Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

(Cinet) - Hiến pháp Canada quy định rằng văn hóa là quyền của mọi công dân và là một phần của các nguyên tắc chủ đạo của chính sách kinh tế xã hội. Hiến pháp giao nhiệm vụ cho các cơ quan có thẩm quyền nhà nước các nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực văn hóa. Ngoài ra, Hiến pháp cũng đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa, dân chủ văn hóa, tự do sáng tạo và thể hiện, và bảo vệ di sản lịch sử, văn hóa và nghệ thuật.
Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - ảnh 1
Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - ảnh 2

I. Giới thiệu chung về văn hóa
Mô hình văn hoá Canada được hình thành từ những cộng đồng dân cư nhỏ lẻ và phân tán, quy mô kinh tế hạn chế và chi phí sản xuất cao, sự tương đồng với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (quốc gia lớn nhất thế giới và có ảnh hưởng mạnh nhất về văn hoá), sự pha trộn độc đáo trong văn hoá dân tộc, hệ thống hai ngôn ngữ chính thức (tiếng Pháp và tiếng Anh), và văn hoá dân tộc Bản địa đa dạng. Những diễn biến đang diễn ra trong khung quy định pháp luật Canada do Chính phủ liên bang thực hiện chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và gìn giữ chủ quyền Canada, tăng cường đoàn kết dân tộc và bảo vệ bản sắc văn hoá.
Việc thành lập các thiết chế văn hoá quốc gia Canada vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 xuất phát từ việc Chính phủ Liên bang thừa nhận trách nhiệm của mình đối với việc gìn giữ các tài sản văn hoá quốc gia vì lợi ích của công dân và những thế hệ sau này. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của Chính phủ Liên bang là xây dựng cơ sở hạ tầng văn hoá (ví dụ như thành lập hãng phát thanh trong những năm 20 và 30 của thế kỷ 20), thành lập cơ quan đại diện sở hữu, quản lý các di sản quốc gia (ví dụ như Uỷ ban Quản lý Di tích và Công trình lịch sử, thành lập năm 1919). Sự tham gia trực tiếp, tuy còn hạn chế, trong một thời gian dài làm cho nhiều tổ chức đến ngày nay vẫn còn hoạt động, ví dụ như Phòng trưng bày Quốc gia Canada (được thành lập năm 1880 và hợp nhất năm 1913), Cơ quan Lưu trữ Quốc gia (thành lập năm 1872) và Uỷ ban Phim Quốc gia (1939). Công ty phát thanh và truyền hình Canada được thành lập năm 1936 căn cứ vào Báo cáo của Uỷ ban Hoàng gia về Phát thanh truyền hình (1929), uỷ ban này còn có tên Uỷ ban Aird.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, khi các công nghệ mới xuất hiện và nền kinh tế Canada đã đa dạng hoá, vai trò của chính quyền Liên bang trong lĩnh vực văn hoá đã được mở rộng. Chính phủ Liên bang không chỉ quản lý và hỗ trợ tài chính cho các tổ chức văn hoá quốc gia mà còn phát triển các tổ chức hỗ trợ văn hoá dựa trên các chương trình cụ thể. Giai đoạn từ sau thế chiến thứ hai bắt đầu bằng việc xuất bản Báo cáo của Uỷ ban Hoàng gia về Phát triển Nghệ thuật, Văn học và khoa học. Uỷ ban này do Vincent Massey và Georges-Henri Levesque làm đồng chủ tịch. Để xác định chi tiết phạm vi tham gia của Liên bang vào vấn đề văn hoá, đặc biệt là đối với nghệ thuật và di sản, Massey-Levesque, như Uỷ ban Aird trước đây, đã lập luận về khả năng “chống lại việc văn hoá Canada bị ảnh hưởng bởi mô hình văn hoá Mỹ” vốn là một trong những mục tiêu chính của hệ thống phát thanh truyền hình Canada. Nguyên tắc này nhanh chóng được áp dụng rỗng rãi trong lĩnh vực văn hoá vào giai đoạn này, mà bắt đầu là việc thành lập thêm nhiều các tổ chức văn hoá quốc gia, bao gồm Thư viện Quốc gia Canada (1953), Hội đồng Canada (1957), Công ty Phát triển Phim Canada (1968), và quan trọng nhất là Bộ Truyền thông (1969) và Uỷ ban Phát thanh và truyền hình Canada (1969). Đây là cơ quan ban hành cơ sở chính sách và quy định cho sự phát triển sau này của hệ thống phát thanh truyền hình ở Canada trong thời đại truyền hình. Giai đoạn phát triển này của các tổ chức được đánh dấu bằng việc vào năm 1967 quốc gia này lần đầu tiên tổ chức các lễ kỷ niệm 100 năm. Điều này cho thấy sự đổi mới trong mối quan tâm về văn hoá của người dân và việc phát triển mạnh mẽ hạ tầng văn hoá, đặc biệt là ở cấp cộng đồng, thông qua các tổ chức và việc hỗ trợ tài chính cho các hoạt động nghệ thuật và di sản.
Ba thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 đã ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ về văn hoá của Canada, chủ yếu là do việc ban hành hàng loạt chính sách quốc gia và các chương trình hỗ trợ nhằm phát triển hơn nữa các lĩnh vực nghệ thuật, di sản và phát thanh truyền hình, và bắt đầu hỗ trợ các ngành kinh doanh văn hoá (bao gồm phim/video, ghi âm, xuất bản, truyền thông mới) và sửa đổi các luật như Luật Phát thanh Truyền hình (1991) và Luật Bản quyền (1988, và 1997 và 2002). Năm 1980 Bộ Truyền thông đã tiếp nhận các chương trình văn hoá và nghệ thuật sau đó chuyển giao cho Bộ Ngoại giao. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển vai trò văn hoá quốc tế của Canada bằng việc gia nhập các công ước của Liên hợp quốc, các tài năng Canada trình diễn tại các sự kiện có quy mô quốc tế như Expo 67 tổ chức tại Montreal.
Giai đoạn này cũng đánh dấu sự mở rộng chính sách và pháp luật văn hoá của Canada và đề cao việc phân chia chức năng trong các lĩnh vực văn hóa.
 II. Giới thiệu chung về phân chia quyền hạn
Phần này nhằm cung cấp chi tiết các công cụ pháp lý được sử dụng để hỗ trợ phát triển văn hoá trong báo cáo  của mỗi quốc gia.
Mục II.1. cung cấp các thông tin về quy định pháp luật tổng quan có ảnh hưởng lớn đối với văn hoá, ví dụ như các Điều trong Hiến pháp của mỗi nước hoặc văn bản khác được sử dụng để điều chỉnh phân bổ ngân sách nhà nước.
Mục II.2. đưa ra một danh mục tổng quan về các quy định pháp lý chủ yếu về văn hoá. Một số quốc gia có hàng trăm luật lệ, trong khi một số quốc gia khác lại chỉ có một “Luật Văn hoá”.
Mục II.3. cung cấp thông tin về từng lĩnh vực pháp lý cụ thể: nghệ thuật ứng dụng và nghệ thuật thị giác; nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc; di sản văn hoá; văn học và thư viện; kiến trúc và môi trường; phim, video và nhiếp ảnh; ngành kinh doanh văn hoá; truyền thông đại chúng.
1. Hiến pháp
Ở Canada thẩm quyền của Liên bang về văn hoá không được quy định trong Hiến pháp (xem phần 2.2).
2. Phân chia thẩm quyền
Toà án Tối Cao Canada, trong những vụ xét xử gần đây, đã thể hiện rõ việc phân chia thẩm quyền pháp lý đối với vấn đề văn hoá. Trong vụ kiện giữa Kitkatla Band và British Columbia (Bộ trưởng Văn hoá, Du lịch và Doanh nghiệp nhỏ), [2002] 2 S.C.R, Toà án tối cao đã phán xét, trong đó:
Hiến pháp Canada không có quy định thẩm quyền cụ thể đối với vấn đề văn hoá. Hầu hết các tranh chấp theo hiến pháp về vấn đề văn hoá đều phát sinh từ các quyền về ngôn ngữ và giáo dục. Tuy nhiên, các tỉnh có thẩm quyền lớn hơn và đa dạng hơn đối với các vấn đề văn hoá. Bên cạnh đó, chính phủ liên bang có tác động đến hoạt động văn hoá của đất nước thông qua việc thực hiện quyền lực rộng lớn của mình trên vấn đề truyền thông và thông qua việc thành lập các tổ chức văn hoá nhận hỗ trợ tài chính từ liên bang. Do đó, những vấn đề văn hoá cụ thể phải được phân tích trong bối cảnh của nó, trong mối quan hệ với các quy định pháp luật khác.
Đoạn trích trên đây đưa ra giải thích về phân chia thẩm quyền phù hợp với hiến pháp liên quan đến vấn đề “văn hoá”: vai trò của chính phủ liên bang là thông qua thực thi quyền hành pháp, và thông qua việc thành lập các tổ chức do liên bang hỗ trợ tài chính. Tuy nhiên, Toà án không đề cập dến một khía cạnh khác là thẩm quyền về chi tiêu, một yếu tố cũng cho phép chính phủ liên bang tham gia vào hoạt động văn hoá trên toàn đất nước. Thẩm quyền chi tiêu, như tên gọi của nó, chính là quyền chi tiền. Trong khi đặt ra các điều kiện và quy định về việc chi tiêu, mặc dù chính phủ có thể gây ảnh hưởng đối với người nhận các khoản tiền này, thì chính phủ cũng không có thẩm quyền ban hành luật hoặc quy định hoạt động của phía nhận tiền. Nói chung, theo Hiến pháp các tỉnh có quyền điều chỉnh hoạt động của các nghệ sĩ và doanh nghiệp địa phương, và đảm nhận trách nhiệm trong phạm vi tỉnh mình các vấn đề văn hoá, vốn được xem là một khía cạnh của thẩm quyền chung thuộc “quyền dân sự và tài sản” (mục 92(14) của Hiến Pháp, 1867).
3. Luật An sinh xã hội
Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - ảnh 3
Được ban hành năm 1995, Luật về quy chế nghệ sĩ đã chính thức công nhận những đóng góp của các nghệ sĩ đối với đời sống văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị của Canada, Luật cũng đưa ra quy chế nghề nghiệp của các nghệ sĩ. Luật còn thừa nhận quyền tự do lập hội và tự do thể hiện của các nghệ sĩ, nhà sản xuất, quyền của các tổ chức được công nhận trong luật và quyền thúc đẩy vị thế kinh tế-xã hội của những người mà tổ chức đó đại diện. Luật đã thành lập Cơ quan phân xử quan hệ nghề nghiệp giữa Nhà sản xuất và Nghệ sĩ, và ban hành một chính sách về ứng xử mối quan hệ nghề nghiệp giữa các nghệ sĩ và nhà sản xuất trong phạm vi thẩm quyền liên bang (các tổ chức của Chính phủ và hãng phát thanh truyền hình hoạt động dưới thẩm quyền của Uỷ ban Viễn thông và Phát thanh- Truyền hình).
Ở Canada pháp luật lao động thuộc thẩm quyền cấp bang nên Luật về quy chế nghệ sĩ chỉ áp dụng cho các nghệ sĩ có tham gia vào hoạt động của chính quyền liên bang. Luật này không áp dụng đối với các cá nhân trong mối quan hệ giữa người thuê lao động và người được thuê, cũng như không áp dụng đối với các nhà sản xuất và nghệ sĩ làm việc thuộc thẩm quyền của bang. Quebec là bang duy nhất có pháp luật riêng về quy chế các nghệ sĩ, (luật này ban hành trước luật liên bang). Bang Saskatchewan đã thông qua Luật về quy chế nghệ sĩ vào năm 2002, và trở thành bang đầu tiên, ngoài Quebec, đã ban hành luật về vấn đề này ở Canada. Hiện nay các nỗ lực đang được thực hiện nhằm thúc đẩy các bang khác xem xét ban hành luật về quy chế đối với nghệ sĩ.
Cơ quan Phân xử quan hệ nghề nghiệp giữa Nhà sản xuất và Nghệ sĩ đã khuyến khích xây dựng những mối quan hệ nghề nghiệp mang tính hợp tác giữa những nghệ sĩ tự doanh và các nhà sản xuất. Cơ quan này đã xác định 23 lĩnh vực hoạt động nghệ thuật và thừa nhận 21 hiệp hội văn hoá vào năm 2002. Có 14 tranh chấp đã được giải quyết, trong đó có những vụ liên quan đến các nhà sản xuất thuộc Chính phủ và những dịch vụ truyền hình đặc biệt. Tuy nhiên, cơ quan này đã không giải quyết một cách hiệu quả về vấn đề tăng thu nhập cho các nghệ sĩ làm thuê ở Canada, những người có mức thu nhập bình quân (bao gồm thu nhập từ các công việc khác) là 7300 CAD (1 Đô-la Canada = 19 128,4681 VND), trong khi thu nhập bình quân của lao động ở Canada là 31 757 CAD (Điều tra 2001). Luật này đã được xem xét sửa đổi năm 2002-2003 theo như quy định tại Điều 66 của Luật. Mặc dù Luật quy chế nghệ sĩ được ủng hộ hoàn toàn bởi những người được hỏi ý kiến, thì hầu hết mọi người đều nhận thấy rằng bản thân quy định luật không đủ để mang lại thay đổi cho tình trạng kinh tế-xã hội của các nghệ sĩ. Các tổ chức của nghệ sĩ cho rằng thiếu sót chủ yếu của luật là nó chỉ áp dụng đối với nhà sản xuất liên bang, chỉ giải quyết mối quan hệ lao động, và nó không áp dụng đối với những nhà sản xuất được nhà sản xuất liên bang thuê lại. Ngoài ra nhiều người cũng nhất trí rằng cần phải có các biện pháp khác để cải thiện tình trạng kinh tế-xã hội của những nghệ sĩ tự doanh.
4. Luật thuế
Khấu trừ thuế đối với các khoản tiền đóng góp, ủng hộ cho các tổ chức văn hoá và từ thiện phi lợi nhuận được xem là một biện pháp quan trọng để khuyến khích lòng phúc thiện. Mặc dù số lượng các tổ chức, cá nhân đóng góp đã giảm 21%, từ 571000 năm 1997 đến 451000 năm 2000, thì số tiền đóng góp lại tăng lên 22%, từ 39.4 triệu CAD năm 1997 đến 47.9 triệu CAD năm 2000, và tăng gấp đôi so với giá trị đóng góp cho các tổ chức phi lợi nhuận khác. (Xem Thống kê Canada, Điều tra quốc gia về hiến tặng, tình nguyện và tham gia 2000).
Các công ty và quỹ hội cũng đóng góp cho các tổ chức văn hoá thông qua việc quyên góp, tặng, bảo trợ. Các khoản tiền ủng hộ cho văn hoá chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như truyền thông, thông tin (truyền hình nhà nước, thư viện, các tổ chức báo chí) và nghệ thuật biểu diễn. Tính theo phần trăm, các khoản tiền đóng góp này chiếm đến 21% thu nhập của lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, và 10% đối với các tổ chức di sản. Hai lĩnh vực này đã cho thấy tiềm năng tăng trưởng trong những năm 1990, một giai đoạn khó khăn khác của các tổ chức văn hoá phi lợi nhuận.
5. Luật bản quyền
Luật bản quyền của Canada có nguồn gốc từ các tập quán pháp luật của Anglo-America (Anh-Mỹ) và châu Âu-Lục địa. Hệ thống luật Anglo-America chú trọng vào sự đóng góp của tác giả đối với toàn bộ tri thức, tư tưởng và nghệ thuật của loài người, trong khi luật bản quyền hầu như vẫn mang bản chất kinh tế. Ngược lại, hệ thống pháp luật châu Âu-lục địa, xét từ thế kỷ 18 trở đi, lại phát sinh từ truyền thống nhân quyền và nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa tác giả và sản phẩm sáng tạo của tác giả đó. Các quyền đạo đức được phân biệt rạch ròi với quyền kinh tế, quyền đạo đức nhằm bảo vệ danh tính của tác giả, do đó chúng không thể chuyển nhượng, nhưng có thể bị từ bỏ hoặc được thừa kế. Quyền đạo đức không gây ra những tranh cãi đáng kể nào xung quan vấn đề bản quyền ở Canada.
Về những mục tiêu chính sách văn hoá, bảo hộ bản quyền được xem là cơ sở cho việc thúc đẩy sáng tạo. Việc sáng tạo các sản phẩm văn hoá Canada và sự sẵn có các sản phẩm đó để người Canada có thể lựa chọn đều tuỳ thuộc vào mức độ bảo hộ đầy đủ và việc thực thi hữu hiệu đối với vấn đề bản quyền thông qua việc thu phí bản quyền. Luật Bản quyền Canada quy định quyền kinh tế và quyền đạo đức của người sáng tạo để kiểm soát việc sử dụng những tác phẩm của họ, để nhận tiền thù lao khi tác phẩm của họ được sử dụng, và để bảo vệ sự nguyên vẹn tác phẩm của họ. Tuy nhiên, Luật Bản quyền còn có mục tiêu bảo đảm sự tiếp cận của mọi người dân đối với các tác phẩm có ý nghĩa nâng cao hiểu biết về văn hoá và làm phong phú cơ cấu xã hội Canada. Năm 2000, tổng sản phẩm nội địa (GDP) của các lĩnh vực liên quan đến bản quyền (các ngành kinh doanh văn hoá và ngành kinh doanh chủ yếu dựa vào thông tin) đạt khoảng 65.9 tỉ CAD, và có mức tăng bình quân hàng năm là 6.6% từ năm 1992 đến 2000.
Luật Bản quyền được ban hành năm 1924, và được sửa đổi lại năm 1988 và 1997:
-   Năm 1997, Luật Bản quyền bổ sung: các quyền thù lao đối với nhà sản xuất và người biểu diễn trong các bản ghi âm được phát công khai qua hệ thống phát thanh truyền hình (các đài phát thanh, truyền hình, các hệ thống Cable) và tại các quán ba, nhà hàng; thuế đối với băng trắng dùng để ghi âm; quy định bảo hộ pháp lý đối với các nhà phân phối sách độc quyền ở thị trường Canada; bổ sung những ngoại lệ đối với các tổ chức giáo dục phi lợi nhuận, thư viện, phòng lưu trữ, bảo tàng, hãng phát thanh truyền hình và những người có hạn chế về nhận thức;
    -  Năm 1997, Chính phủ Canada ký Hiệp ước Bản quyền của WIPO (Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới) và Hiệp ước về biểu diễn và ghi âm. Hai điều ước này cho phép chủ sở hữu có quyền độc quyền đối với tác phẩm của mình trong việc phổ biến ra công chúng, ngăn ngừa sự xâm phạm bản quyền và chống can thiệp vào việc quản lí thông tin. Canada đã tham khảo ý kiến rộng rãi của công luận về việc phê chuẩn điều ước này trong tương lai.
   Trách nhiệm về chính sách bản quyền được chia sẻ giữa Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Bộ trưởng Bộ Di sản, tuỳ thuộc vào các vấn đề liên quan của mỗi bộ. Bộ Công nghiệp liên quan đến sự tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức và sự đổi mới, trong khi đó Bộ Di sản lại liên quan đến việc thúc đẩy chính sách văn hoá và quyền của người sáng tạo. Tháng 6/2001, cả hai bộ trưởng đã công bố những tiến triển về quá trình lấy ý kiến đối với các vấn đề bản quyền thuộc kỹ thuật số, và ban hành một văn kiện, Khung cải cách bản quyền. Văn bản này đã thừa nhận sự thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật và những diễn biến quốc tế ảnh hưởng đến vấn đề bản quyền, do đó việc sửa đổi bổ sung Luật Bản quyền chưa hẳn là phương pháp tối ưu để cải các vấn đề bản quyền. Văn bản này còn xác định các vấn đề trước mắt cần giải quyết và vạch ra một tiến trình lấy ý kiến (về việc cải cách). Tháng 10/ 2002, một Báo cáo về các quy định và việc thực thi luật bản quyền (Báo cáo 92) đã được trình lên Nghị viện về việc thực hiện Luật sửa đổi năm 1997 của Luật Bản quyền. Các vấn đề ngắn hạn sau đây cũng đã được xác định, bao gồm: việc thực hiện Điều ước của WIPO (Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới), Trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ Internet (SIP), vấn đề nhiếp ảnh (quyền tác giả, mở rộng phạm vi bảo hộ, quyền sở hữu đối với tác phẩm đặt hàng), việc tiếp cận (sử dụng nhằm mục đích giáo dục đối với các tư liệu sẵn có trên internet, cải tiến công nghệ cho việc giáo dục từ xa, ứng dụng kỹ thuật số vào hệ thống các thư viện) nạn sao chép lậu. Các vấn đề mang tính dài hạn: ngoại lệ đối với việc sao chép lại các bản ghi âm của những hãng phát thanh truyền hình, cơ chế xử lý vấn đề sao chép lậu (nói chung), và quyền tác giả đối với các tác phẩm âm thanh-hình ảnh.
Tháng 10/ 2003, Uỷ ban thường trực về di sản bắt đầu tiến hành xem xét Báo cáo 92, bao gồm cả một số các vấn đề “đã được giải quyết” như các Điều ước của WIPO và vấn đề nhiếp ảnh, những vấn đề “chưa được giải quyết” như trách nhiệm của các SIP và việc tiếp cận. Tháng 5/2004, Uỷ ban thường trực về di sản đã công bố Báo cáo tạm thời, trong đó giải quyết một số vấn đề. Một dự luật về cải cách bản quyền có thể sẽ được trình lên nghị viện trong năm tới.
Cải cách bản quyền dẫn đến việc ban hành Dự luật Bill-C48, dự luật này đã được chấp thuận vào tháng 12/ 2002. Đối với Internet, dự luật không áp dụng giấy phép phát lại bắt buộc được quy định trong Luật Bản Quyền, mà quy định rõ ràng rằng hệ thống phân phối hiện nay như cable và vệ tinh có thể tiếp tục phát lại trên sóng phát thanh và truyền hình bằng cách trả tiền bản quyền theo quy định của Uỷ ban Bản quyền căn cứ vào cấp phép bắt buộc đối với việc phát lại tín hiệu. Dự luật này cũng thành lập một cơ chế quản lý theo đó sẽ cho phép những hình thức phân phối mới, bao gồm internet, để phát lại các tín hiệu sóng với điều kiện phải đáp ứng được một số quy định. Tuy nhiên, ngoài các tổ chức truyền thông mới, những tổ chức sử dụng Internet để truyền phát lại tín hiệu sẽ không được hưởng lợi từ quy định giấy phép bắt buộc, mà còn phải trả tiền bản quyền cho bên phát tín hiệu ban đầu.
6. Luật bảo vệ dữ liệu
Mặc dù không có luật cụ thể quy định việc bảo vệ dữ liệu trong lĩnh vực văn hoá, các quy định của liên bang có thể áp dụng chung cho vấn đề này được thể hiện trong Luật về bí mật.
7. Luật ngôn ngữ
Điều 41 và 42 Luật Ngôn ngữ chính thức quy định Chính phủ liên bang phải thúc đẩy việc sử dụng tiếng Anh và tiếng Pháp ở những cộng đồng thiểu số, cũng như thúc đẩy sự nhận thức và sử dụng tiếng Anh và tiếng Pháp trong toàn bộ xã hội Canada. Luật này không chỉ bảo đảm rằng các cộng đồng thiểu số được sử dụng ngôn ngữ riêng trong các hoạt động của mình, mà còn thúc đẩy các tổ chức liên bang đóng góp  tích cực vào sự phát triển và tồn tại của các ngôn ngữ này. Do đó, các chương trình và chính sách văn hoá của liên bang phải được xây dựng cho phù hợp với hai cộng đồng ngôn ngữ và hai thị trường tách biệt nhau.
8. Luật văn hoá
Vấn đề văn hoá không được quy định rõ trong hiến pháp Canada. Ban đầu, các bang có thẩm quyền đối với vấn đề văn hoá và điều này được cho là đương nhiên. Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ 20 Chính phủ liên bang đã can thiệp sâu hơn vào lĩnh vực văn hoá thông qua việc thực hiện thẩm quyền chi tiêu. Trong lĩnh vực văn hoá và truyền thông, chính quyền liên bang duy trì thẩm quyền đối với các vấn đề thuộc lợi ích chung của quốc gia (“hoà bình, trật tự và quản lý nhà nước”) và những tài sản dùng để truyền tín hiệu phát thanh, truyền hình và viễn thông giữa các tỉnh cũng như trên quốc tế. Vào cuối những năm 1970, Toà án Tối cao Canada đã mở rộng thẩm quyền của liên bang đối với việc quản lý truyền hình cáp, và năm 1989 Toà Tối cao đã ra phán quyết rằng mạng lưới viễn thông quốc gia cũng là một phần không thể tách rời thuộc quản lý của chính quyền liên bang.
Chính phủ liên bang đã thực hiện thẩm quyền đối với việc phát sóng, cấp phép đối với các chương trình giáo dục qua phát thanh, truyền hình của bang. Các vấn đề văn hoá, bao gồm cả nghệ thuật, di sản và các ngành kinh doanh văn hoá, thì liên bang và các bang chia sẻ thẩm quyền với nhau. Khác với các bang khác, Quebec duy trì các chương trình và chính sách văn hoá cho riêng mình, điều này là do mối liên hệ của bang này với văn hoá ngôn ngữ Pháp.
Sau đây là danh sách các văn bản luật quan trọng phản ánh chính sách văn hoá ở Canada (một số luật liệt kê dưới đây có ghi chú năm ban hành là 1985 bởi vì chúng được tập hợp lại thành văn bản thống nhất vào năm 1985):
- Luật Phát thanh Truyền hình (1991);
- Luật về Hội đồng nghệ thuật Canada (1985);
- Luật Hỗ trợ triển lãm lưu động (1999);
- Hiến chương Canada về Quyền và tự do (1982);
- Luật đa văn hoá Canada (1985);
- Luật Uỷ ban Viễn thông và Phát thanh-Truyền hình Canada (1985);
- Luật Bản quyền (1985 -- ban hành lần đầu tiên vào năm 1924);
- Luật Xuất khẩu và nhập khẩu tài sản văn hoá (1977);
- Luật thành lập Bộ Di sản Canada (1995);
- Luật Thuế thu nhập (1985);
- Luật về Dịch vụ quảng cáo của Nhà xuất bản nước ngoài (1999);
- Luật Bảo tàng (1990);
- Luật Trung tâm nghệ thuật quốc gia (1985);
- Luật về các chiến trường ở Quebec (1908);
-Luật Phim Quốc gia (1985);
- Luật Ngôn ngữ chính thức (1988);
-  Luật về quy chế nghệ sĩ (1992);
 - Luật  Phim Truyền hình Canada (1985).
III. Các quy định cụ thể
1. Di sản văn hoá
Có một số luật của liên bang điều chỉnh về di sản văn hoá. Năm 2004, một số luật áp dụng cho di sản văn hoá đã được chuyển giao cho Bộ trưởng Bộ Môi trường. Dự luật C-7 được ban hành nhằm sửa đổi Luật thành lập Bộ Di sản và Luật về Cơ quan quản lý vườn Quốc gia (Parks Canada Agency Act). Dự luật này đã thay thế mục 4(1) của Luật về Cơ quan Quản lý vườn Quốc gia bằng quy định mới, trong đó liệt kê nhiều vấn đề mà hiện nay thuộc thẩm quyền của cơ quan này. Tóm lại, tất cả các vấn đề về di sản xây dựng - các kênh đào, nhà ga, toà nhà, và di tích lịch sử - đều thuộc thẩm quyền của Cơ quan Quản lý vườn Quốc gia. Cơ quan này chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Môi trường. Bộ Di sản Canada và Bộ trưởng có thẩm quyền quản lý đối với các tổ chức di sản Quốc gia, việc bảo vệ tài sản văn hoá di dời được và Uỷ ban Chiến trường Quốc gia.
Các luật sau đây điều chỉnh vấn đề di sản văn hoá:
* Luật Xuất khẩu và nhập khẩu tài sản văn hoá (1977): luật này điều chỉnh việc xuất khẩu các tài sản văn hoá từ Canada ra nước ngoài, và việc nhập khẩu các tài sản văn hoá vào Canada mà những tài sản này đã được xuất khẩu bất hợp pháp từ nước ngoài;
* Luật Thuế thu nhập: quy định việc miễn trừ các khoản thuế lợi vốn đối với các tài sản văn hoá đã được thừa nhận, mà tài sản đó được tặng hoặc bán cho những tổ chức được chỉ định hoặc cơ quan nhà nước ở Canada; các món quà tặng là tài sản văn hoá cũng được miễn thuế;
* Luật Hỗ trợ triển lãm lưu động: luật này quy định biện pháp bồi thường cho các triển lãm lưu động trong trường hợp có hư hỏng hoặc mất mát;
* Luật vườn Quốc gia Canada (2000): điều chỉnh các vấn đề liên quan đến vườn Quốc gia Canada;
* Luật Cơ quan quản lý vườn Quốc gia (1998): quy định khuôn khổ hoạt động mới cho các Cơ quan quản lý vườn Quốc gia, và các cơ quan của Chính phủ liên bang hoạt động trong lĩnh vực này;
* Luật các Công trình và di tích lịch sử (1985): Luật đã thành lập Uỷ ban Canada về các công trình và di tích lịch sử;
* Luật Bảo vệ các nhà ga Di sản (1985): theo Luật này Bộ trưởng Bộ Môi trường có trách nhiệm phải thực hiện phá bỏ hoặc sửa đổi một số nhà ga xe lửa đã được chỉ định;
* Luật Thành lập Bộ Giao thông: Quy chế Kênh đào lịch sử ban hành kèm theo luật này để quy định vấn đề gìn giữ các kênh đào có giá trị lịch sử;
* Luật Vận tải đường thủy (2001): Quy chế Di sản các tàu bị đắm được ban hành kèm theo luật này nhằm bảo vệ di vật của các tàu bị đắm. Luật liên bang không có quy định liên quan đến khảo cổ;
* Luật về Ngôi nhà của Laurier (1952): luật này quy định việc quản lý và gìn giữ ngôi nhà của Thủ tướng Wilfred Laurier;
Luật về các chiến trường Quốc gia ở Quebec (1908): luật này quy định việc gìn giữ các di tích chiến trường lịch sử (Đồng bằng Abraham) ở Quebec.
2. Luật văn học và thư viện
Luật Thư viện và lưu trữ Canada: luật này đã sáp nhập hai cơ quan Thư viện Quốc gia Canada và Phòng Lưu trữ Canada thành một cơ quan duy nhất.
Một chương trình quan trọng của liên bang, Chương trình Bản quyền cho thuê sách (PLR) được ban hành năm 1986 và do Uỷ ban Bản quyền cho thuê sách quản lý. Bản quyền cho thuê sách là khoản tiền mà các thư viện phải trả cho các tác giả Canada do việc lưu giữ các sách của các tác giả này. Có trên 14000 nhà văn, dịch giả và người vẽ minh hoạ trên toàn Canada nhận được tổng số tiền gần 9 triệu CAD trong năm 2003-2004. Chương trình bản quyền cho thuê sách hoạt động dưới sự bảo trợ của Hội đồng Nghệ thuật Canada.
3.Luật phim, video và nhiếp ảnh
Có hai luật áp dụng trong lĩnh vực phim ở cấp liên bang: Luật Phim Quốc gia áp dụng cho Uỷ ban Phim Quốc gia và Luật Phim Truyền hình áp dụng cho Hãng phim truyền hình Canada.
Năm 1997, Chính phủ Canada ban hành hai chương trình là Khấu trừ thuế đối với sản xuất phim và video (CPTC), và chương trình Khấu trừ thuế đối với dịch vụ phim và video (PSTC). Chương trình CPTC có thể thực hiện khấu trừ lên đến 12% tổng chi phí sản xuất. Chương trình PSTC thực hiện khấu trừ lên đến 11% của tiền lương và tiền công trả cho những người cư trú tại Canada hoặc công ty Canada bị đánh thuế vì dịch vụ họ đã cung cấp cho việc sản xuất phim ở Canada.
Ngày 14/11/ 2003, một dự thảo luật sửa đổi Luật Thuế thu nhập liên quan đến Chương trình khấu trừ thuế đối với sản xuất phim và video đã được trình lên Nghị viện. CPTC thực hiện hỗ trợ đối với sản xuất phim và video ở Canada bằng cách tăng tỉ lệ khấu trừ thuế lên đến 25% chi phí trả cho lao động. Mục đích của sửa đổi này là đơn giản hoá việc khấu trừ thuế . Luật sửa đổi bao gồm những nội dung sau:
* Hạn chế về mức chi phí lao động tăng lên 60% tổng chi phí, trước đây tỉ lệ này là 48%.
* Chi phí cho lao động người nước ngoài không thuộc diện được khấu trừ thuế;
* Cá nhân đầu tư vào sản xuất phim và video giờ đây cũng có thể được khấu trừ thuế, trừ phi việc sản xuất hoặc một trong các nhà đầu tư có liên quan đến việc trốn thuế. Tuy nhiên, việc khấu trừ vẫn được thực hiện đối với chi phí sản xuất của công ty sản xuất;
* Nếu một cơ quan chính phủ là nhà đầu tư, khi khoản đầu tư đó sẽ được xem như là những hình thức hỗ trợ khác của Chính phủ.
Ngày 18/2/ 2003, tỉ lệ khấu trừ thuế tăng từ 11% lên 16% đối với lương và tiền công trả cho lao động người Canada hoặc công ty Canada bị đánh thuế (đối với số tiền trả cho các lao động là người canada) cho dịch vụ cung cấp cho sản xuất phim và video ở Canada. Khoản khấu trừ này không phản ánh hết số chi phí đã trả cho lao động.
Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - ảnh 4
Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - ảnh 5
Canada: Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa - ảnh 6
4.Luật các ngành kinh doanh văn hoá
Ở cấp liên bang không có một khung pháp lý nào điều chỉnh hoạt động của các ngành kinh doanh văn hoá. Các ngành kinh doanh văn hoá bao gồm phim và video, ghi âm, và xuất bản. ở đâu có các cơ quan quản lý di sản tham gia, ở đó sẽ có luật ban hành. Lĩnh vực phát thanh truyền hình có quy định riêng. Xem phần 5.3.6 và 5.3.9 để biết thêm thông tin.
5. Quy định đối với nghệ sĩ tự doanh
Nhà văn và nghệ sĩ nghệ thuật thị giác: nghệ sĩ nghệ thuật thị giác và nhà văn là những người tự doanh được hưởng khấu trừ chi phí hợp lý phát sinh liên quan đến các hoạt động tạo thu nhập, bao gồm cả chi phí làm việc tại nhà, hội phí thành viên của các hiệp hội nghề nghiệp. Nghệ sĩ nghệ thuật thị giác và nhà văn, nếu là những người làm thuê, thì có thể khấu trừ, với một số hạn chế nhất định, các chi phí họ bỏ ra (ví dụ như chi phí quảng cáo, đi lại) để trong khi thực hiện các hoạt động nghệ thuật được công nhận (để thực hiện khấu trừ). Các hoạt động này bao gồm:
* Sáng tạo (không phải là tái tạo) tranh, bản in, khắc acid, kí hoạ, điêu khắc hoặc các công việc nghệ thuật tương tự;
* Sáng tác kịch, âm nhạc hoặc văn học;
* Biểu diễn kịch, âm nhạc với tư cách là diễn viên, vũ công, ca sĩ và nhạc công;
* Hoạt động nghệ thuật mà trong đó người đóng thuế là thành viên của một hiệp hội nghệ sĩ. Hiệp hội này được Bộ trưởng Bộ truyền thông, nay là Bộ trưởng Bộ Di sản, thừa nhận.
Nghệ sĩ biểu diễn, nếu là người tự doanh, có thể khấu trừ các chi phí kinh doanh hợp lí, bao gồm: phí bảo hiểm đối với nhạc cụ và thiết bị, chi phí sửa chữa nhạc cụ và thiết bị, phí luật sư và kế toán, phí hội đoàn và phí thành viên của các tổ chức, hoa hồng đại lý, chi phí quảng cáo, phí đi lại để thực hiện một công việc, chi phí cho các khoá học nhạc, học diễn xuất nhằm mục đích phục vụ cho vai diễn hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Nghệ sĩ, nếu là người làm thuê, có thể khấu trừ các khoản chi phí việc làm hợp lý, với một số hạn chế nhất định (chi phí quảng cáo, tiếp thị, hoặc đi lại). Một nhạc công làm thuê theo hợp đồng một năm, và theo quy định trong hợp đồng sẽ được cung cấp nhạc cụ trong khi làm việc, thì người đó có thể khấu trừ các khoản chi phí liên quan đến nhạc cụ đó (ví dụ như số tiền bảo dưỡng, tiền thuê và bảo hiểm nhạc cụ).
Nghệ sĩ được khấu trừ thuế thu nhập, được tính dựa trên giá trị thị trường, đối với việc tặng quà (các tác phẩm) cho các tổ chức và cơ quan nhà nước được quy định tại Luật Xuất khẩu và Nhập khẩu Tài sản Văn hoá. Luật này điều chỉnh việc xuất khẩu và nhập khẩu tài sản văn hoá, và quy định các biện pháp ưu đãi thuế để khuyến khích người dân, tổ chức tặng hoặc bán những tài sản văn hoá có giá trị cho các tổ chức của nhà nước. Một cơ quan hành chính độc lập có trách nhiệm xác nhận các tài sản văn hoá nhằm mục đích tính thuế bằng cách xác định “ý nghĩa nổi bật và tầm quan trọng đối với quốc gia” của tài sản văn hoá cũng như giá trị thị trường của nó, khi nó được tặng cho hoặc bán cho các bảo tàng, phòng lưu trữ và thư viện. Đây là chương trình khấu trừ thuế áp dụng cho “những người ủng hộ” tài sản văn hoá, và nó cũng áp dụng cho nghệ sĩ nếu người này thực sự sở hữu tác phẩm nghệ thuật tại thời điểm tặng cho. Đối tượng áp dụng chung của chương trình này là bất cứ người đóng thuế nào ở Canada muốn tặng tài sản văn hoá cho các tổ chức của nhà nước. Các tổ chức hoạt động nghệ thuật, được Bộ trưởng Bộ Di sản và Bộ trưởng Thuế vụ công nhận là có quy chế từ thiện (charitable status), có thể kí phát các biên lai, hoá đơn cho những người tặng tài sản để họ có thể thực hiện khấu trừ thuế.
6. Truyền thông đại chúng
Hạn mức truyền hình được Uỷ ban truyền thông và phát thanh – truyền hình Canada (CRTC) quản lý dựa trên quyền sở hữu đối với công ty sản xuất. Chi phí trả cho các dịch vụ hoặc chi phí phát sinh ở Canada, và trong hầu hết các trường hợp là dựa trên quốc tịch của nhà sản xuất và nhân viên chủ chốt. CRTC (Uỷ ban truyền thông và phát thanh – truyền hình Canada) xem các chương trình thuộc Canada nếu nhà sản xuất là người Canada, hoặc nhân viên chủ chốt của đơn vị sản xuất là người Canada và ít nhất 75% phí dịch vụ và chi phí sau sản xuất được trả cho cá nhân hoặc tổ chức Canada. Hạn mức về nội dung Canada trên sóng radio, 35% thời lượng phát sóng, được quản lý theo hệ thống MAPL (âm nhạc, nghệ sĩ, quá trình sản xuất, lời bài hát được ưa chuộng), hệ thống này khuyến khích việc giới thiệu các nghệ sĩ biểu diễn, người viết lời nhạc, nhạc sĩ tới công chúng Canada và thúc đẩy ngành công nghiệp âm nhạc. CRTC (Uỷ ban Truyền thông và Phát thanh – Truyền hình Canada) phát sóng 65% nội dung âm nhạc Pháp.
Năm 2002, Chính phủ xác định lại các quy định về hàm lượng Canada trong sản xuất phim và truyền hình. Việc phát sóng các nội dung Canada, đối với truyền hình là 60%, từ 18h đến 24h hàng ngày. Quy định này không đồng nghĩa với việc các chương trình cũng được xem với mức độ như vậy. Ví dụ, năm 2002, số lượng người xem chương trình truyền hình tiếng Anh của Canada trong giờ cao điểm (19h đến 23h) là 20%, trong khi đó tỉ lệ người xem chương trình truyền hình Canada bằng tiếng Pháp là 77.7%. Từ năm 1991 đến 2001 tỉ lệ xem chương trình Canada bình quân là 41.7%, và năm 2002 là 42.5%. Năm 2002, các chương trình Canada bằng tiếng Pháp thu hút 76% trên tổng số người xem chương trình tiếng Pháp. Số người nói tiếng Anh xem các chương trình kịch Canada trên truyền hình chỉ còn 11%. Trong khi đó tỉ lệ người nói tiếng Pháp xem các chương trình kịch Canada trên truyền hình tăng từ 43% năm 2000 đến 48% năm 2002.
Những người chỉ trích cho rằng nên xác định lại hàm lượng Canada theo các tiêu chí khác thay vì “quyền công dân” hoặc “nơi cư trú”. Chẳng hạn có thể xem xét các yếu tố như đề tài, nơi sản xuất hoặc sau sản xuất, bản quyền, quyền phân phối quốc tế và trong nước. Ngoài ra người ta còn đề nghị rằng, đối với các chương trình của hãng truyền hình tư nhân, nên xác định hàm lượng Canada theo tỉ lệ ngân sách thay vì tỉ lệ thời gian phát sóng. Hiện tại, với mức chi tiêu rất lớn của các hãng truyền hình Canada (truyền hình tư nhân, nhà nước, truyền hình có thu phí và các dịch vụ kết hợp) đối với việc phát sóng các chương trình Canada (1.3 tỉ CAD năm 2003) và nguồn trợ cấp rất lớn của liên bang đối với các chương trình canada (trên 1.4 tỉ CAD), chỉ có một chương trình của Canada trong số 20 chương trình truyền hình tiếng Anh được người xem yêu thích nhất. Trong khi đó, ở Quebec, 19 trong số 20 chương trình được yêu thích lại do Canada sản xuất. Mức độ xem các chương trình bằng tiếng Anh của Canada rất thấp nếu so với các nước sử dụng tiếng Anh khác như Vương quốc Anh là 9, và úc là 8 trong số các chương trình được yêu thích nhất là do trong nước sản xuất. Đối với truyền hình bằng tiếng Pháp tình hình lại hoàn toàn khác, nguyên nhân chủ yếu là ngôn ngữ đóng vai trò rào cản đối với sự cạnh tranh của đài nước ngoài. Hãng phim truyền hình đang xem xét thay đổi việc hỗ trợ tài chính đối với các chương trình, theo đó những chương trình được hỗ trợ phải có chiến lược marketing và thu hút khán giả.
Tháng 6/ 2003, Báo cáo về Nội dung Canada trong các sản phẩm phim và Truyền hình Thế kỷ 21 (Francois Macerola) đã đưa ra 11 khuyến nghị đối với Chính phủ, trong số đó có các khuyến nghị đáng chú ý sau đây: (1) thay thế thế thống chi tiêu hiện nay bằng một mô hình chi tiêu linh hoạt hơn; (2) thành lập một tổ chức chịu trách nhiệm chứng nhận về nội dung Canada là: Uỷ ban nội dung Canada; (3) mở rộng chương trình Khấu trừ thuế sản xuất phim và video Canada; (4) Canada nên tìm cách để được hưởng các đối xử ưu đãi và quy chế hợp tác đặc biệt với các tổ chức đa phương quan trọng, đặc biệt là những tổ chức thuộc Liên minh châu Âu; (5) các công ty thuộc sở hữu Canada, hoặc phía Canada nắm quyền kiểm soát vẫn tiếp tục thực hiện phân phối các phim truyện Canada.
7. Các vấn đề khác
Điều 35 Luật Hiến pháp 1982, là một phần trong khung pháp lý quy định về thúc đẩy các quyền của công dân và chống lại việc phân biệt đối xử giữa các công dân. Nó cũng khẳng định rằng dân tộc bản địa và các quyền lợi của các dân tộc này (First nation, métis, inuit) là trung tâm trong mối quan hệ giữa người bản địa và Chính phủ Canada. Vào năm 1995 Chính phủ Canada đã thừa nhận quyền tự trị của người bản địa thông qua Chính sách tự trị của người bản địa: Quyền bất di bất dịch và những thoả thuận. Sự thừa nhận này dựa trên quan điểm cho rằng người bản địa có quyền tự quyết định đối với các vấn đề nội bộ của cộng đồng, vấn đề thuộc về văn hoá của họ, vấn đề bản sắc, truyền thống, ngôn ngữ và thể chế, những vấn đề liên quan đến mối quan hệ đặc biệt giữa dân tộc bản địa với đất đai và tài nguyên của họ. Hiện tại có khoảng 75 hiệp ước và thoả thuận tự trị (giữa chính phủ Canada) với các nhóm dân tộc bản địa.
Hồng Nhung lược dịch - Nguồn: Culturalpolicies
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác