nhận về quan điểm rằng các điều khoản quy định về bảo tồn di sản văn hóa của mỗi dân tộc không được áp dụng và thực thi một cách phù hợp.
Theo các số liệu thông kê từ Cục thống kê Áo, sự bùng nổ của các nhóm dân tộc thiểu số tại Áo bắt đầu từ năm 2013.
Không có con số chính thức nào được đưa ra về người La mã đang sinh sống tại Áo; số lượng người dân thuộc nhóm này chỉ có thể dự đoán.
Hiện nay, tại Áo cũng có những nhóm người dân di cư khác. Các nhóm văn hóa mới – những người nhập cư không chính thức được công nhận như các nhóm dân tộc thiểu số và vì vậy không được nhận sự hỗ trợ hoặc được hưởng những quyền lợi hợp pháp như các nhóm đã được công nhận. Tuy nhiên, sự hỗ trợ về mặt tài chính cho các hoạt động văn hóa vẫn được cung cấp cho các nhóm nay thông qua ngân sách văn hóa hàng năm tại các cấp tỉnh, khu vực và quốc gia.
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 10
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 11

Bộ quản lý các nhóm dân tộc thiểu số trực thuộc văn phòng Thủ tướng Liên bang   chịu trách nhiệm về hỗ trợ các hoạt động văn hóa của các nhóm dân tộc thiểu số. Về cơ bản, các tổ chức, các liên minh, các quỹ có nhiệm vụ phải cung cấp kinh phí hoạt động cho các dự án dành riêng cho các nhóm dân tộc thiểu số cũng như các nhà thờ, cộng đồng tôn giáo khác nhau và các tổ chức tôn giáo. Với ngân sách 3,93 triệu euro, các nhóm dân tộc thiểu số vẫn được duy trì ngân sách hỗ trợ như nhau kể từ năm 1995.
Vào năm 2001, chính phủ đã ký Nghị định thư châu Âu về ngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc khu vực. Vào năm 2006, Áo đã ký kết hiệp ước với UNESCO về Bảo tồn và tăng cường đa dạng các hoạt động văn hóa. Kể từ năm 2004, Ủy bán đa văn hóa ra đời với sự tham gia của các thành viên thuộc Hội đồng thường trực UNESCO tại Áo, đại diện của các nhóm dân tộc thiểu số và các tổ chức văn hóa, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia về nghiên cứu chính sách văn hóa, các bộ, các tỉnh, phân tích quá trình thực hiện hiệp ước tại Áo.
Sở Hội nhập và Đa văn hóa trực thuộc Hội đồng thành phố Vienna chịu trách nhiệm về quản lý các nhóm di cư và hỗ trợ các tổ chức này trong quá trình thực hiện quản lý các nhóm dân tộc thiểu số. Các hoạt động quản lý liên kết và đa văn hóa tại Vienna bắt đầu được thực hiện vào năm 2008, với báo cáo đầu tiên được đưa ra vào năm 2010 so sánh với báo cáo thứ hai vào năm 2012 khi những thay đổi và sự chuyển đổi được thực hiện một cách rõ ràng, các hoạt động phát triển và những thách thức cho xã hội, chính sách, chính trị và các hoạt động quản lý cũng đã được chú trọng.
4.2.5. Các vấn đề và chính sách về ngôn ngữ:
Ngôn ngữ chính được sử dụng tại Áo là tiếng Đức. Các ngôn ngữ khác được đề cập đến trong Luật Các nhóm dân tộc là tiếng Croatia và tiếng Hungary (phổ biến ở Burgenland) và Slovene (phổ biến ở Carinthia). Tại Burgenland, ngôn ngữ được sử dụng trong trường học phụ thuộc vào số lượng học sinh nói ngôn ngữ thứ hai. Tiếng Hungary ở cấp tiểu học được sử dụng với bộ phân người dân Hungary tại Burgenland.  
4.2.6. Đa dạng nội dung và nguồn thông tin
Kể từ sự sụp đổ chế độ độc tài của Tập đoàn truyền thông Áo (ORF), ngành truyền thông Áo hoạt động trên ba lĩnh vực:
- Quảng cáo và báo chí;
- Ngành kinh doanh lợi nhuận của tư nhân (đài phát thanh, truyền hình và xuất bản);
- ngành truyền thông không lợi nhuận (đài phát thanh miễn phí, báo chí trong lĩnh vực văn hóa...vv);
Tập đoàn truyền thông Áo là tổ chức công và nhà cung cấp dịch vụ truyền thông lớn nhất tại Áo.  OFR sản xuất bốn kênh truyền hình, ba kênh truyền hình quốc gia và chín kênh đài phát thanh khu vực. Ngoài ra, đây là cổ đông lớn nhất trong Cục báo chí Áo (APA).
Vai trò của kênh truyền hình quốc gia là trọng tâm của các cuộc tranh luận diễn ra trong nhiều năm nay. Nhiệm vụ phát triển văn hóa của OFR không thay đổi ngoài việc các tổ chức tham gia khác nhau sẽ đánh giá khác nhau về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của OFR.
Các hoạt động cấp phép cho các công ty truyền thông tư nhân trên khắp cả nước được thực hiện thông qua luật Truyền hình tư nhân (2001). Các hoạt động cấp phép cho các đài phát thành khu vực và địa phương thông qua luật Đài phát thanh tư nhân (2001, sửa đổi năm 2004). Đặc điểm chính của ngành truyền thông Áo là sự tập trung vào ngành báo chí, một trong những lĩnh vực được thế giới đánh giá cao nhất.
Cục quản lý thông tin Áo chịu trách nhiệm về các hoạt động bảo trợ ngành báo chí như Ban quản lý các tổ chức sưu tập thông tin”. Cục trợ cấp đặc biệt cho duy trì sự đa dạng của các loại hình thông tin báo chí trong khu vực và số lượng các câu lạc bộ báo chí, các cơ sở đào tạo và các tổ chức đào tạo nghiệp vụ báo chí trong nước.
Trong ngành thông tin phi lợi nhuận, đáng chú ý nhất là Đài tiếng nói tự do Áo: gồm 15 đài phát thanh hiện đang hoạt động với số lượng hơn bốn triệu khán giả với 3000 nhân viên – hầu hết họ không được trả lương khi thực hiện các chương trình được yêu cầu rất cao với 25 ngôn ngữ được sử dụng. Đài tiếng nói tự do Áo đã nhận được nhiều giải thưởng.
4.2.7. Đối thoại liên văn hóa giữa các ngành, các chiến lược và chương trình
Tại Áo, các cuộc đối thoại liên văn hóa thường được sử dụng trong bối cảnh liên kết các mối quan hệ ngoài ngành văn hóa, các sự kiện, các dự án hợp tác...vv (không chỉ trong lĩnh vực văn hóa). Tại Áo, các vấn đề về di cư và hội nhập văn hóa rất phức tạp và thường gây tranh cãi giữa các ngành khác nhau vì sự bất đồng về những lợi ích và dẫn đến quá trình hội nhập văn hóa trên cở sở vì liên kết và sự đồng lòng, các chính sách đối với người di trú ngày càng trở nên khó khăn.
Mặc dù Áo là quốc gia của người dân nhập cư, chính sách về nhập cư và liên kết văn hóa còn nhiều hạn chế.
Luật và các quy định đã phân biệt rõ ràng các công dân Áo/thuộc liên minh châu Âu và công dân thuộc nước thứ ba. Điều này đã khiến cho quá trình thực hiện liên kết về xã hội và chính trị ngày càng khó khăn hơn.
Nhìn chung, người dân nhập cư đến từ các nước không thuộc liên minh châu Âu chịu nhiều thiệt thòi trên thị trường lao động cũng như trong hệ thống giáo dục Áo. Đồng thời họ có nguy cơ rơi vào tình trạng nghèo đói cao gấp hai lần so với bộ phận dân số khác.
Trong cơ cấu khung của “Hành động quốc gia về liên kết”, nguyên Bộ trưởng Bộ Hội nhập văn hóa đã chỉ ra các yếu tố đánh giá quá trình hòa hợp văn hóa và thực hiện các hoạt động quản lý lâu dài nhằm giảm căng thẳng trong các cuộc thảo luận và xác định sự phát triển đa chiều của quá trình hòa hợp giữa các nền văn hóa tại Áo.
Liên quan đến lĩnh vực văn hóa-  ngoài các dự án cá nhân và tăng cường sự đa dạng văn hóa trong các chiến lược và luật – cho đến nay, không có bất kỳ chương trình nhất quán liên kết giữa các đối thoại liên văn hóa. Các khoản tiền trợ cấp cho các dự án đa văn hóa được thực hiện thông qua các cấp chính quyền (bang, Liên bang , địa phương). “Tăng cường đa dạng văn hóa” là một trong những kiến nghị của chính phủ. Đây cũng là mục tiêu của Luật hỗ trợ văn hóa bang Styria và Carinthia và cũng được đưa vào trong các chiến lược văn hóa ở cấp địa phương (các tỉnh, thành phố trực thuộc Salzburg và Linz). Tuy nhiên, sự hiện diện của người dân di cư như những người tiêu dùng và các nhà sản xuất văn hóa vẫn còn ở mức độ thấp tại Áo.
Thực tế, các nhà hoạt động chính trong lĩnh vực văn hóa đã đưa ra các sáng kiến ở quy mô nhỏ hơn và các tổ chức văn hóa với nỗ lực phản ánh các hoạt động trải nghiệm văn hóa của người dân tại Áo.
Nâng cao nhận thức về sự cần thiết của tăng cường các cuộc đối thoại văn hóa đã góp phần dẫn đến sự ra đời của nhiều sáng kiến nhằm hỗ trợ hoạt động này. Trong bối cảnh văn hóa quốc tế giai đoạn 2011-2014, Bộ châu Âu, Hội nhập và Ngoại giao đã tập trung vào các cuộc đối thoại giữa văn hóa và tôn giáo.
4.2.8.  Liên kết xã hội và các chính sách văn hóa 
Chỉ trong những năm gần đây, liên kết xã hội nhìn chung đã trở thành một vấn đề đáng quan tâm ở Áo – một trong những quốc gia giàu nhất châu Âu – không chỉ bởi vì nguy cơ đói ngèo tại quốc gia này cũng ngày càng tăng. Nhìn chung, năm năm trở lại đây chứng kiến sự suy giảm vai trò của những nhân tố làm ổn định xã hội như “tính liên kết xã hội”, góp phần làm giảm sự mất cân bằng trong nhiều thập kỷ qua.
Ngăn chặn và giảm nghèo cũng như giảm ssự mất cân bằng xã hội là các mục tiêu chính của chính sách xã hội và phúc lợi ở cấp quốc gia cũng như liên minh châu Âu. Một mục tiêu trong chiến lược phát triển của liên minh châu Âu đến năm 2020 là giảm số lượng người nghèo.
Để đạt được mục tiêu quốc gia đến năm 2018, hơn 110000 người cần phải thoát khỏi cảnh đói nghèo.
Khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo tiếp tục tăng lên. Phản ánh thực trạng này, các mạng lưới và hành lang như Diễn đàn xã hội  Áo, Liên bang  công nhân bang Smatia, Catia và các bang khác tiến hành tổ chức Hội thảo về Giảm nghèo kể từ năm 2000. Hội thảo này có sự đóng góp của các nghiên cứu về xuất thân, lý do, dữ liệu và các con số thống kế cũng như chi tiết các chiến lược và biện pháp chống đói nghèo và sự tước đoạt quyền xã hội tại Áo nhằm cải thiện điều kiện sống cho một bộ phận dân số nghèo.
Tại Áo, không có các chương trình liên kết cấp quốc gia giữa các hoạt động hội nhập xã hội và văn hóa. Các quỹ, khoản trợ cấp, các giải thưởng bằng tiền mặt cũng như tiền từ các dự án là những nguồn hỗ trợ chính cho các hoạt động nghệ thuật.
Quỹ bảo hiểm xã hội dành cho nhà nghệ thuật hoạt động hiệu quả từ năm 2000 chỉ đáp ứng chi trả nhu cầu xã hội cơ bản trong phạm vi cụ thể (lương hưu); hơn nữa, các nhà nghệ thuật với thu nhập thấp không được hưởng bảo hiểm xã hội. Thông qua nghiên cứu “Tình hình xã hội đối với các nhà nghệ thuật Áo” (2008) sự cấp thiết của các hoạt động thực tiễn ngày càng trở nên rõ ràng. Các bộ chịu trách nhiệm đưa ra các giải pháp. Đại diện cho lợi ích của các nhóm nghệ thuật yêu cầu thu nhập cơ bản không kèm theo các điều kiện dành cho các nhà nghệ thuật.
Sáng kiến “Khát khao nghệ thuật và văn hóa” được xây dựng thông qua “Hội thảo về giảm nghèo” như đã được đề cập ở trên và Nhà hát Vienne vào năm 2003. Trong khi hơn 500 tổ chức văn hóa trên khắp nước Áo tạo cơ hội miễn phí cho những người thất nghiệp (thông qua thẻ văn hóa” và cho những người có thu nhập thấp hơn.  
Tỉ lệ lao động tình nguyện khá cao tại Áo. Theo nghiên cứu trên quy mô quốc gia vào năm 2009, 44% người dân Áo trên 15 tuổi tham gia vào các công việc tình nguyện đặc biệt trong các lĩnh vực hỗ trợ các nước láng giềng, các dịch vụ xã hội và văn hóa, giải trí.
4.2.9. Các chính sách việc làm trong ngành văn hóa
Theo các số liệu thống kê trong ngành văn hóa vào năm 2011, khoảng 124000 người làm việc trong lĩnh vực văn hóa, chiếm 3,6% tổng số việc làm tại Áo. Hầu hết những người làm việc trong ngành “Giáo dục”, “Nghệ thuật biểu diễn” và “Nghệ thuật nghe nhìn”.
48,5% phụ nữ làm việc trong ngành văn hóa, tỉ lệ này cao hơn so với mức trung bình là 46,5%. Đáng chú ý trình độ học vấn của những người làm việc trong lĩnh vực văn hóa cao hơn so với các ngành khác: 79,6 tốt nghiệp đại học và trung học (chiếm một phần ba tổng số nghề nghiệp). Ngoài ra, tỉ lệ lao động tự do trong ngành văn hóa cao hơn so với các ngành khác (13%). Trong ba năm qua, số lượng lao động tự do trong ngành văn hóa tăng gấp đôi. Các phương pháp tính toán khác nhau về cơ hội việc làm đã gây khó khăn cho việc đưa ra những nhận định về cơ hội việc làm trong các ngành sáng tạo, ngành hiện được xem cơ hội tốt nhất trên thị trường lao động tại Áo. Do đó, báo cáo về các ngành nghệ thuật trên khắp cả nước cho thấy vào năm 2010 có khoảng 38400 doanh nghiệp và 130500 công nhân hiện đang làm việc trong ngành lao động sáng tạo, tương đương với 10,4% trong toàn ngành kinh tế; hơn 40% doanh nghiệp đặt trụ sở tại Vienna.
4.2.10. Các chính sách văn hóa và cân bằng giới tính
Áo cam kết thực hiện chiến lược cân bằng giới xét về mặt chính trị và luật pháp. Nhóm thường trực liên bộ về cân bàng giới tính được thành lập bởi Bộ trưởng vì Phụ nữ nhằm thực hiện chiến lược này. Kể từ năm 2009, ngân sách dành cho vấn đề giới tính được đưa vào trong Hiến pháp Áo và tất cả các ban ngành phải thực hiện. Sự hỗ trợ về nghệ thuật và văn hoá của chính phủ được đưa vào trong Hiếp pháp kể từ năm 2007 theo các tiêu chuẩn về chi tiêu ngân sách cho vấn đề giới tính.
Trong các cơ quan quản lý, các cán bộ chịu trách nhiệm quản lý vấn đề giới tính trước đây sẽ có tên gọi khác “các cán bộ phụ trách xu hướng giới tính”. Không chỉ liên quan đến chính sách việc làm và cân bằng giới tính, chính sách quản lý xu hướng phát triển giới tính còn liên quan đến các hoạt động cải cách quá trình thực hiện các chính sách. Ngoài ra, khoảng cách về thu nhập giữa phụ nữ và nam giới vẫn ở mức cao tại Áo (thu nhập của phụ nữ thấp hơn nam giới 25%).
Vào năm 2010, Kế hoạch hành động quốc gia (NAP) về sự công bằng giữa năm giới và nữ giới trên thị trường lao động được thực hiện nhằm tạo những bước đi vững chắc. Bộ Giáo dục và vấn đề về phụ nữ đưa ra tính toán về mức lương so với mức lương trung bình theo tuần và theo tháng liên quan đến một ngành hoặc một nhóm nghề nghiệp. Mục đích của sự tính toán này tạo sự công bằng và tính minh bạch về mức lương giữa của phụ nữ và nam giới.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện với mục đích điều tra về tình hình phụ nữ trong ngành nghệ thuật và văn hóa như chi trả ngân sách cho vấn đề giới tính, cân bằng giới tính và nghề nghiệp của phụ nữ trong ngành văn hóa và nghệ thuật sáng tạo.
Tình hình trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa cũng giống các ngành khác trong xã hội. Các biện pháp cải thiện tình hình cũng được đề cập đến trong báo cáo về vấn đề cân bằng giới tính trong lĩnh vực văn hóa. Liên quan đến ngân sách cho vấn đề giới tính, kể từ năm 2007, báo cáo nghệ thuật hàng năm của Liên bang  đã xác định việc phân bổ các học bổng, các hoạt động mua bán và các giải thưởng theo giới tính, sự phân bổ theo các ngành, sự phân bổ về nhiệm vụ và các thành viên trong ban hội thẩm. Mục đích của phương thức cân bằng các khoản tiền chi trả do Cục Nghệ thuật thuộc Văn phòng thủ tướng Liên bang  thực hiện gần như đã đạt được.
Các mối quan hệ giới tính sẽ ghi nhận qua các tài liệu thậm chí khi các đơn xin việc bị từ chối và các hồ sơ xin học bổng và ngành công nghiệp điện ảnh trong tương lai cũng sẽ được phân loại dựa trên giới tính. Các tổ chức nghệ thuậtcũng đang nỗ lực tăng tỉ lệ phụ nữ trong các ban quản lý và các hội đồng chủ tịch. Chương trình Giải thưởng nữ nghệ sỹ xuất sắc trong lĩnh vực văn hóa và các chương trình đào tạo chuyên gia nghệ thuật dành cho nữ giới với ý tưởng chính là trao đổi kinh nghiệm giữa các nữ nghệ sỹ giàu có tuổi và giàu kinh nghiệm với lớp nghệ sỹ trẻ hơn đã được thực hiện ở cấp bang.
Các cặp đôi trong đào tạo (thầy-trò) được thiết lập trong các ngành nghệ thuật video và truyền thông, nghệ thuật dân gian, thời trang, nhiếp ảnh nghệ thuật, điện ảnh và văn học.
4.2.11. Các kỹ thuật mới và số hóa trong ngành nghệ thuật và văn hóa
Tại Áo, Cục Thông tin thuộc Văn phòng Thủ tướng Liên bang   chịu trách nhiệm liên kết “Chương trình nghị sự về số hóa khu vực châu Âu”, do Ủy ban châu Âu đưa ra vào năm 2010. “Chương trình nghị sự về số hóa khu vực châu Âu” đề xuất những biện pháp giải quyết các vấn đề văn hóa và nghệ thuật nghe nhìn và các biện pháp này hiện cũng đã được thực hiện ở Áo: ví dụ, tiến hành số hóa tài liệu của thư viện điện tử liên minh châu Âu, số hóa nội dung và hỗ trợ hoạt động số hóa của rạp chiếu phim, áp dụng các tiêu chuẩn đã được số hóa và tạo sự vượt trội về mặt thông tin cũng như đưa ra các sáng kiến về tài sản trí tuệ liên kết với thông tin điện tử.
Bộ Giáo dục và những vấn đề về phụ nữ cũng tập trung vào đổi mới bộ máy truyền thông: Chương trình nghị sự số hóa trong ngành giáo dục, nghệ thuật và văn hóa nhằm mục đích sử dụng một cách hiệu quả, ổn định và có tính hệ thống các nguồn thông tin và kỹ thuật thông tin hiện đại trong lĩnh vực giáo dục, nghệ thuật và văn hóa. Do vậy, di sản văn hóa và nghệ thuật của Áo được trưng bày theo phương thức cập nhật thường xuyên dù ở địa điểm nào, được chuyển đổi và bảo tồn cho các thế hệ tương lai. Trong quá trình liên kết với Phòng quản lý lăng tẩm Liên bang , “Hệ thống thông tin quản lý lăng tẩm” (DEMIS) sẽ được áp dụng nhằm đảm bảo quá trình lưu trữ và tính sẵn có của các nguồn tài liệu về lăng tẩm tại Áo. Sáng kiến của Cục văn hóa thuộc Văn phòng Liên bang  và Bộ Khoa học, Nghiên cứu và Kinh tế Liên bang  (BMWFW), đưa ra cách tiếp cận tập trung vào các nguồn tài liệu đã được số hóa về di sản văn hóa của Áo. Tuy nhiên, Cục Nghệ thuật thuộc Văn phòng thủ tướng Liên bang  cũng nhận thấy rõ một trong những nhiệm vụ chính là tăng cường phát triển nghệ thuật đương đại tại Áo cũng như sự hiện diện của các nhà nghệ thuật Áo tại nước ngoài. Tài liệu dưới dạng toàn văn và tài liệu ảnh vì thế được lưu giữ trong các bảo tàng, thư viện và các kho lưu trữ dưới dạng số hóa và các cơ sở dữ liệu dưới dạng ảnh và bộ sưu tập ảnh của Chính phủ Liên bang   cũng đã được thiết lập.
Hơn nữa, Bộ Giáo dục và những vấn đề về phụ nữ đã thực hiện các dự án dành cho trường học nhằm tăng cường sự hợp tác giữa bảo tàng và các trường học thông qua sử dụng các kỹ thuật mới.
Bảo tàng quốc gia cùng với Google sẽ số hóa toàn bộ tài liệu thư viện dưới dạng toàn văn (600000 tác phẩm) từ thế kỷ 16 đến 19 và dễ dàng truy cập qua mạng. Với thư viện, đây là cơ hội hiếm có trong khi các nhà phân tích lo ngại rằng dự án trọng điểm như vậy khi trao quyền tự do cho các cá nhân dần sẽ rời vào tình trạng vi phạm bản quyền và với dự án này, tính thương mại kinh tế trong lĩnh vực nghệ thuật thông qua đối tác thứ ba không cần quan tâm đến tác giả sẽ trở nên rõ ràng. Vượt xa dự án trọng điểm này, “Tầm nhìn 2025”, thư viện quốc gia Áo đã xác định mục đích của số hóa hàng triệu quyển sách và các tài liệu khác trong các kho dự trữ và tập trung vào thu thập các tài liệu điện tử trong tương lai.
Nhà hoạt động chính trong lĩnh vực truyền thông và các loại hình nghệ thuật số hóa là Trung tâm dữ liệu số hóa tại Linz với việc tổ chức hàng năm một trong những lễ hội quan trọng nhất với sự có mặt của các ngành văn hóa, thông tin mới, chính trị và xã hội ở châu Âu. Trong lĩnh vực truyền thông nghe nhìn, các hoạt động số hóa cũng được tập trung.
Ngoài các chương trình nghị sự chính thức về số hóa và sử dụng nguồn thông tin mới, nhiều sáng kiến khác nhau liên kết các ngành nghệ thuật, văn hóa, thông tin mới, kỹ thuật thông tin đã được thực hiện tại Áo. Mỗi sáng kiến chính là một đại diện của nhóm lợi ích của công chúng, truyền thông, chính trị và quản lý, đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ trong việc nâng cao nhận thức của người dân về tính liên kết xã hội của các mạng lưới thông tin điện tử với sự phát triển một nền văn hóa theo hướng dân chủ, đảm bảo sự công bằng trong xã hội.
 
5. Các quy định của pháp luật trong lĩnh vực văn hóa
5.1. Các quy định chung của pháp luật
5.1.1. Hiến pháp
Nỗ lực đánh giá về sự phổ biến của các quy định pháp luật trong ngành văn hóa tại Áo bị hạn chế bởi hai yếu tố. Thứ nhất, Áo là một quốc gia Liên bang với Chính phủ Liên bang  độc lập; tính độc lập này được phản ánh trong phân công trách nhiệm đối với các lĩnh vực văn hóa của Chính phủ Liên bang. Thứ hai, Hiến pháp Liên bang Áo không đề cập chi tiết đến các ngành nghệ thuật và văn hóa. Các điều khoản pháp luật quy định đối với ngành văn hóa không được đề cập trong văn bản hoàn chỉnh của Luật Văn hóa, đồng thời cũng không được thu thập một cách có hệ thống. Vì vậy, các quy định liên quan đến ngành văn hóa được đề cập đến trong toàn bộ hệ thống luật pháp.
5.1.2. Sự phân chia quyền lực pháp lý
Điều 15, phần 1 Luật Hiến pháp Liên bang nêu rõ tất cả các vấn đề không thuộc trách nhiệm xử lý của chính phủ quốc gia sẽ được giao cho Chính phủ Liên bang trong đó có vấn đề văn hóa. Tuy nhiên, trong điều 10, trách nhiệm giải quyết các vấn đề như các kho lưu trữ về khoa học và kỹ thuật, các thư viện, các bộ sưu tập nghệ thuật và khoa học, các cơ quan Liên bang  trong lĩnh vực nghệ thuật (bảo tàng Liên bang , bảo tàng quốc gia), các nhà hát Liên bang, các khu lăng tẩm lịch sử, các tổ chức tôn giáo, các quỹ được trao cho chính phủ quốc gia. Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm bảo tồn các làng và trị trấn, các quỹ và tổ chức do Chính phủ Liên bang làm chủ, các nhà hát, rạp chiếu phim, các sự kiện, di sản, nghệ thuật truyền thống và dân gian. Tuy nhiên, theo điều 17, Luật Hiếp pháp Liên bang, chính phủ quốc gia và Chính phủ Liên bang với vai trò là người ủng hộ Luật dân sự không bị giới hạn về quyền lực do sự phân bổ quyền hạn nói trên.
5.1.3. Sự phân bổ ngân sách quốc gia
Luật Quảng bá nghệ thuật Liên bang được thông qua vào năm 1988 (sửa đổi vào năm 1997 và năm 2000) quy định ngân sách Liên bang phải bao gồm các quỹ cơ bản cho phát triển nghệ thuật với công chúng và điều kiện xã hội của các nhà nghệ thuật và cơ sở hoạt động chung nhằm đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tư nhân. Luật quy định rằng quá trình quảng bá phải được thực hiện trực tiếp đối với loại hình nghệ thuật đương đại khi tạo sự thay đổi về tinh thần và đa dạng hóa loại hình nghệ thuật này, liệt kê các lĩnh vực được hỗ trợ theo phương thức sản xuất, trưng bày, quảng bá, bảo tồn các tác phẩm và các tài liệu. Luật cũng liệt kê các biện pháp mang tính cá nhân có thể được thực hiện (các quỹ, trợ cấp, thu nhận, khoản vay, ủy nhiệm, các giải thưởng).
Các chỉ dẫn thực hiện trao giải thưởng theo Luật quảng bá nghệ thuật quy định loại hình trợ cấp và sự công bằng giữa phụ nữ và nam giới trong quá trình nhận trợ cấp.
5.1.4. Nền tảng cho các hoạt động bảo hiểm xã hội
Trong một thời gian dài, không có quy định pháp luật cụ thể nào đảm bảo rằng các quy định về an ninh xã hội đối với các nhà nghệ thuật được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực chuyên môn. Chỉ khi các nhà nghệ thuật trong ngành âm nhạc và nghệ thuật thị giác được nhận bảo hiểm xã hội thông qua các quy định bắt buộc. Tất cả các nhà nghệ thuật khác tự do tham gia bảo hiểm an ninh xã hội theo sự lựa chọn của riêng họ. Nhiều quỹ được thành lập nhằm hỗ trợ các nhà nghệ thuật trả một phần (không bắt buộc) bảo hiểm an ninh xã hội.
Luật sửa đổi luật bảo hiểm an ninh xã hội và việc làm (1999) đã tạo ra bước thay đổi ban đầu: cho đến năm 1997, các nhà nghệ thuật trên khắp cả nước nhận mức bảo hiểm an ninh xã hội khác nhau, phụ thuộc vào vị trí nghệ nghiệp, quan hệ lao động và lĩnh vực nghệ thuật.
Luật Bảo hiểm xã hội đối với các nhà nghệ thuật đã có hiệu lực và tạo điều kiện cho các nhà nghệ thuật được đối xử như các nghệ sỹ chuyên nghiệp khác.
Năm 2009 đã chứng kiến sự thay đổi khi bảo hiểm xã hội thực sự được áp dụng cho các trường hợp khác ngoài loại hình lao động tự cung tự cấp với việc hỗ trợ họ thêm một khoản thu nhập.
Cuộc cải cách về bảo hiểm xã hội đối với các nhà nghệ thuật cho đến nay đã đạt được hai kết quả: thứ nhất, trung tâm dịch vụ dành cho các nhà nghệ thuật, nơi cung cấp các dịch vụ tư vấn và sự hỗ trợ đối với các vấn đề liên quan đến bảo hiểm xã hội đã được thành lập.
Sự thay đổi thứ hai chính là cơ hội cho các  nhà nghệ thuật đăng ký hoạt động nghệ thuật tự cung tự cấp của họ và bảo hiểm bắt buộc nhằm mục đích để họ có thể nhận được những lợi ích từ bảo hiểm khi bị thất nghiệp.
5.1.5. Các luật về thuế
Tại Áo, chỉ xấp xỉ 1,94% quỹ dành cho hoạt động văn hóa được cung cấp bởi ngành tư nhân mặc dù “Sắc lệnh đối với các nhà bảo trợ” đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính Liên bang thông qua vào năm 1987. Theo quy định, một doanh nghiệp/công ty được miễn thuế đối với các chi phí cho việc hỗ trợ các sự kiện văn hóa. Trên cơ sở sửa đổi Luật quảng bá nghệ thuật Liên bang  (1988) vào năm 1997, các hoạt động trợ cấp cho các ngành kinh tế công được miễn thuế, áp dụng từ trước năm 1991. Các khoản trợ cấp bao gồm: tiền trợ cấp, giải thưởng, tiền hỗ trợ từ Viện điện ảnh Áo cho hoạt động tăng cường tạo ý tưởng và kịch bản phim; thu nhập và hỗ trợ từ các quỹ công hoặc từ các quỹ của các tổ chức công hoặc tư nhân, thậm chí bồi thường các khoản chi phí hoặc công tác phí liên quan không tính đến hoạt động của các tổ chức tư nhân tại nước ngoài.
Kể từ năm 2000, các nhà nghệ thuật nước ngoài có khả năng được miễn một phần hoặc toàn bộ thuế tại Áo khi họ không có khả năng đóng thuế tại nước bản địa nếu hoạt động nghệ thuật của họ tại Áo phục vụ cho phát triển nghệ thuật Áo và nếu họ vì lợi ích chung trong công việc nghệ thuật.
Kể từ năm 2000, các khoản cho tặng được thực hiện giảm thuế đối với các bảo tàng (các bảo tàng tư nhân lớn trên phạm vi cả nước, cũng như các bảo tàng Liên bang ).
5.1.6. Các luật lao động
Cùng với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng tăng, cơ cấu việc làm đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây.Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, Luật diễn viên, luật lao động dành riêng cho loại hình nghệ thuật này quy định giờ làm việc, quyền được nghỉ lễ và chế độ thưởng với nghệ sĩ khác so với các đối tượng nghệ thuật khác.
Các điều kiện mới theo pháp luật nhằm cải thiện cuộc sống của các nhà nghệ thuật đang được tạo ra cho các nghệ sĩ.
Kể từ năm 2009, các nhóm thường trực liên bộ đã xúc tiến các hoạt động nâng cao cuộc sống của những nghệ sĩ và đã làm mới Luật Diễn viên sau lần sửa đổi cuối cùng năm 1992. Kể từ tháng 1 năm 2011, theo “Luật Việc làm trong ngành sân khấu”, tất cả những người làm trong một công ty nghệ thuật biểu diễn cùng liên kết làm việc và tuân theo Luật nghỉ lễ và giờ lao động.
5.1.7. Các quy định về bản quyền
Theo Luật bản quyền Áo, bản quyền gắn liền với sự sáng tạo một tác phẩm của tác giả. Hiện nay chưa có văn bản luật chính thức nào quy định (thông báo hoặc đăng ký) về bảo vệ bản quyền của một tác phẩm. Kể từ những năm 80, xu hướng phát triển ngày càng hướng tới bồi thường tổng số tiền bảo hiểm phải trả. Số tiền từ việc bồi thường sẽ được thu giữ bởi các tổ chức sưu tập bản quyền tác giả và một phần sẽ được chi trả cho các mục đích văn hóa/xã hội và một phần được phân bổ cho các nhà giữ bản quyền.
Sau khi Luật bản quyền được sửa đổi năm 1980, phí bản quyền được quy định đối với các băng ghi âm.  
Các hoạt động sửa đổi Luật bản quyền được thực hiện năm 2003 theo Chỉ dẫn của liên minh châu Âu về cân đối các khía cạnh bản quyền và các luật liên quan trong xã hội thông tin. Những thay đổi chính được thực hiện bao gồm liệt kê các loại hình sử dụng miễn phí, tăng cường bảo vệ về mặt pháp lý, chống lại sử dụng các biện pháp kỹ thuật để lừa gạt.
Vào năm 2005, cùng với Chỉ dẫn của liên minh châu Âu – quyền bán lại của nghệ sĩ cũng đã được áp dụng tại Áo.
Kể từ năm 2010, quyền bán lại cũng được áp dụng cho việc bán lại các tác phẩm nghệ thuật đối với các nhà nghệ thuật trong thời gian 70 năm sau khi họ mất.
5.1.8. Các luật về bảo vệ dữ liệu
Luật bảo vệ dữ liệu năm 2000 chủ yếu thực hiện các chỉ dẫn về quản lý dữ liệu của liên minh châu Âu, quy định tất cả quyền và nghĩa vụ của người chủ các bộ sưu tập và áp dụng với cả với các bộ sưu tập thông tin hợp pháp của các tổ chức công (các cơ quan chính quyền...vv) và tư nhân (các công ty, hiệp hội và các tổ chức khác...vv), bao gồm các bộ sưu tập thông tin được lưu giữ bởi các tổ chức văn hóa. Về cơ bản, theo phần 47, sự thay đổi địa chỉ yêu cầu có sự đồng ý của các bên liên quan mặc dù vẫn có trường hợp ngoại lệ (vì lí do thống kê hoặc khoa học). Ủy ban bảo vệ dữ liệu Áo, một trong các cơ quan bảo vệ dữ liệu lâu đời nhất tại châu Âu (kể từ năm 1980) chịu trách nhiệm tuân theo các quy định của luật bảo vệ dữ liệu.
5.1.9. Các luật về ngôn ngữ
Luật Truyền hình (2001) quy định rằng Công ty phát thanh Áo (ORF) có trách nhiệm đảm bảo rằng “người dân Áo phải có hiểu biết về tất cả các lĩnh vực của cuộc sống dân chủ” và một phần tương đối các chương trình của ORF phải được truyền hình bằng ngôn ngữ của các dân tộc đang sinh sống trên đất Áo.
Kể từ khi thông qua Luật Truyền hình tư nhân vào năm 1998, nhiều đài truyền thanh tự do (phi lợi nhuận) đã được thành lập và hiện nay đang cung cấp các chương trình cho các nhóm dân tộc và người di cư trên phạm vi quốc gia.
Cho đến năm 2001, các hoạt động của ngành truyền hình đều nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ Liên bang  . Kể từ sau đó, các đài phát thành tự do này liên tục nỗ lực phát triển.
5.2. Luật về văn hóa
Có các quy định và luật Liên bang  dành riêng cho ngành văn hóa.
Luật về tăng cường phát triển văn hóa cũng được Chính phủ Liên bang thông qua ngoại trừ thành phố Vienna.
Ngoài sự hỗ trợ của chính phủ đối với các lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa, luật pháp Áo cung cấp một loạt các công cụ quan trọng hỗ trợ gián tiếp cho ngành nghệ thuật. Hoạt động này hướng tới các quy định khác nhau của pháp luật về chính sách xã hội và tài chính, hệ thống bảo hiểm xã hội đối với các nhà nghệ thuật, các phương pháp được thực hiện trong lĩnh vực quản lý thị trường lao động, luật bản quyền (trực tiếp và gián tiếp như bản quyền của các thư viện), khuyến khích các ngành tư nhân hỗ trợ các ngành nghệ thuật bằng cách miễn và giảm thuế cho các khoản cho tặng tư nhân và bảo trợ các hoạt động nghệ thuật cũng như tăng cường quảng bá khu di tích hiện đang được chi trả hoạt động từ nguồn ngân sách công.
Trong khi các chính sách nói trên được chào đón, đáng ngạc nhiên rằng quá ít các quy định pháp luật dành riêng cho ngành văn hóa được thực thi trong các lĩnh vực như hòa nhạc hoặc sân khấu.
Áo tự cam kết hợp tác với nhiều quốc gia châu Âu và quốc tế trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa thông qua các hiệp định được ký kết giữa các bên và cùng hợp tác với liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và UNESCO.
5.3 Luật riêng cho ngành
Nhìn chung, Luật tăng cường phát triển nghệ thuật Liên bang  quy định rằng “các hoạt động tăng cường chủ yếu được thực hiện một cách trục tiếp đối với các loại hình nghệ thuật đương đại, làm thay đổi tinh thần và đa dạng nó” trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, nghệ thuật thị giác, nhiếp ảnh, điện ảnh, video và các cuộc trải nghiệm nghệ thuật. Ngoài ra, các chỉ dẫn chung về cấp nguồn kinh phí Liên bang  của Bộ Tài chính Liên bang  và các chỉ dẫn riêng cho ngành cũng được áp dụng nhằm mục đích tạo nguồn trợ cấp công cho lĩnh vực nghệ thuật.
5.3.1 Nghệ thuật thị giác và nghệ thuật ứng dụng
Theo Luật tăng cường phát triển văn hóa, hành động chính phủ mua các tác phẩm của các nghệ sĩ đương đại được xem như một biện pháp hỗ trợ. Kể từ năm 2005, “quyền bán lại” đã đảm bảo cho các nhà nghệ thuật và của thừa kế hợp pháp của họ một phần lợi nhuận mà người được bán thu được từ giá trị của tác phẩm. Theo đó, các nhà nghệ thuật nhận được mức bảo hiểm từ 0.25% đến 4%.
5.3.2 Nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc
Các quy định riêng liên quan đến cấp nguồn tài chính cho các nhà hát đã nêu rõ chính phủ phải có trách nhiệm trả nguồn tiền hỗ trợ hàng năm hiện ở mức 21,5 triệu euro cho các nhà hát khu vực và thành phố theo Luật cân bằng tài chính.
Nhằm tạo sự công bằng trong quá trình đổi mới ngành sân khấu, vào năm 2003 “Sáng kiến cải tổ ngành sân khấu Vienna” đã được thực hiện bởi Sở văn hóa thành phố Vienna. Các quy tắc hỗ trợ cơ bản của thành phố Vienna đã được xây dựng và nhằm mục đích tạo mối quan hệ công bằng trong các cuộc tranh luận hiện nay với các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống và các loại hình sân khấu hiện đại, nghệ thuật múa cũng như giữa các nhà nghệ thuật có tên tuổi và nhà nghệ thuật trẻ.
5.3.3. Di sản văn hóa
Luật Bảo tàng Liên bang (1998) đã trao toàn bộ quyền pháp lý cho các bảo tàng Liên bang và làm cho chúng trở thành các tổ chức khoa học theo quy định của pháp luật. Đây là một bước tiến quan trọng hướng tới quyền tự chủ. Các bảo tàng Liên bang vẫn nằm dưới sự quản lý của Cục Nghệ thuật, thuộc văn phòng Thủ tướng Liên bang và nhận được trợ cấp hàng năm từ Bộ. Phần còn lại của ngân sách phải được trao lại cho các bảo tàng. Sau khi tiến hành sửa đổi Luật Tăng cường phát triển bảo tàng Liên bang  vào năm 2000, các bảo tàng Liên bang, tỉnh và thành phố có thể nhận được khoản tiền hỗ trợ hàng năm nhằm mục đích duy trì các hoạt động nghệ thuật thông qua nguồn thu từ các triễn lãm tại Áo.
Sau khi tiến hành sửa đổi Luật Bảo tồn các lăng tẩm vào năm 1999, phòng quản lý tăng tẩm Liên bang  (thuộc Cục Văn hóa, Văn phòng thủ tướng Liên bang) có thể ban hành một nghị định bao gồm các điều khoản quy định đối với các lăng tẩm do các tổ chức công làm chủ hiện đang được bảo tồn.
Hơn nữa, trên cơ sở sửa đổi Luật bảo tồn các lăng tẩm, cấm xuất khẩu các sản phẩm văn hóa đã được thực hiện theo chỉ dẫn của liên minh châu Âu.
5.3.4. Văn học và thư viện
Vào năm 2000, Luật mức giá cố định khi đặt trước Liên bang được thực thi tại Áo. Luật áp dụng với các lĩnh vực xuất bản, nhập khẩu và thương mại nhưng không bao gồm buôn bán tài liệu điện tử qua biên giới. Luật đóng vai trò quan trọng khi đảm bảo rằng các nhà xuất bản, nhà bán lẻ sách, các công ty phân phối quy mô nhỏ...vv, đóng vai trò quan trọng duy trì tính đa dạng của nguồn thông tin, có thể vẫn cạnh tranh với các công ty/doanh nghiệp xuất bản và các nhà phân phối lớn. Nhìn chung, văn phòng chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý các thư viện.
Vào năm 2010, hỗ trợ thư viện với các tiêu chuẩn ràng buộc được xác định lại dựa trên ba nền tảng: thực hiện chỉ dẫn mới về hỗ trợ cho các thư viện công tuân theo các tiêu chuẩn đã đặt ra.
5.3.5. Kiến trúc và quy hoạch không gian
Theo hiến pháp, quy hoạch không gian địa phương được thực hiện trong phạm vi trách nhiệm của các tỉnh, thành phố. Trong cơ cấu quản lý khung của các ngành kinh tế tư nhân, chính quyền khu vực có thể chủ động trong quy hoạch và đưa ra các biện pháp trên tất cả các lĩnh vực.
5.3.6.  Điện ảnh, video và nhiếp ảnh
Luật tăng cường phát triển ngành điện ảnh (1998) quy định Viện điện ảnh Áo, đơn vị chịu trách nhiệm tăng cường phát triển và hỗ trợ ngành điền ảnh Áo, ví dụ phân bổ các khoản tiền trợ cấp cho các hãng phim cho các nhà làm phim và sản xuất phim.
Những sửa đổi năm 1998 được thực hiện nhằm tăng cường cơ sở kinh tế của nền điện ảnh Áo thông qua tạo điều kiện cho các hoạt động liên kết sản xuất phim với quốc tế dễ dàng hơn, khuyến khích hỗ trợ hệ thống phân phối, tạo kế hoạch hỗ trợ các rạp chiếu phim. Do quá trình sửa đổi Luật tăng cường phát triển ngành điện ảnh được thực hiện vào năm 2004, Hội đồng điện ảnh Áo được thành lập nhằm tư vấn cho Chính phủ Liên bang về các chính sách và ngân sách cho ngành điện ảnh.
Sự phát triển toàn cầu trong ngành truyền thông và ngành thông tin nghe nhìn và ngành công nghiệp truyền thông cũng như cuộc cạnh tranh khốc liệt trong ngành đòi hỏi cần phải cải tổ cơ cấu tổ chức một cách nhanh chóng và thông qua các quy định pháp lý phù hợp cho ngành thông tin nghe nhìn Áo.  
5.3.7. Truyền thông đại chúng
Các quy định của Áo về nội dung luôn đúng với chỉ thị châu Âu “Truyền hình không biên giới”. Quảng cáo cũng được quy định trong Luật phát thanh Áo. Các sửa đổi Luật phát thanh Áo cấm “xen lẫn các hoạt hoạt động quảng cáo”.
Sửa đổi Luật phát thanh Áo (Luật công ty đa truyền thông Áo) vào năm 2001 bao gồm chuyển đổi ORF thành một tổ chức và sản xuất phiên bản mới cho chương trình truyền hình trực tiếp theo quy định. Luật cũng bao gồm điều khoản mới về tăng cường hoạt động sản xuất các tác phẩm nghệ thuật và sáng tạo tại Áo.
Luật phát thanh mới, xác định các hoạt động quảng bá nghệ thuật và văn hóa đồng thời cũng quy định giới hạn đối với hoạt động quảng cáo. Vào năm 2004, Luật hỗ trợ báo chí mới đã có hiệu lực. Ngoài phân bổ các nguồn trợ cấp cho các báo ngày và báo tuần, các nguồn trợ cấp đặc biệt khác đảm bảo tính đá dạng trong các loại báo ngày của khu vực, Luật hỗ trợ báo chí cũng đưa ra các biện pháp hỗ trợ hoạt động học tập trau dồi kiến thức của các nhà báo và phát triển các dự án nghiên cứu.
Kể từ năm 2004, Cơ quan ủy quyền thông tin Áo chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động trợ cấp cho ngành báo chí và các hoạt động trợ cấp theo Luật trợ cấp ngành báo chí.
5.3.8. Các lĩnh vực khác của luật
Vào năm 1998, Luật Liên bang về hoàn trả các sản phẩm nghệ thuật từ các bộ sưu tập của nước Áo cho người được thừa kế đã được thông qua và nhóm chức năng đã được thành lập nhằm làm rõ bằng chứng về tác phẩm nghệ thuật. Luật Liên bang về hoàn trả các sản phẩm nghệ thuật không thừa nhận vị trí pháp lý đối với những người thừa kế.
Quá trình sửa đổi Luật hoàn trả các tác phẩm nghệ thuật vào năm 2009 đã mở rộng trách nhiệm hoàn trả đối với tất cả các sản phẩm văn hóa có thể di chuyển được của mỗi bang.
6. Nguồn tài chính của ngành văn hóa
Tại Áo, theo hệ thống “LIKUS”, các cơ sở dữ liệu về nghệ thuật và văn hóa được phân chia thành các nhánh nhỏ. Hệ thống này được đưa vào sử dụng kể từ năm 1996 trong Báo cáo nghệ thuật thường niên trong hệ thống các báo cáo văn hóa của tỉnh và Cục Thống kê Áo. Các hoạt động phát triển hệ thống này đã được thưc hiện bởi Viện quản lý văn hóa thuộc trường đại học Âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn. Mạng thông tin theo ngành sẽ phân chia các lĩnh vực dựa trên các chính sách văn hóa, tăng cường tính minh bạch trong quá trình hỗ trợ nghệ thuật và văn hóa thông qua thiết lập các mức chi tiêu ngân sách của tất cả các cấp chính quyền khu vực và địa phương tại Áo. Ngoài ra, Báo cáo hàng năm về văn hóa cung cấp thông tin về các khoản chi ngân sách dành cho các tổ chức văn hóa lớn.
7. Các tổ chức công trong cơ cấu văn hóa
Trách nhiệm của các tổ chức công về vấn đề văn hóa được xác định lại theo ngành giữa các tổ chức. Phụ thuộc vào nhiệm vụ và trách nhiệm được giao, các mô hình tổ chức hoặc liên kết đối tác đã được thông qua.
Vào năm 1989, KulturKontakt (Trung tâm nguồn lực và cạnh tranh châu Âu) được thành lập bởi cựu Bộ trưởng Văn hóa và Nghệ thuật như một tổ chức tự trị gắn kết các cộng đồng nghệ thuật và kinh doanh.
KulturKontakt (KKA) là một tổ chức phi lợi nhuân về phát triển nguồn lực và tăng cường tính cạnh tranh châu Âu về giáo dục, văn hóa và nghệ thuật, tập trung hoạt động tại Áo, khu vực Đông và Đông Tây châu Âu.
Các hoạt động chính bao gồm hợp tác văn hóa, hỗ trợ nghệ thuật, giáo dục văn hóa trong các trường học, hợp tác giáo dục. Trong quá trình thực hiện, KKA cam kết thực hiện các quy tắc cơ bản của chính sách giáo dục và văn hóa được quy định ở cấp Liên bang về học lập lâu dài, đa dạng hóa và giáo dục hòa nhập. Dựa trên các nguyên tắc ngày, KKA phát triển các hoạt động và các chương trình nhằm mục đích tăng cường khả năng tiếp cận một cách công bằng cho mọi đối tượng khi tham gia vào các hoạt động giáo dục, văn hóa và nghệ thuật. Các cơ quan tài chính lớn trực thuộc KKA là Bộ Giáo dục và các vấn đề phụ nữ Liên bang , Văn phòng Thủ tướng Liên bang   Áo.
Trung tâm Thông tin AAm nhạc Áo (Mica) được thành lập vào năm 1994 dựa trên sáng kiến của chính phủ Áo như một tổ chức tình nguyện độc lập. Mục đích của tổ chức này là chuẩn bị thông tin về âm nhạc tại Áo cũng như nghiên cứu về các lĩnh vực âm nhạc đương đại; hỗ trợ các nghệ sĩ hiện đang sống tại Áo thông qua hoạt động tư vấn và hỗ trợ thông tin; phân bổ các hoạt động sản xuất âm nhạc trong nước thông qua quảng bá nội địa và nước ngoài cũng như cải thiện các điều kiện chung về sản xuất âm nhạc tại Áo. Mica được hỗ trợ bởi Cục Âm nhạc thuộc Văn phòng Thủ tướng Liên bang và Sở văn hóa thành phố Vienna.
Viện điện ảnh Áo (tiền thân là Quỹ Phát triển điện ảnh Áo) được thành lập như một đơn vị có tính pháp lý riêng theo các điều khoản đã được sửa đổi đối với Luật Phát triển điện ảnh vào năm 1998. Cơ quan này chịu trách nhiệm thay đổi về cơ cấu đối với ngành điện ảnh Áo, hỗ trợ các hoạt động sản xuất phim và tăng cường cũng như nâng cao chất lượng môi trường làm phim tại Áo. Viện điện ảnh nằm dưới sự quản lý của giám đốc, ban ủy thác với trách nhiệm được quy định trong Luật Phát triển điện ảnh. Viện hoạt động như một quỹ khi nhận nguồn tiền trực tiếp từ cấp Liên bang  theo các quy định của pháp luật.
8. Tăng cường tính sáng tạo và sự tham gia
8.1. Hỗ trợ các nhà nghệ thuật và những người làm trong ngành nghệ thuật
8.1.1. Tổng quan về các chiến lược, chương trình và các hình thức hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp
Ngoài các khoản hỗ trợ trực tiếp cho các nhà nghệ thuật, luật pháp Áo đã tạo ra một loạt các công cụ quan trọng để hỗ trợ các nhà nghệ thuật một cách gián tiếp. Các công cụ này bao gồm các khoản cho tặng, các phần thưởng và học bổng, các hoạt động khuyến khích mua các sản phẩm nghệ thuật, các điều khoản khác nhau về lợi ích xã hội và chính sách thuế, các phương thức tiếp cận khác nhau nhằm mục đích bảo hiểm xã hội cho các nhà nghệ thuật, các biện pháp phát triển thị trường lao động, Luật bản quyền (các quyền cho vay công), tăng cường phát triển nghệ thuật tư nhân thông qua ưu đãi về thuế và giảm thuế đối với các khoản cho tặng và hỗ trợ của tư nhân.
Áo: Chính sách và xu hướng phát triển văn hóa - ảnh 12
Ảnh minh họa

Trên cơ sở hoạt động khung của quá trình hỗ trợ các bảo tàng thông qua quá trình tiếp nhận bộ sưu tập của bảo tàng, ba nhà hoạt động chính trong lĩnh vực nghệ thuật được hỗ trợ bao gồm: bảo tàng, triễn lãm và các nhà nghệ thuật đương đại. Mục đích nhằm tạo sự phát triển ổn định cho các nhà nghệ thuật trong quá trình tham gia của các bảo tàng cũng như các triển lãm vào các hoạt động nghệ thuật với sự tập trung lớn vào các nhà nghệ thuật và các bảo tàng mới phát triển hiện nay. Các bảo tàng phải trưng bày tác phẩm nghệ thuật đã được mua trong các cuộc triển lãm và trên các trang mạng điện tử của bảo tàng.
Chương trình hỗ trợ khác là tăng cường sự tham gia của các bảo tàng thương mại tại các lễ hội âm nhạc tại nước ngoài nhằm tăng cơ hội cho các nhà nghệ thuật tại Áo và trên thị trường nghệ thuật thế giới, đồng thời tăng cường sự hiện diện, sự công nhận và sự phân bổ của các loại hình nghệ thuật đương đại Áo trên thị trường quốc tế.
8.1.2. Các nguồn tài chính của các nhà nghệ thuật
Những thành công lớn đạt được trong quá trình hỗ trợ gián tiếp các hoạt động sáng tạo là các nguồn tài chính khác nhau sẵn có cho các nhà nghệ thuật bao gồm Quỹ các nhà nghệ thuật được thành lập vào năm 1962 và do Sở nghệ thuật quản lý. Quỹ cung cấp cho các nhà nghệ thuật nghe nhìn đang hoạt động tự do một số lợi ích về mặt xã hội.
Quỹ thư viện theo pháp luật đảm bảo hỗ trợ thu nhập cho các nhà văn và các tác giả với những nhu cầu xã hội cần thiết (lương hưu, người không có khả năng làm việc, chăm sóc người phụ thuộc, hỗ trợ trong trường hợp đặc biệt). Các tổ chức thu thập bản quyền cũng tham gia vào các hoạt động hỗ trợ xã hội.
Quỹ Âm nhạc Áo được thành lập vào năm 2005 là một sáng kiến hỗ trợ hoạt động sản xuất chuyên nghiệp trong ngành âm nhạc tại Áo và sự phân bổ các hoạt động quảng bá âm nhạc trong nước và thế giới.
8.1.3. Trợ cấp, phần thưởng, học bổng
Hệ thống quảng bá nghệ thuật Áo gồm các biện pháp khác nhau về hỗ trợ cho ngành nghệ thuật sáng tạo. Các biện pháp chính là các khoản tiền trợ cấp, giải thưởng, học bổng, mua các tác phẩm nghệ thuật, các khoản trợ cấp như các khoản đóng góp vào chi phí in các tập tin tài liệu, điều hành trường quay (trường quay Liên bang  tại Vienna và các trường quay khác ở nước ngoài), các hoạt động sản xuất, các chi phí đi lại; đặt mua các tác phẩm nghệ thuật. Các chương trình tái định cư cho các nhà nghệ thuật khác nhau đã được xây dựng bởi chính phủ, các tỉnh, các cấp thành phố và các tổ chức khác nhau trong những năm gần đây với đối tượng là các nhà nghệ thuật nước ngoài đang làm việc trong nước và tại các nước khác.
“Giải thưởng nghệ thuật Áo” là giải thưởng ghi nhận thành công lớn nhất trong cuộc đời của một nghệ sĩ với giá trị giải thưởng từ 12,000 đến 15,000 euro và được trao cho các lĩnh vực: Nghệ thuật thị giác, nhiếp ảnh, video và nghệ thuật truyền thông, âm nhạc, văn học, văn học trẻ em và thanh niên cũng như “các vấn đề. hàng năm”.
Lĩnh vực văn học và báo chí cũng có những giải thưởng riêng.
Giải thưởng lớn của quốc gia Áo với số tiền 30000 euro được trao cho đề xuất của Thượng viện nghệ thuật Áo và không kèm theo bất kỳ nguyên tắc trao giải luân phiên trong các lĩnh vực kiến trúc, nghệ thuật dân gian, văn học và âm nhạc đối với sự nghiệp nghệ thuật cả đời.
Các tỉnh Liên bang  cũng trao giải thưởng khác nhau cho các nhà nghệ thuật trong quá trình hỗ trợ các nhà nghệ thuật Áo.
Kể từ tháng 11 năm 2010, Sở văn hóa quốc tế thuộc Bộ Hội nhập văn hóa và các sự kiện quốc tế châu Âu đã có chương trình hỗ trợ đặc biệt cho các nghệ sĩ trẻ đang biểu diễn tại nước ngoài với tên gọi “Giai điệu âm nhạc mới của nước Áo” (NASOM).
8.1.4. Hỗ trợ các tổ chức hoặc liên đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp
Các tổ chức và các nhóm nghệ thuật chuyên nghiệp là các tổ chức có số lượng thành viên nhất định, nhằm mục đích thể hiện nguyện vọng chung của các thành viên so với các tổ chức nghệ thuật chuyên nghiệp khác ở phạm vi quốc gia hoặc từng bang. Họ đánh giá họ là các nhà vận động hành lang cho các nghệ sĩ và những người làm trong lĩnh vực văn hóa và/hoặc các nhà hoạt động nghệ thuật, đồng thời họ hỗ trợ các thành viên giải quyết các vấn đề về nghề nghiệp và hành vi ứng xử.
Họ tham gia vào nhiều quyết định, bao gồm tư vấn về luật và các vấn đề khác, thường xuyên hoạt động như một đối tác hòa giải trong các quyết định về chính sách
Hội đồng văn hóa Áo là tổ chức gồm các nhóm nghệ thuật và các nhà sáng tạo văn hóa có chung lợi ích. Đây là tổ chức hành lang trong việc giải quyết các vấn đề về chính sách văn hóa chung, thiết lập các mục tiêu, đồng thời thể hiện các vấn đề và mục tiêu này trên các khía cạnh chính trị, truyền thông và các cấp quản lý. Ngoài tổ chức này và tám tổ chức thu thập bản quyền của Áo, có nhiều tổ chức chuyên nghiệp đã hoạt động tích cực trong các lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật.
8.2. Tiêu dùng và tham gia văn hóa
8.2.1. Xu hướng và những con số
Các con số về số người tham gia vào lĩnh vực văn hóa tại Áo dao động kể từ năm 2000. Con số tăng thể hiện rõ trong ngành đa truyền thông (số lượng giấy phép cấp cho các đài truyền thanh và truyền hình...vv), các hoạt động cho mượn tại các bảo tàng công. Số lượng du khách tới các nhà hát không thay đổi. Số lượng du khách đến các bảo tàng quốc gia tăng theo quý mặc dù số lượng du khách đến các bào tàng tại các tỉnh giảm nhẹ.
8.2.2. Các chính sách và chương trình
Sự kiện “Đêm dài của các bảo tàng” được tổ chức vào năm 2000 theo sáng kiến của Trung tâm truyền thông Áo và đã rất thành công khi tăng số lượng du khách đến tham bảo tàng.
Kể từ năm 2009, Đêm dài của các ngôn ngữ đã thúc đẩy các tổ chức giáo dục và văn hóa cũng như các tổ chức từ các tỉnh mang đến các khóa học cơ bản, các hội thảo, các buổi trò chuyện và giao lưu âm nhạc dành cho thanh niên và người trưởng thành.
Một biện pháp đặc biệt quan trọng tăng khả năng tiếp cận văn hóa và nghệ thuật là tự do mở cửa đối với tất cả các bảo tàng Liên bang  cho các đối tượng tới độ tuổi 19. Các biện pháp này dẫn đến tăng số lượng du khách lên 15% trong nhóm tuổi này kể từ năm 2010.
Sáng kiến “Khát khao nghệ thuật và văn hóa” với sự tham gia của hơn 450 tổ chức nghệ thuật và văn hóa là một công cụ quan trọng tăng cường sự tham gia vào lĩnh vực văn hóa đặc biệt cho các đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.
8.3. Giáo dục nghệ thuật và văn hóa
8.3..1 Tổng quan về tổ chức
Hệ thống trường học Áo được quy định thống nhất trên phạm vi quốc gia. Giáo trình được xây dựng trên toàn quốc trong Công báo luật của Liên bang và bao gồm các mục tiêu giáo dục âm nhạc và giáo dục nghệ thuật cho từng cấp học.
KulturKontakt đã phát triển các dự án về giáo dục văn hóa trong các chương trình giảng dạy và chương trình giáo dục nghệ thuật và văn hóa tại các trường nhiều năm qua. Kể từ 2008, chương trình giáo dục văn hóa – “Hợp tác giữa các trường và các tổ chức văn hóa” đã được thực hiện theo phương thức một trường học và một tổ chức văn hóa liên tục hợp tác với nhau trong quá trình hình thành mối quan hệ đối tác trong nhiều năm tới. Vào năm 2010, chương trình đã được đánh giá và đổi mới.
“Bikum’, tổ chức giáo dục, văn hóa và thông tin là hành lang qua mạng điện tử cho mọi người và các tổ chức trong các lĩnh vực truyền thông. Tổ chức góp phần tăng cường trao đổi trên giữa các ngành khoa học, thực hành giảng dạy, nghệ thuật và truyền thông.
8.3.2. Các loại hình nghệ thuật trong trường học
Bộ Giáo dục và các vấn đề phụ nữ Liên bang có trách nhiệm chính trong giải quyết các vấn đề liên quan đến giáo dục nghệ thuật trong trường học. Ở cấp tiểu học, giáo dục nghệ thuật nhìn chung bao gồm âm nhạc, nghệ thuật thị giác, ngành dệt, giáo dục thiết kế kĩ thuật. Theo chỉ dẫn của chính sách giáo dục mới đối với các trường trung học, các trường buộc phải xác định các môn học thông qua thiết kế các giáo trình của riêng từng trường. Theo đó, các học sinh trung học có thể lựa chọn các môn nghệ thuật khác nhau bao gồm nghệ thuật biểu diễn (tự nguyện là chủ yếu), hoặc tham gia vào các ban nhạc, nhóm nhạc cũng như các đoàn hát múa. Nhìn chung, nhiều trường dạy nghề (dành cho sinh viên trên 15 tuổi) không đưa bất kỳ môn nghệ thuật nào vào trong chương trình giảng dạy như một bộ môn riêng. Tuy nhiên, nhiều trường xây dựng giáo trình riêng cho từng lĩnh vực (âm nhạc, nghệ thuật dân gian, ca múa, đồ họa, thiết kế hoặc thời trang).
8.3.3. Giáo dục liên văn hóa
Kể từ năm 1992, môn học liên văn hóa tại Áo đã được đưa vào trong giáo trình của nhiều loại trường khác nhau như một nguyên tắc trong giảng dạy và mục tiêu giáo dục chung. Cùng với việc tìm hiểu kiến thức về các nền văn hóa khác, các mục tiêu chính là tăng cường tiếp nhận văn hóa và tìm hiểu cũng như tôn trọng tính đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và dân tộc, phân tích chủ trương ôn hòa giữa vị chủng và châu Âu, sự công bằng, chủng tộc và tăng cường phát triển tính đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và dân tộc. Song ngữ và đa ngôn ngữ trong tiếng dân tộc sẽ được đánh giá một cách tích cực; kiến thức của trẻ em về tiếng dân tộc sẽ được kết hợp trong giảng dạy. Cuối cùng, học liên văn hóa được kết hợp với các quy định trong giảng dạy khác (giáo dục chính trị). Chương trình hành động trường học “Liên văn hóa và đa ngôn ngữ - một cơ hội” đã được thực hiện kể từ năm 2005. Mục đích của chương trình nhằm nâng cao chất lượng trong quy định về giảng dạy đối với tìm hiểu về vấn đề liên văn hóa, ý thức về đa ngôn ngữ trong trường học và trong xã hội, tạo động lực và khuyến khích dạy tiếng Đức như ngôn ngữ thứ hai hoặc thay tiếng mẹ đẻ.
KulturKontakt cũng tích cực hoạt động trong lĩnh vực này. Các dự án và các khóa học với tập trung vào các hoạt động giáo dục liên văn hóa cũng được cung cấp bởi trung tâm liên văn hóa tại Vienna. Liên kết với “Sáng kiến các dân tộc thiểu số” và sự tham gia của sinh viên, giáo viên, kể từ năm 2010 Trung tâm dân chủ Vienna đã tổ chức các cuộc triển lãm trên khắp cả nước – “Hành trình nhập cư”.
8.3.4. Giáo dục nghệ thuật và đào tạo chuyên môn ở các trường đại học
Vào năm 1998, Luật mới được áp dụng đối với sáu trường đại học nghệ thuật có uy tín trong thực hiện các chương trình âm nhạc, thiết kế, kịch, ca múa, nghệ thuật thị giác, vẽ, điêu khắc hoặc kiến trúc. Nhóm các trường đại học khoa học ứng dụng đầu tiên tại Áo về đa truyền thông và thiết kế đã mở cửa đón sinh viên vào năm 1994. Trong những năm gần đây, số lượng các khóa học sinh cao học hiện đang học tập hoặc đã tốt nghiệp tăng, tạo cơ hội học chuyên sâu hơn trong lĩnh vực quản lý, thông tin liên văn hóa, nghệ thuật tương tác, khoa học hình ảnh, lưu trữ, âm nhạc, thiết kế, quản lý sân khấu và sự kiện, quản lý bảo tàng và triễn lãm.
8.3.5. Giáo dục nghệ thuật và văn hóa cơ bản ngoài trường học
Giáo dục nghệ thuật cũng được cung cấp theo hình thức hoạt động ngoại khóa ngoài trường học bởi các trường âm nhạc, các trường dạy hát cho trẻ em hoặc các trung tâm thanh niên và văn hóa. Các hoạt động ngoại khóa chủ yếu được cung cấp ở phạm vi tỉnh Liên bang  hoặc trong các cộng đồng.
Cùng thời điểm, các chương trình giáo dục của các tổ chức văn hóa, đặc biệt đành cho trẻ em và thanh niên ngày càng tăng về số lượng. Đáp ứng nhu cầu tìm kiếm khán giả mới (theo đó hợp pháp hóa các khoản tài chính công), giáo dục nghệ thuật trở thành một phần trong chiến lược quảng bá mới đặc biệt của các bảo tàng và các phòng triển lãm được thực hiện bởi các khoa sư phạm âm nhạc và kịch.
Mối quan tâm mới của công chúng về hỗ trợ các hoạt động sáng tạo và khả năng sáng tạo nghệ thuật của người trẻ dẫn đến thành lập các tổ chức văn hóa tập trung phát triển các nhóm nghệ sĩ trẻ tiêu biểu.
Trong các cuộc hội thảo và các cuộc triển lãm, trẻ em đã có các cuộc trải nghiệm đầy cảm xúc thông qua các vở kịch góp phần đẩy mạnh quá trình học tập và tăng cường hiểu biết. Không giống các bảo tàng dành cho người lớn và các sự kiện văn hóa và nghệ thuật cho các trẻ em hướng tới mục tiêu giải trí, các trẻ em có thể chạm và thử các vật (tiếp xúc thực tế) và thông qua tiếp cận trực tiếp sẽ góp phần hiểu sâu hơn về các loại hình nghệ thuật (sự suy ngẫm).
8.4. Nghệ thuật tự do, các tổ chức nghệ thuật và sáng kiến của người dân trong lĩnh vực nghệ thuật
8.4.1. Nghệ thuật tự do và văn hóa dân gian
Nghệ thuật tự do đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hằng ngày tại Áo: Nhiều khóa học khác nhau dành cho người lớn trong lĩnh vực “sáng tạo nghệ thuật” được cung cấp bởi 270 trung tâm giáo dục người lớn. Hệ thống các trường học âm nhạc thúc đẩy chương trình giáo dục trên phạm vi cả nước trong lĩnh vực âm nhạc. Hơn nữa, trên 14500 tổ chức âm nhạc tích cực hoạt động trong các lĩnh vực âm nhạc tự do, sân khâu và hoạt động ca múa nhạc tại Áo.
Mặc dù tất cả các hoạt động xây dựng này nhằm mục đích tăng cường các hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật tự do, tại tất cả các vùng nông thôn, các hoạt động này không phải là mục tiêu của cuộc tranh luận và thảo luận và cũng không được giám sát và đánh giá qua các nghiên cứu mang tính học thuật.
8.4.2. Ngôi nhà văn hóa và các câu lạc bộ văn hóa cộng đồng
Theo cuộc khảo sát trên toàn quốc về “Mức độ tình nguyện tại Áo” năm 2012 có  6% người dân Áo trên độ tuổi 15 đang làm việc tình nguyện trong mọi lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa, đặc biệt trong các chương trình sáng kiến văn hóa và họ đang trở thành một phần quan trọng trong văn hóa và nghệ thuật đương đại kể từ những năm 70. Đặc biệt, các cụm dân cư ngoài vùng đô thị cũng có khả năng tiếp cận với và tham gia vào hoạt động nghệ thuật và văn hóa. Họ tham gia vào các hoạt động từ các sự kiện khu vực, các dự án đa văn hóa, liên ngành, thử nghiệm về nghệ thuật và văn hóa tới các dịch vụ liên quan. Kể từ năm 1991, 300 sáng kiến nghệ thuật và văn hóa khu vực được tài trợ hàng năm bởi cơ quan riêng biệt thuộc Cục Văn hóa. Tuy nhiên, sự thay đổi từ nguồn ngân sách cơ bản sang ngân sách theo dự án đã khiến các hoạt động duy trì liên tục của các tổ chức văn hóa quy mô nhỏ gặp nhiều khó khăn hơn.
(Hiền Lê lược dịch  - Nguồn: Culturalpolicies)
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác