Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa

Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 1
Ảnh minh họa
(Cinet)- Lịch sử văn hóa Liên bang Nga từ năm 1990 đã có sự chuyển biến quan trọng đó là sự chuyển dịch từ mô hình chính sách văn hóa Xô Viết sang mô hình mới. Các xu hướng chính của chính sách là nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa Nga và cung cấp sự tiếp cận bình đẳng tới các sản phẩm văn hóa; cung cấp chất lượng và đa dạng các dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật; hiện đại hóa các tổ chức văn hóa;…

1. Bối cảnh lịch sử: Các chính sách và các công cụ văn hóa
Chính sách văn hóa trong thời kỳ liên minh Xô Viết bị ảnh hưởng bởi chính sách tư tưởng “Mác-Lênin”. Chính sách  thời kỳ này được duy trì trong những năm 1920 và 1930. Đến những năm 1940, nó được phát triển và chú trọng đến vấn đề củng cố bản sắc lịch sử. Chính sách này vẫn gần như không thay đổi đến tận cuối những năm 1980, mặc dù có một số thay đổi nhỏ. Các thay đổi đó bao gồm:
  • Thành lập mạng lưới các viện văn hóa nhà nước rộng lớn;
  • Hình thành hệ thống kiểm soát hệ tư tưởng và quản lý tập trung;
  • Ban hành các quy định có liên quan; và
  • Hỗ trợ văn hóa hiện đại hoặc cổ điển.
Thiết lập ưu tiên đối với các công cụ văn hóa có tiềm năng lớn nhất đó để phổ biến thông tin: truyền thanh, điện ảnh, báo chí và từ những năm 1960 trở đi ngày càng chú trọng vào truyền hình. Nhiệm vụ chính của hệ thống này gọi là “liên minh sáng tạo”, bao gồm các hình thái nghệ thuật chính, nhằm kiểm soát cộng động nghệ thuật và giới trí thức và tổ chức các hoạt động chuyên nghiệp theo các nhu cầu của đảng cộng sản.
Năm 1953, Bộ Văn hóa của liên minh Xô Viết, và sau đó là của từng nước Cộng hòa Xô Viết được thành lập. Kết quả là Bộ máy độc tài Xô Viết khép kín về quản lý văn hóa, tương đương với hệ thống chung của chính phủ. Mặc dù hệ thống này như vậy, nhưng đời sống văn hóa cả nước vẫn khá phong phú, và đa dạng do sự tham gia của công chúng trong các hoạt động văn hóa được tổ chức chính thức và là một trong các mục đích chính trị. Ngay sau khi việc kiểm soát được nới lỏng, các xu hướng tiềm tàng trở nên rõ nét.
Trong giữa những năm 1980, đã có những thay đổi thực sự, giảm áp lực ý thức hệ đối với phương tiện truyền thông đại chúng và kiểm soát hành chính đối với các viện giáo dục và văn hóa. Giới trí thức, nghệ sỹ và lao động văn hóa trở thành những người hỗ trợ hăng hái nhất của phong trào cải cách.
Năm 1990, Luật báo chí và truyền thông đại chúng khác chấm dứt quyền kiểm duyệt nhà nước, do đó tuyên bố bãi bỏ kiểm soát ý thức hệ. Đầu những năm 1990, nhà nước cũng thu hẹp tham gia về quản lý các vấn đề văn hóa. Do cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị lên đến đỉnh điểm, nhà nước mất lợi ích trong các vấn đề văn hóa…Liên minh Xô Viết sụp đổ.
Tháng 12 năm 1991, Liên bang Nga được thành lập với hình thái nhà nước độc lập; nguyên tắc của đảng cộng sản đã bị bài trừ; Những người đại diện cho các dân tộc Xô Viết đã được đổi tên gọi thành Dumas (gần như thời kỳ thoái trào của chế độ Nga Hoàng); tuy nhiên, cơ cấu liên bang phức tạp của nước cộng hòa Xô Viết liên bang xã hội chủ nghĩa Nga đã được duy trì. Giai đoạn chuyển giao căn bản trong các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội mở ra và gần đây được gọi là “thập kỷ gây sốc nền văn hóa”.
Trong giữa những năm 1990, Chương trình liên bang phát triển văn hóa cho giai đoạn 1997-99 kết nối các mục tiêu chính trị và xã hội được định hướng thiên về phát triển hơn bảo tồn, nhưng do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tiếp tục diễn ra, các mục tiêu đó, đặc biệt là các mục tiêu phát triển, vẫn chưa đạt được. Tuy nhiên, đơi sống văn  hóa trở nên đa dạng, thay đổi sở thích và phương thức tiêu thụ.
Năm 1999 là năm đầu tiên mà ngân sách văn hóa nhà nước giành được, cho thấy một bước ngoặt về sự ổn định. Tuy nhiên, sự tôn trọng của công chúng với văn hóa và nghệ thuật, đặc biệt với nền văn  hóa và chất lượng nghệ thuật cao, vẫn chỉ được coi là các hoạt động thương mại.
Ngay đầu thế kỷ 21, người ta thừa nhận rằng việc bãi bỏ kiểm soát hệ tư tưởng và trao quyền tự do biểu hiện không đủ để hỗ trợ phát triển văn hóa. Các cuộc thảo luận công về các chính sách văn  hóa được tập trung về hai cực đối lập: mở rộng hỗ trợ nhà nước đối với sản xuất văn hóa và tất cả các loại hình viện văn hóa, đài tưởng niệm vv; được hỗ trợ bởi nhà nước và thay đổi vai trò pháp lý của họ, bao gồm cổ phần hóa.
Từ năm 2003, chính quyền liên bang, với tinh thần chi tiêu ngân sách  hiệu quả và minh bạch hơn:
  • Phân chia lại trách nhiệm giữa 3 cấp quản lý hành ;
  • Cho ra đời ngân sách vận hành;
  • Phân bổ các quỹ tài trợ ngân sách;
  • Thành lập các hình thái pháp chế mới cho các tổ chức phi thương mại (NCO) để khuyến khích tái cơ cấu thể chế lĩnh vực văn hóa ; và
  • Xúc tiến phát triển các mối quan hệ công – tư, cổ phần hóa trong lĩnh vực văn hóa xã hội.
Năm 2004, hệ thống chính quyền Nga được tổ chức lại với khuôn khổ cải cách hành chính. Các cơ quan điều hành liên bang được tổ chức ở 3 cấp: Bộ, các cơ quan giám sát và các cơ quan quản lý hành chính.
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 2
Ảnh minh họa
2. Mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hóa
2.1. Các đặc điểm chính của mô hình chính sách văn hóa hiện nay
Theo Luật cơ bản về văn hóa (1992), chính sách văn hóa nhà nước nghĩa là các nguyên tắc và chuẩn mực mà nhà nước tuân theo trong các hoạt động của mình nhằm bảo tồn, phát triển và phổ biến văn hóa và các hoạt động nhà nước trong lĩnh vực này.
Trong những thập kỷ qua, các ưu tiên chính sách văn hóa chuyển đổi từ quản lý hành chính nhà nước về các viện văn hóa và ngân sách, chủ yếu bảo tồn di sản, sang các nguyên tắc đa dạng hơn về quản lý các vấn đề văn hóa. Theo đó, mô hình chính sách văn hóa tiến triển từ tập trung và dựa vào quản trị nhà nước sang mô hình thương mại hóa và phức tạp hơn. Các nhà lập chính sách văn hóa mới nổi lên, bao gồm các chính quyền tự trị địa phương, các tổ chức tư nhân; nền kinh tế văn hóa và quản lý văn hóa trở nên phức tạp hơn.
Các biện pháp về đặc điểm quản lý hành chính và chính trị ảnh hưởng sâu sắc ngành văn hóa do nhà nước vẫn giữ vai trò chính về chính sách văn hóa. Việc phi tập trung trách nhiệm, sự gia tăng về các trách nhiệm văn hóa của các nhà lập chính sách khu vực và địa phương, phát triển nghệ thuật đương đại, văn hóa truyền thông, các ngành văn hóa và giải trí, gần như độc lập với các chính sách văn hóa nhà nước, giúp cho bức tranh văn hóa trở nên đa dạng và thay đổi.
Ở cấp khu vực, đã có những nỗ lực được thực hiện để cho ra đời mô hình chính sách văn hóa theo định hướng đổi mới về năng lực cạnh tranh cao hơn của các viện văn hóa, tiếp cận rộng hơn và tham gia vào đời sống văn hóa.
2.2. Định nghĩa về văn hóa
Hiểu biết về văn hóa quốc gia dựa trên sự kính trọng cao đối với vai trò chuẩn mực đạo đức và xã hội. Ý tưởng này được hình thành bởi tầng lớp trí thức Nga, và được thừa nhận là một trong nhận thức của đại bộ phận người dân và được giới thiệu trong diễn thuyết chính trị. Đối với một nhà nước dân chủ phi tôn giáo có nền đa văn hóa đa dạng như nước Nga, vai trò chính của văn hóa được hiểu một cách rộng rãi là cung cấp cơ sở cho các định hướng đạo đức và tinh thần, cho biểu tượng gắn kết xã hội và hình thành các ý tưởng  quốc gia, và là nền tảng thống nhất quốc gia.
Tuy nhiên, không có định nghĩa về văn hóa trong Luật cơ sở về văn hóa (1992) liên quan tới các định nghĩa, bao gồm các khái niệm về giá trị văn hóa, hàng hóa và các hoạt động của di sản văn hóa và tài sản, của chính sách văn hóa và những người lao động sáng tạo, nhưng bỏ qua “văn hóa”. Một nỗ lực đã được thực hiện để giới thiệu định nghĩa “thuộc nhân loại” về “văn hóa” trong dự thảo luật về văn hóa của Liên bang Nga (2010), dự thảo này sẽ sát hơn với dự thảo được UNESCO giới thiệu, tuy nhiên không thành công.
Gần đây, ở tất cả các cấp chính thống, văn hóa và di sản văn hóa được chú trong trong tổng thể hệ thống các giá trị củng cố bản sắc dân tộc, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của xã hội và được coi là cội nguồn của lòng tự hào và yêu nước. Trong tiềm thức của người dân, văn hóa cũng được hiểu là tài sản công và trách nhiệm công; văn hóa cũng bao gồm phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò như một công cụ để phổ biến rộng rãi. Ý tưởng biến các tổ chức văn hóa và các viện bảo tàng từ quản lý nhà nước và thay thế chúng bằng quản lý tư nhân không thuyết phục được công chúng hay các chuyên gia văn hóa. Những thái độ đó bắt nguồn từ những đánh giá vẫn còn thấp về các sáng kiến tư nhân và các tổ chức phi chính phủ.
2.3. Các mục tiêu chính sách văn hóa
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 3
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 4
“Chiến lược 2020” của chính phủ kết nối đổi mới và đầu tư rộng rãi về nguồn nhân lực cần thiết và tương ứng với sự phát triển giáo dục, khoa học và văn hóa. Chiến lược cũng đề xuất các mốc quan trọng và các chỉ số có liên quan để gia tăng khai thác các tổ chức văn hóa và chất lượng của trang thiết bị cơ sở vật chất có liên quan để hiện đại hóa mạng lưới các tổ chức văn hóa nhà nước và cung cấp tiếp cận bình đẳng và tổng thể tới sản phẩm và dịch vụ văn hóa.
Chương trình chiến lược liên bang văn hóa Nga (2012-2018), tích lũy ngân sách dành cho các hoạt động quan trọng nhất trong công tác quản lý văn hóa truyền thống, đặt các chiến lược như sau:
  • Bảo tồn bản sắc văn hóa Nga và cung cấp tiếp cận bình đẳng tới sản phẩm văn hóa và các khả năng để phát triển tinh thần và văn hóa cá nhân;
  • Cung cấp chất lượng và đa dạng các dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật; hiện đại hóa các tổ chức văn hóa;
  • Thông tin hóa lĩnh vực;
  • Hiện đại hóa giáo dục nghệ thuật và đào tạo các chuyên gia văn hóa về công tác bảo tồn trường học Nga và các thách thức đương đại;
  • Bảo tồn và xúc tiến di sản văn hóa của các dân tộc Nga; và
  • Thiết lập hình ảnh tích cực của nước Nga với cộng đồng thế giới.
Chương trình quốc gia mới của Liên bang Nga về việc phát triển văn hóa và du lịch cho giai đoạn 2013-2020 đang trong quá trình thảo luận. Nó đề cập đến mục tiêu chính như sau: Thực hiện vai trò chiến lược của văn hóa làm nền tảng tinh thần và đạo đức cho việc phát triển các cá nhân và nhà nước, cho sự thống nhất của xã hội Nga. Ba nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được mục đích này là:
  • Bảo tồn di sản lịch sử và văn hóa, cung cấp tiếp cận các sản phẩm văn hóa và tham gia vào đời sống văn hóa, hiện thực hóa các tiềm năng sáng tạo và đổi mới;
  • Nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ du lịch cả du lịch trong nước và nước ngoài, phát triển du lịch để trở thành công cụ hiệu quả để xúc tiến di sản văn hóa quốc gia và di sản tự nhiên và trưng bày; và
  • Cung cấp phát triển văn hóa và lĩnh vực nghệ thuật bền vững
3. Năng lực, quyết định, thực hiện và quản lý
3.1. Mô tả tổng thể hệ thống

Nhà nước vẫn là tổ chức chính trong các chính sách văn hóa ở Nga, trong khi các nhà chức trách vẫn duy trì vai trò then chốt trong các cơ cấu quản trị văn hóa. Tổng thống Liên bang Nga, đứng đầu nhà nước, chỉ định Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang Nga, và xây dựng các nguyên tắc và ưu tiên về chính sách quốc gia để chuyển tới Nghị viện.
Vị này có một đơn vị tư vấn gọi là Hội đồng văn hóa nghệ thuật của Tổng thống Nga, được thành lập năm 1996. Các thành viên của đơn vị này được Tổng thống Nga bổ nhiệm và bao gồm các nhà quản lý văn hóa nổi trội, nghệ sỹ và các đại diện của các liên minh nghệ sỹ. Hội đồng sẽ thông tin cho lãnh đạo nhà nước về các vấn đề văn hóa nghệ thuật. Hội đồng cũng đề xuất các ứng viên cho nhà nước về các giải thưởng văn hóa và nghệ thuật, và các hoạt động nhân đạo. Kỳ họp của Hội đồng năm 2012 hướng tới các vấn đề trong chính sách văn hóa đương đại, hỗ trợ các sáng kiến đổi mới, bảo tồn và sử dụng di sản văn hóa và lịch sử, kỳ vọng phát triển sáng tạo và nhân văn của thế hệ trẻ, và đẩy mạnh hợp tác văn hóa quốc tế, 4 ủy ban liên chính phủ được Hội đồng thành lập, gọi là ủy ban chính sách văn hóa, giáo dục, di sản và hợp tác quốc tế.
Nhà nước Duma và Hội đồng liên bang bao gồm Hội đồng liên bang ảnh hưởng đến chính sách của văn hóa liên bang bởi:
  • Lập và thông qua luật pháp liên bang, cả về tổng thể ( kinh tế thị trường, phúc lợi xã hội, lao động, vv) và cụ thể cho ngành văn hóa; và
  • Áo dụng ngân sách liên bang do chính phủ phác thảo, bao gồm phân phổ cho văn hóa.
Có hội đồng tư vấn cho các chính sách văn hóa nhà nước và chủ tịch của Hội đồng liên bang, được thiết kế để phân tích các vấn đề chính sách và các triển vọng cho việc phát triển, cùng với các đề xuất sửa đổi về luật pháp cho công tác bảo tồn các nền văn hóa của các dân tộc Liên bang Nga, về cân bằng phát triển văn hóa ở các vùng lãnh thổ khác nhau, và về việc hỗ trợ các hoạt động của các mạnh thường quân và tài trợ.
Các thành viên nhà nước Duma, phối hợp với Bộ, vận động hành lang, và các nhu cầu của ngành văn hóa, các tổ chức chuyên nghiệp và các viện. Có các ủy ban đặc biệt về văn hóa, mối quan hệ dân tộc và chính sách thông tin, ở đó, các luật được lập để thảo luận ở Nghị viện. Gần đây, nhóm làm việc của Ban văn hóa đề xuất  “lộ trình” cho các chính sách văn hóa, nhằm sử dụng các mối quan hệ công – tư để giải quyết các vấn đề hiện nay về công tác hiện đại hóa ngành. Mùa hè năm 2012, Hội đồng văn hóa được thành lập bởi tổng thống của nhà nước Duma; Hội đồng nhằm mục đích hỗ trợ thiết lập luật pháp trong lĩnh vực văn hóa.
Bộ Văn hóa của Liên bang Nga sẽ cung cấp các quy định, quản lý tài sản nhà nước và cung cấp dịch vụ nhà nước liên quan đến văn hóa, nghệ thuật, di sản văn hóa, điện ảnh, lưu trữ, quyền tác giả và luật có liên quan và du lịch. Bộ cam kết đệ trình các bộ luật phác thảo về ngành văn hóa cho chính phủ, đưa ra đề xuất ngành về ngân sách liên bang, duy trì đăng ký quốc gia, mật mã và phân tích các hoạt động thực tế về pháp lý và hiệu quả của các chính sách văn hóa. Đơn vị này chịu trách nhiệm triển khai thực hiện văn hóa Nga (2012-2018) về chương trình chiến lược liên bang.
Năm 2012, cục liên bang  về giám sát pháp chế  công tác bảo tồn di sản văn hóa bị bãi bỏ và các chức năng về bảo vệ di sản, giám sát thư viện, kho lưu trữ, bộ sưu tập viện bảo tàng, kiểm soát xuất nhập khẩu và lưu thông sản phẩm văn hóa và bảo vệ quyền tác giả và quyền có liên quan được chuyển cho Bộ Văn hóa. Trong năm này, Bộ chịu trách nhiệm trong lĩnh vực du lịch, và cục liên bang du lịch thuộc Bộ Văn hóa của Liên bang Nga. Đơn vị này sẽ quản lý tài sản nhà nước và bàn giao các dịch vụ nhà nước trong lĩnh vực này và duy trì đăng ký của các công ty du lịch nội địa và xúc tiến sản phẩm du lịch đối với thị trường trong nước và quốc tế, xây dựng các chương trình nhà nước trong lĩnh vực và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hội đồng kết nối văn hóa nghệ thuật là một đơn vị tư vấn do Bộ trưởng  Bộ Văn hóa chủ trì và đưa ra các hoạt động phù hợp của các nhà trức trách ở cả cấp liên bang và khu vực. Hội đồng tập hợp những người ra quyết định ở cấp liên bang và khu vực. Ngoài ra, có Hội đồng nhà nước của Bộ , là một ban cố vấn về thảo luận và chuyên môn về các vấn đề có trong nội dung. Cuộc thảo luận hiện nay hướng tới tối ưu hóa cơ cấu và các hoạt động của 5 viện nghiên cứu hoạt động trực thuộc Bộ Văn hóa.
Cơ quan lưu trữ liên bang thuộc Bộ Văn hóa cung  cấp các dịch vụ nhà nước có liên quan dựa trên các bộ sưu tập lưu trữ và theo yêu cầu của người dân. Đơn vị này chịu trách nhiệm duy trì các kho lưu trữ quốc gia và công bố các văn kiện; duy trì đăng ký nhà nước về các hạng mục lưu trữ riêng; giám sát việc tiết lộ thông tin và xử lý đấu thầu. Cơ quan liên bang trực tiếp giám sát các kho lưu trữ liên bang và vấn đề tài chính chi tiêu  cho các công nghệ  kỹ thuật để bảo tồn các bộ sưu tập ( phòng, trang thiết bị cơ sở vật chất, phô tô, vv), Hội đồng về các vấn đề lưu trữ của Cục Liên bang điều phối chức năng hoạt động của các cơ quan liên bang và khu vực có liên quan.
Năm 2008, Cục Liên bang về in ấn và thông tin đại chúng (FAPMC) được tách ra khỏi Bộ Văn hóa và được sát nhập vào Bộ Kết nối và truyền thông đại chúng. Sau này hình thành các chính sách nhà nước trong các lĩnh vực thông tin và liên lạc, truyền thông đại chúng, in ấn và xử lý dữ liệu cá nhân. FAPMC chịu trách nhiệm xuất bản, báo chí, in ấn và tất cả các loại hình truyền thông.
Cục Liên bang về giám sát kết nối và thông tin đại chúng thực hiện công việc bảo vệ  và kiểm soát các lĩnh vực truyền thông đại chúng (bao gồm truyền thông điện tử), các công nghệ thông tin và dữ liệu cá nhân. Cấp phép phát sóng và sản xuất nghe nhìn, giữ gìn truyền thông quốc gia và cấp phép đăng ký có liên quan, cung cấp tần suất dịch vụ và cho phép phổ biến truyền thông in ấn quốc tế ở Nga.
Bộ Phát triển vùng được thành lập năm 2004, và chịu trách nhiệm về các vấn đề xã hội và văn hóa trong các đơn vị của Liên bang Nga. Bộ này chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách nhà nước liên quan đến các mối quan hệ quốc gia,  phát triển lãnh thổ và hợp tác xuyên biên giới. Ban Quan hệ liên dân tộc của Bộ Giám sát các vấn đề phát triển văn hóa dân tộc, liên dân tộc và các mối quan hệ tôn giáo và các vấn đề Kazak (một nhóm văn hóa và dân tộc đặc biệt). Ban này hỗ trợ nghiên cứu và rà soát xã hội học về tương tác dân tộc, hội thảo, lễ hội, diễn đàn có liên quan đến các nền văn hóa dân tộc, đối thoại văn hóa và khoan dung, cho các vấn đề có liên quan đến truyền thông đại chúng bao gồm  ví dụ thành lập một cổng thông tin điện tử đặc biệt về các ngôn ngữ của các dân tộc Liên bang Nga.
Liên bang Nga tập hợp 83 đơn vị quản lý hành chính và lãnh thổ ( một số dựa trên tính cách sắc tộc), với vai trò chính trị khác nhau: Các nước cộng hòa, Krais (tỉnh), Oblasts (khu vực), Các khu vực tự trị, Quận tự trị và các thành phố Matxicova và St.Petersburg. Từ năm 2000, các đơn vị này được tập hợp thành 7 quạn của liên bang. Các cơ cấu nhà nước trong các khu vực nhìn chung phản ảnh cơ cấu liên bang và tầm quan trọng đối với quản trị văn hóa khu vực. Các chính sách văn hóa khu vực rất khác nhau về các ưu tiên và nguồn lực. Lãnh đạo của các cơ quan quản lý hành chính văn hóa khu vực là các thành viên của Hội đồng điều phối văn hóa do Bộ trưởng Bộ Văn hóa chủ trì. Hội đồng này gia nhập những người ra quyết định cấp khu vực để cải thiện và phát triển quá trình lập chính sách quốc gia.
Năm 2005, Cục Nhà nước của Liên bang Nga được thành lập để lấp lỗ hổng giữa chính phủ, các chính quyền tự trị khu vực, các hiệp hội nhà nước, vv và lôi kéo sự tham gia của họ trong quá trình lập quyết định. Phần việc của đơn vị này được tổ chức trong các Ban và hội đồng đặc biệt, quyền tự do ngôn luận, di sản văn hóa và tinh thần, gọi là các chính sách văn hóa và thông tin, các mối quan hệ liên dân tộc, vv. Các công cụ hữu hiệu nhất có sức ảnh hưởng là khả năng can thiệp trực tiếp trong các tình huống xung đột và tư vấn khi xây dựng luật pháp. Cục nhà nước cũng được thành lập ở các khu vực.
3.2. Hợp tác liên bộ hoặc liên chính phủ
Hợp tác liên chính phủ là một trong số các nguyên tắc cơ bản của quản trị công. Theo luật, Bộ Văn hóa của Liên bang Nga là nhằm thi hành trực tiếp hoặc thông qua các đơn vị theo địa bàn, hợp tác với các cơ quan liên bang khác, các nhà chức trách thành phố và khu vực. Hoạt động tương tác với các cơ quan đơn vị khác, ví dụ, với Bộ Giáo dục và Khoa học của Liên bang Nga được xác định bằng các nhiệm vụ lập chính sách và quy định trong lĩnh vực giáo dục nghệ thuật do các viện giáo dục đại chúng sẽ chịu trách nhiệm sau này.
Hợp tác liên bộ về văn hóa cũng là kết quả của sự chồng chéo về chức năng và các tổ chức. Ví dụ, Bộ Tài chính  lập các quy định ngân sách và cấp vốn, do đó xác định các loại hình và phạm vi hỗ trợ nhà nước đối với văn hóa và truyền thông đại chúng, trong khi Dịch vụ hải quan quy định lưu thông xuyên biên giới các sản phẩm văn hóa, viện bảo tàng, ban nhạc, rạp hát, vv.), trong khi Bộ giáo dục và khoa học quản lý mạng lưới giáo dục nghệ thuật cho trẻ em và thanh niên.
Chương trình chiến lược Liên Bang  Nga (FTPs), trong đó có các yếu tố liên quan đến ngành, phát triển văn hóa dân tộc hoặc khu vực, là các công cụ ngân sách hỗ trợ tổ chức các hoạt động liên ngành và một trong số đó là hợp phần văn hóa. Bộ Văn Hóa là một điều phối viên hội đồng nhà nước của chương trình chiến lược Liên Bang văn hóa Nga (2012-2018), được Bộ Văn hóa và các cơ quan của bộ, cơ quan liên bang và truyền thông đại chúng lập. Bộ Văn Hóa cũng tham gia các chương trình chiến lược liên bang khác, trong số đó bao gồm phát triển khu vực Kaliningrad đến năm 2014, phát triển kinh tế và xã hội của khu vực Viễn Đông và Transbaikalia đến năm 2013, vv.
3.3. Hợp tác văn hóa quốc tế
3.3.1. Tổng quan về cấu trúc xu hướng chính
 
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 5
Ảnh minh họa
Bước đột phá trong hợp tác văn hóa quốc tế trong năm 1990 đã mang lại kết quả là mở cửa các biên giới của Nga cho du lịch, trao đổi và tăng cường kết nối văn hóa ở tất cả các cấp của chính quyền. Năm 1996, báo cáo quốc gia về chính sách văn hóa Liên bang Nga tôn vinh thành viên của Liên bang Nga của Hội đồng Châu Âu. Nó cũng đánh dấu giai đoạn cam kết đối với các hiệp định và hiệp ước quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, tăng cường phát triển nền tảng pháp lý cho các vấn đề văn hóa. Năm 2001, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao (MFA) đã áp dụng khái niệm MFA đầu tiên về xúc tiến kết nối văn hóa ở nước ngoài, đưa ra khái niệm hợp tác văn hóa quốc tế làm công cụ để xúc tiến chính sách văn hóa.
Năm 2008, Tổng thống Nga thông báo Khái niệm chính sách đối ngoại quốc gia mới. Khái niệm này ưu tiên hỗ trợ cho ngôn ngữ Tiếng Nga và xúc tiến các nền văn hóa của các dân tộc Nga, góp phần vào đa dạng văn hóa và văn minh của thế giới. Khái niệm chính sách đối ngoại mới cũng đánh giá Liên Minh Châu Âu là một trong những đối tác chính của Nga và thiết lập không gian Châu Âu chung, chủ yếu về giáo dục, khoa học, văn hóa. Năm 2010, Tổng thống Nga áp dụng các định hướng cơ bản của chính sách Liên bang Nga trong lĩnh vực về hợp tác văn hóa và nhân văn quốc tế bổ sung khái niệm chính sách đối ngoại. Nghị định tổng thống tháng 5 năm 2012 đưa ra nhiệm vụ “mở rộng sự hiện diện của văn hóa Nga ở nước ngoài, củng cố vị trí của ngôn ngữ Nga trên thế giới, và phát triển mạng lưới các trung tâm khoa học và văn hóa Nga”.
Từ năm 2004, chú trọng vào việc cho ra đời hợp phần văn hóa trong các mối quan hệ quốc tế. Hợp phần văn hóa bao gồm trong hợp tác văn hóa Nga trong các tổ chức khu vực, gọi là Hội đồng Châu Âu, Tổ chức hợp tác văn hóa Thượng Hải, Hội đồng Phương Bắc, và Hội đồng Phương Bắc-Châu Âu Barents, và trong các hiệp ước về hợp tác quốc tế ở Baltic, Biển đen và các khu vực Caspian.
Hợp tác văn hóa nhìn chung dựa vào các hiệp ước song phương và đa phương trong khi các hoạt động ở quy mô lớn hơn chủ yếu được tổ chức như các năm văn hóa truyền thống và đối xứng cả ở Nga và các nước có liên quan đến Châu Âu hoặc Châu Á. Năm 2013, năm văn hóa Nga sẽ được tổ chức ở Hy Lạp. Truyền thông đại chúng chú trọng khán giả quốc tế được giao nhiệm vụ truyền tải “hình ảnh tích cực” của Nga và thể hiện Văn hóa và nghệ thuật Nga cũng như các sự kiện văn hóa và nghệ thuật, đồng hành cùng các hoạt động quốc tế và ngoại giao quan trọng.
Năm 1999, Liên bang Nga và Cộng Hòa Belarus ký một hiệp ước về việc thành lập Nhà nước liên minh. Phát triển văn hóa và các điều khoản về sự bình đẳng trong việc bảo tồn và xúc tiến bản sắc dân tộc, văn hóa và ngôn ngữ được đặt ra trong trách nhiệm chung của Nhà nước liên minh và các thành viên. Việc tuyên bố lễ kỷ niệm lần thứ 10 của nhà nước liên minh (năm 2009) bao gồm các điều khoản về việc phát triển không gian nhân văn chung.
3.3.2. Các tổ chức công và ngoại giao văn hóa  
Tổng thống Nga xác định các chính sách ngoại giao trong vai trò lãnh đạo nhà nước và khởi xướng các hoạt động văn hóa quốc tế được hỗ trợ bởi Ban điều hành các mối quan hệ hợp tác văn hóa và liên khu vực với nước ngoài trong văn phòng điều hành tổng thống. Hội đồng Liên bang Nga cung cấp nền tảng pháp lý về hợp tác quốc tế và thực hiện các hiệp định có liên quan. Các thành viên của nó trong các ủy ban về hợp tác liên quốc hội.
Bộ Ngoại giao (FMA) lập các chiến lược tổng thể, triển khai các hoạt động ngoại giao, cung cấp khung phát triển hợp tác văn hóa quốc tế, đại diện nước Nga trong các tổ chức quốc tế (UNESCO, Hội đồng Châu Âu, vv), và điều phối các mối quan hệ bên ngoài của các bộ của Liên bang. Bộ FMA và các tổ chức ở nước ngoài tham gia vào các chương trình văn hóa quốc gia, hỗ trợ phát triển của Liên minh các nước văn minh được thành lập dưới sự bảo hộ của Liên hợp quốc, xúc tiến đối thoại liên tôn giáo, các hoạt động nền tảng “quốc tế Nga”, vv.
Năm 2002, trung tâm hợp tác văn hóa và khoa học Nga trực thuộc Bộ Ngoại giao. Trung tâm quản lý mạng lưới thể chế ở các nước trên thế giới, cung cấp thông tin chung và các khóa học đào tạo bằng tiếng Nga và xúc tiến văn học và văn hóa Nga ở nước ngoài. Các đại diện của trung tâm cũng sẽ hỗ trợ các liên kết theo các học bổng của Nga và tổ chức các chương trình giáo dục ở Nga cho các sinh viên quốc tế, vv. Năm 2008, trung tâm cũng nằm trong cơ quan liên bang về các vấn đề của liên bang các nước độc lập (CIS), kiều bào nước ngoài và hợp tác nhân văn quốc tế (Rossotrudnichestvo) trực thuộc Bộ Ngoại giao; Tương tác văn hóa trong liên bang các nước độc lập (CIS) là một trong những mối quan tâm chính của cơ quan này. Năm 2012, lãnh đạo cơ quan đã đề xuất phát triển và củng cố cơ quan để quản lý các văn phòng và các trung tâm văn hóa và khoa học Nga ở nước ngoài như một công cụ của “quyền lực mềm”.
Bộ Văn hóa đàm phán và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác văn hóa, thảo luận các vấn đề khôi phục, áp dụng các kế hoạch hợp tác văn hóa, “xuất khẩu” văn hóa và nghệ thuật Nga, quản lý các sự kiện văn hóa quốc tế ở Nga, tổ chức trao đổi văn hóa và hỗ trợ Nga tham gia vào các cuộc thi nghệ thuật quốc tế, lễ hội, diễn đàn, sân khấu, vv. Bộ trưởng là thành viên thường trực của các cuộc hội thảo, của các bộ trưởng bộ văn hóa trong các khu vực Baltic và Barents Châu Âu-Phương Bắc, và chủ trì Hội đồng hợp tác văn hóa của các nhà nước thành viên thuộc CIS.
Bộ Phát triển vùng hợp tác với các tổ chức quốc tế ở các lĩnh vực ví dụ như phát triển các nền văn hóa dân tộc, ngôn ngữ, nghệ thuật truyền thống và bảo tồn bản sắc và giám sát hợp tác văn hóa xuyên biên giới. Năm 2009-2010, Bộ cùng với hội đồng Châu Âu đã làm đơn xin vào Hội đồng Châu Âu/ Ủy ban Châu Âu / Bộ về chương trình chung phát triển vùng của “các dân tộc thiểu số ở Nga”, phát triển ngôn ngữ, văn hóa, truyền thông đại chúng và xã hội dân sự”. Bộ cũng tổ chức các hoạt động trong thập kỷ quốc tế thứ 2 của dân bản xứ trên thế giới ở Liên bang Nga. Các đại diện của Bộ tham gia vào chương trình hợp tác xuyên biên giới Lithuania-Ba Lan-Nga 2007-2013, được xây dựng trong khuôn khổ khu vực Lithuania-Ba lan-Kalininggrad của chương trình láng giềng Liên bang Nga.
3.3.3. Các tổ chức và các chương trình Châu Âu/Quốc tế
Trong phần hợp tác UNESCO, chương trình “thông tin cho mọi người” được đặc biệt chú trọng, phát triển các công nghệ thông tin về văn hóa, các dịch vụ thư viện và văn hóa điện tử nói chung. Trong chương trình này, Bộ Văn hóa hỗ trợ phổ biến công văn của UNESCO và Liên hợp quốc về việc hình thành thông tin và kiến thức dựa trên xã hội ở Nga. Hội thảo tổng thể của UNESCO (2009) đã áp dụng nghị quyết do Liên bang Nga đề xuất về các vật thể văn hóa bị di chuyển trong chiến tranh thế giới thứ 2 và hỗ trợ sáng kiến của Nga về việc thiết lập, trực thuộc UNESCO, trung tâm bảo tàng khu vực để tăng cường tiềm năng về các vấn đề viện bảo tàng.
Tham gia các hiệp ước của UNESCO và các nghị định khác, cùng với các cuộc thảo luận về các chuẩn mực và vấn đề có liên quan, đưa ra sự hiểu biết sâu rộng hơn về các quá trình văn hóa hiện đại.
Tuy nhiên, Nga không phải là thành viên của các hiệp ước văn hóa gần đây nhất và Bộ Văn hóa đang chuẩn bị phê chuẩn các hiệp định về bảo vệ và xúc tiến đa dạng biểu hiện văn hóa, Hiệp định về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước, và Hiệp định về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.
Điều này cũng đúng với văn kiện của Hội đồng Châu Âu, một trong số chúng đang được xem xét kỹ lưỡng các phần việc chuẩn bị để được phê chuẩn bởi Liên bang Nga. Liên bang Nga đã ký và phê chuẩn Hiệp ước Granada về di sản kiến trúc; Bộ Văn hóa đang thực hiện cơ sở phê chuẩn Hiệp định Châu Âu đã ký về công tác bảo vệ di sản khảo cổ học (1992). Hợp tác văn hóa Nga-Liên minh Châu Âu dựa trên các lộ trình phát triển của 4 không gian chung bao gồm Lộ trình văn hóa (2005), trong đó mục tiêu được đề cập như sau:
  • Xúc tiến các tiếp cận được cơ cấu cho hợp tác văn hóa giữa Liên minh Châu Âu mở rộng và Nga;
  • Thúc đẩy sáng tạo và việc đi lại của nghệ sỹ;
  • Phát triển đối thoại liên văn hóa, kiến thức lịch sử và di sản văn hóa của các dân tộc Châu Âu, và tiếp cận của công chúng tới văn hóa;
  • Tăng cường và đẩy mạnh bản sắc châu Âu về cơ sở các giá trị chung, đa dạng ngôn ngữ và văn hóa “ở châu Âu mà không phân chia ranh giới”; và
  • Phát triển hợp tác giữa các ngành văn hóa để nâng cao ảnh hưởng văn hóa và kinh tế.
Chương trình khuôn khổ hợp tác về văn hóa và di sản văn hóa giữa Bộ Văn hóa và Ban văn hóa, di sản văn hóa và tự nhiên của Hội đồng châu Âu (2009-2011) nhằm mục đích tăng cường và phát triển các chính sách văn hóa và di sản cùng các hoạt động. Phần chính của Chương trình khuôn khổ bao gồm rà soát chính sách văn hóa quốc gia và tham gia dự án nhân chủng học hiện nay, Nga tham gia mạng lưới di sản châu Âu (HEREIN) và hoạt động liên kết  “các thành phố liên văn hóa” của Hội đồng châu Âu và Ủy Ban châu Âu, Chương trình vùng cho vùng Yarolslavl được coi là dự án mô hình, vv.
Ở cấp khu vực, quy mô phía Bắc rất hiệu quả. Liên bang Nga tích cực tham gia các hoạt động văn hóa trong khu vực Barrents. Từ năm 1993, các liên kết hiệu quả và các phương thức hiện đại trong hợp tác khu vực được hình thành ở nước Cộng hòa Karelia, Murmansk và Archanger Oblasts và quận Nenets Autonomous. Tháng 1 năm 2006, cuộc họp đầu tiên của các bộ trưởng bộ văn hóa của các dân tộc bản địa được tổ chức ở Khanty-Mansiisk liên quan đến việc bảo tồn các nền văn hóa truyền thống của những dân tộc bản địa. Các bước thực tế được triển khai thực hiện để thành lập “Bộ nhớ điện tử của Bắc Cực”, đây là một loại hình của thư viện điện tử mở liên quan đến lịch sử, văn hóa, khoa học và nghiên cứu khu vực.
Phát  triển hợp tác văn hóa song phương và đa phương trong cộng đồng các nước độc lập (CIS) vẫn là một ưu tiên và có các cơ cấu thể chế cụ thể. Năm 2006, Hội đồng hợp tác nhân văn và Quỹ tài trợ liên chính phủ có liên quan về hợp tác văn hóa, khoa học, giáo dục (IFESCCO) được thành lập để cung cấp các dự án đa phương trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học, vv. Từ năm 2008, IFESCCO và UNESCO hợp tác về phát triển các dự án văn hóa. Những hoạt động này bao gồm các cuộc hội thảo khu vực lần thứ nhất (năm 2009) và lần thứ 2 (2012) của cộng đồng các nước độc lập (CIS) với sự tham gia của các chyên gia quốc tế về chính sách văn hóa và chính sách cho nền văn hóa được tổ chức ở Yerevan (Armenia, xem website: http:/www.policyforculture.org/), một dự án về Giáo dục Nghệ thuật trong các nước độc lập: Phát triển tiềm năng sáng tạo trong thế kỷ 21 (2010),…
3.3.4. Đối thoại và hợp tác liên văn hóa xuyên biên giới
Các dự án văn hóa xuyên biên giới được khởi xướng bởi các vùng “giàu có hơn” vào đầu những năm 1990, khi “công tác xã hội hóa” hợp tác quốc tế mở rộng và các sự kiện xuyên biên giới bùng nổ. Đối với các vùng của nước Nga, chúng có giá trị đặc biệt do thâm hụt tài chính trầm trọng trong lĩnh vực văn hóa, do đó cung cấp các nguồn lực , ví dụ cho công tác bảo tồn di sản khẩn cấp. Các nước Bắc Âu, đặc biệt chú trọng phát triển các mối quan hệ đặc biệt với các lãnh thổ lân cận, ví dụ hỗ trợ trùng tu các đài tưởng niệm kiến trúc bằng gỗ ở vùng Archangel.
Hầu hết tất cả các vùng biên giới cũng ký các hiệp định song phương với các lãnh thổ các nước láng giềng, tổ chức các hoạt động du lịch và trao đổi văn hóa. Năm 2001, khái niệm hợp tác văn hóa xuyên biên giới quốc gia được áp dụng, không kể những thứ khác, dự kiến:
  • Bảo tồn di sản văn hóa và kiến trúc trong khi thực hiện các dự án đầu tư;
  • Các mối quan hệ trực tiếp của các tổ chức giáo dục trong việc nghiên cứu các ngôn ngữ và các nền văn hóa của các dân tộc láng giềng; và
  • Xúc tiến du lịch, sử dụng di sản văn hóa và nghệ thuật chung, và công khai hướng dẫn du lịch.
Năm 2002, 2008 và 2012, Nga phê chuẩn Hiệp định khung Châu Âu về hợp tác xuyên biên giới giữa các cộng đồng hoặc cơ quan lãnh thổ và các nghị định thư của hiệp định; đối thoại văn hóa xuyên biên giới trở thành ưu tiên quốc gia và thuộc phạm vi năng lực của bộ Phát triển vùng. Trong hội nghị thượng đỉnh Nga-Liên minh Châu Âu năm 2009, năm hiệp định về hợp tác xuyên biên giới được ký kết bao gồm “chương trình Kolartic” văn kiện các mối quan hệ và láng giềng châu Âu, đặt quan hệ hợp tác trực tiếp của người dân trong văn hóa và nghệ thuật là một trong các ưu tiên.
Tháng 7 năm 2007, Bộ Văn hóa và Truyền thông đại chúng tổ chức cuộc họp đặc biệt bàn về các vấn đề đối thoại xuyên biên giới và nhu cầu hình thành cơ sở hạ tầng văn hóa khả thi trong các vùng biên giới của Nga. Các hành động cấp thiết để nâng cao quỹ tài trợ cho các tổ chức văn hóa và các vật thể di sản được đề xuất, cùng với cho ra đời luật về quy mô văn hóa trong các chương trình mục tiêu liên bang về phát triển kinh tế xã hội ở các vùng biên giới.
Các lễ hội truyền thống xuyên biên giới trong các khu vực văn hóa hay ngôn ngữ đặc biệt là một hình thức được chấp nhận trong hợp tác khu vực, ví dụ lễ hội Altargana giới thiệu văn hóa, nghệ thuật, văn học, phim truyện, và thể thao Buryat và được hỗ trợ bở Bộ Phát triển vùng. Lễ hội này lần đầu tiên được tổ chức năm 2002 và diễn ra 1 năm 2 lần với sự hỗ trợ của chính quyền liên bang, chính phủ và nghị viện và Bộ Văn hóa và Truyền thông của nước Cộng hòa Buryat. Nhằm mục đích tăng cường hợp tác xuyên biên giới và thu hết khách du lịch Nga và quốc tế; lễ hội này được tổ chức ở Mông Cổ năm 2010 và ở Nga năm 2012.      
3.3.5. Các vấn đề có liên quan khác
Hỗ trợ các cộng đồng nói tiếng Nga ở nước ngoài và viện trợ không hoàn lại cho công tác bảo tồn bản sắc văn hóa của họ gần đây đã dành được động lực mới. Tiếng Nga là ngôn ngữ đứng thứ 4 trên thế giới về số lượng người nói, và các hoạt động có liên quan được hỗ trợ ở cấp liên bang và khu vực. Năm 2007, để xúc tiến học tập và sử dụng tiếng Nga, tổng thống Nga đã thiết lập quỹ tài trợ “Russky Mir”. Từ đó, Quỹ tài trợ này đã thành lập nhiều chi nhánh ở nhiều nước, thực hiện các dự án và cấp quỹ viện trợ không hoàn lại về ngôn ngữ và văn hóa Nga, phương tiện truyền thông và các nguồn thông tin bằng tiếng Nga.
Cộng đồng người Nga ở nước ngoài (dự kiến 35 triệu) được coi là đối tác xúc tiếng ngôn ngữ tiếng Nga và văn hóa Nga trên khắp thế giới. Ủy ban đặc biệt của chính phủ về các vấn đề yêu nước ở nước ngoài hỗ trợ bản sắc văn hóa, kiến thức của người Nga trong các cộng đồng. Hội thảo quốc tế của đồng bào sống ở nước ngoài được tổ chức 3 năm 1 lần, các hội nghị quốc tế của các cộng đồng được tổ chức ở nga để tăng cường các mối liên kết với nhau và thảo luận tình hình hiện nay và các công tác cải thiện có khả năng thực hiện trong luật pháp của Nga về các chính sách nhà nước có liên quan.
Năm 2009, quỹ tài trợ tư nhân Prokhorov hợp tác với quỹ của tổng thống nga đã khởi xướng dự án TRANSCRIPT để hỗ trợ biên dịch tiểu thuyết viễn tưởng sang tiếng nước ngoài. Quỹ tài trợ Yeltsin trao giải thưởng cho các sản phẩm biên dịch văn học hay nhất từ tiếng Nga sang tiếng Anh, Tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Đức và Tây Ban Nha.
4.Các vấn đề hiện nay trong công tác phát triển chính sách văn hóa và tranh luận
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 6
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 7
                             Ảnh minh họa

4.1. Các vấn đề chính sách văn hóa chính và các ưu tiên
Trong những năm 90, các chính sách văn hóa có ít ảnh hưởng đối với ngành văn hóa hơn là chính sách ngân sách nói chung hoặc tình hình kinh tế tổng thể. Trong thế kỷ mới, các chính sách văn hóa trở nên rõ ràng hơn và hoạt động theo mô hình bảo hộ của nhà nước. Ngân sách nhà nước được phân bổ nhiều hơn cho công tác xúc tiến văn hóa. Tuy nhiên xét tổng thể,  lĩnh vực văn hóa được xem là có tầm quan trọng “chính trị” ít nhất. Đó là lý do tại sao mà việc phát triển lĩnh vực văn hóa vẫn giữ vai trò đại diện như chiến lược nguồn đối với sự tiến bộ xã hội, kinh tế và công nghệ nói chung.
Các ưu tiên thực tế chính sách văn hóa được liên kết với các xu hương phát triển chung, bao gồm:
  • Tiến bộ điện tử và công nghệ trong lĩnh vực văn hóa;
  • Cải tạo mạng lưới tài trợ vốn nhà nước của các tổ chức văn hóa và giảm số lượng các tổ chức này; và
  • Giảm ngân sách văn hóa nhà nước và phát triển nhiều mối quan  hệ.
Cuối năm 2007,  tầm  nhìn quyết định của các chính sách văn hóa được trình bày trong báo cáo văn hóa và tương lai của Liên Nga: Góc nhìn mới, được đề trình bởi Hội đồng nhà nước về phát triển văn hóa.  Các tác giả phê bình “ý tưởng nhà nước” thực tế về việc hỗ trợ văn hóa như một nhiệm vụ nặng nề của “nhà nước”và nhấn mạnh nhu cầu về sự hiểu biết đầy đủ của nó như một nguồn phát triển chiến lược. Năm 2008, sau các cuộc tuyển cử tổng thống và nghị viện, chính phủ hứa sẽ tăng gấp đôi hầu hết ngân sách văn hóa nhà nước trong 3 năm. Chi tiêu văn hóa quốc gia cho năm 2008-2010 sẽ được điều chỉnh lên; tuy nhiên, năm 2009, những cắt giảm ngân sách đầu tiên được thực hiện do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Mùa hè năm 2009, Chương trình chính phủ phòng chống khủng hoảng được áp dụng, đặt áp lực lên các cải cách thể chế, mục tiêu về phát triển nguồn lực văn hóa và con người. Chương trình này không bao gồm ngân sách phát sinh nhưng các trợ cấp hiện nay được đảm bảo cho các tổ chức văn hóa được mời, bảo tồn khối lượng, hỗ trợ cho các liên minh sáng tạo và các thành viên đã nghỉ hưu nói riêng. Bộ Văn hóa của Liên bang Nga cũng đã đệ trình danh sách các biện pháp có thể thực hiện để hỗ trợ lĩnh vực văn hóa trong cuộc khủng hoảng, bao gồm các khoản miễn giảm thuế cho các tổ chức văn hóa được cấp ngân sách, các khoản trợ cấp thêm cho các ngân sách văn hóa vùng để đầu tư vào việc trùng tu, và sửa chữa các công trình và tăng lương cho lực lượng lao động văn hóa thêm 30%. Tuy nhiên, những đề xuất này bị chính phủ bác bỏ.
Năm 2010-2012, tình hình chung được tái thiết lập nhưng ngân sách của Bộ Văn hóa của Liên Bang Nga bị cắt giảm. Đầu năm 2012, văn hóa là chủ đề của các cuộc tranh cãi trước các cuộc tranh cử tổng thống, và nhu cầu về điều chỉnh lương cho các chuyên gia văn hóa và các bộ phận được trả lương thấp khác của các tổ chức được cấp ngân sách được chú trọng.
Nghị định tổng thể về các biện pháp thực hiện các chính sách xã hội nhà nước được ban hành ngày 7 tháng 5 năm 2012, để bảo tồn và phát triển văn hóa Nga. Nghị định này đưa ra các ưu tiên cho các vấn đề văn hóa như sau:
  • Tăng lương cho lĩnh vực văn hóa;
  • Thành lập các trung tâm văn hóa đa chức năng ở các thị trấn nhỏ;
  • Phát triển các nguồn lực điện tử và internet của các tổ chức văn hóa bao gồm các viện bảo tàng ảo;
  • Cung cấp quyền truy cập internet miễn phí tới các bộ phim trong nước và các buổi biểu diễn kịch của các đạo diễn có tên tuổi;
  • Mở rộng phân bổ ngân sách nhà nước cho học bổng và các khoản viện trợ không hoàn lại cho văn hóa và nghệ thuật;
  • Tổ chức triển lãm trưng bày ở các thị trấn vừa và nhỏ và phát triển tổng thể các dự án trưng bày; và
  • Lôi kéo sự tham gia đông đảo hơn của bộ phận trẻ em có năng khiếu vào các cuộc thi và các sự kiện nghệ thuật.
Chính quyền Nga mới chỉ trích hoạt động của ngành văn hóa, được dự kiến như một ngành cần “tối ưu hóa” và quản lý tốt hơn. Dự thảo chương trình của Liên Bang Nga về việc phát triển văn hóa và du lịch cho giai đoạn 2013-2020, đang được thảo luận, dự kiến có sự tăng nhẹ về ngân sách cho các sự kiện và hoạt động văn hóa và phát triển các mối quan hệ nhà nước-tư nhân.
4.2. Các vấn đề chính sách cụ thể và các cuộc tranh cãi liên quan
4.2.1. Các vấn đề khái niệm của các chính sách dành cho nghệ thuật
Các mục tiêu tổng thể của các chính sách nghệ thuật nhà nước là hướng tới mục tiêu công dân đạt được các quyền văn hóa toàn diện trong hiến pháp, gọi là tự do sáng tạo và quyền tham gia đời sống văn hóa. Nhìn chung, Bộ đã dự kiến phân bổ, cho “việc phát triển tiềm năng sáng tạo quốc gia”, khoảng 30% ngân sách năm 2010, 36%  năm 2011, và 51% năm 2012 (tương ứng 32 730.4, 34 081.3 và 29 877.0 triệu rub).
Phát triển nghệ thuật âm nhạc và kịch, Bộ Văn hóa của Liên Bang Nga hoạt động theo các hướng như sau:
  • Mở rộng các mối quan hệ xã hội và bảo hộ nhà nước;
  • Kết hợp bảo đảm nhà nước và hợp đồng hỗ trợ của các ủy ban xã hội quốc gia;
  • Xây dựng trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị của các tổ chức nghệ thuật bao gồm trùng tu và sửa chữa các công trình;
  • Hỗ trợ nghệ thuật đương đại;
  • Duy trì các giải thi đấu nghệ thuật, lễ hội, hội thảo, cuộc họp, vv, ở tất cả các cấp nhà nước và quốc tế;
  • Viện trợ không hoàn lại cho các công ty, tổ chức, nghệ sỹ, người mới tham gia, tài năng trẻ…nổi trội.
Bộ Văn hóa tài trợ các màn biểu diễn kịch mới và các chương trình hòa nhạc, tiền hoa hồng, và mua các tác phẩm nghệ thuật, hỗ trợ đi lại biểu diễn trong nước và quốc tế cho các công ty âm nhạc và kịch, tham gia các giải thi đấu, triển lãm, và lễ hội ở Nga và nước ngoài.
Phân chia nghệ thuật trong phác thảo Chương trình quốc gia của Liên Bang Nga về phát triển văn hóa và du lịch cho giai đoạn 2013-2020 đặt mục tiêu đảm bảo quyền của công dân Nga tham gia đời sống văn hóa và sẽ cung cấp về:
  • Bảo tồn và phát triển nghệ thuật biểu diễn, hỗ trợ nghệ thuật thị giác đương đại;
  • Bảo tồn và phát triển kỹ thuật điện ảnh;
  • Bảo tồn và phát triển văn hóa dân gian truyền thống và di sản phi vật thể của các dân tộc Nga;
  • Hỗ trợ các sáng kiến sáng tạo của người dân, các liên minh sáng tạo, nghệ sỹ có tên tuổi, lao động văn hóa, các tổ chức; và
  • Tổ chức các sự kiện hướng tới các sự kiện quan trọng của văn hóa Nga và phát triển hợp tác văn hóa.
  • Trong 10 năm trở lại đây, chính phủ có xu hướng hỗ trợ nghệ thuật đổi mới đương đại, thâm chí các thị hiếu truyền thống khích động. Một ví dụ rất điển hình được tổ chức 2 năm 1 lần về nghệ thuật hiện đại ở Maxicowva. Việc hỗ trợ cho các hoạt động này được đề cập trong bài diễn văn tổng thống trước nghị viện (2009); trong năm đó, Bộ Văn hóa áp dụng một kế hoạch tổ chức viện bảo tàng quốc gia đầu tiên của nghệ thuật đương đại ở Matxicova. Tuy nhiên, sự đối lập công đối với nghệ thuật thị giác đương đại mới nổi trong cuộc triển lãm của các nghệ sỹ người Anh Jake và Dinos Chapman ở Viện bảo tàng quốc gia Hermitage ở của St.Petersburg. Bên nguyên của thành phố đòi bồi thường vì đã bị phàn nàn về vở kịch, tác phẩm bị cho là “xúc phạm cảm giác tôn giáo của khán giả”.
4.2.2. Các vấn đề chính sách và di sản
Mục tiêu của “bảo tồn và khả năng tiếp cận cao hơn của các vật thể di sản văn hóa liên quan tới quyền hiến pháp và nằm trong danh sách ưu tiên của chính phủ cho năm 2009-2012. Các chính sách di sản trước đây xử lý các hạng mục có thể di chuyển (viện bảo tàng, văn khố, và các bộ sưu tập thư viện) và các hạng mục không thể di chuyển. Năm 2010-2012, ngân sách thực tế của Bộ Văn hóa của Liên Bang Nga nhằm “bảo tồn di sản lịch sử và văn hóa” chiếm khoảng 24, 29 và 31% của toàn bộ ngân sách, tuy nhiên dần bị cắt giảm từ 18 029.5 triệu Rub năm 2010 xuống còn 16 262.4 triệu năm 2012. Việc phân chia di sản trong phác thảo chương trình quốc gia của Liên bang Nga về việc phát triển văn hóa và du lịch giai đoạn 2013-2020 nhằm mục đích bảo tồn di sản lịch sử và văn hóa và mở rộng tiếp cận các giá trị và thông tin văn hóa. Các nhiệm vụ có liên quan như sau:
  • Cung cấp bảo tồn và sử dụng các vật thể di sản văn hóa;
  • Nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng các dịch vụ thư viện;
  • Nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng các dịch vụ viện bảo tàng; và
  • Đảm bảo công tác bảo tồn, mua và sử dụng các bộ sưu tập lưu trữ.
Trong những năm 1998, các di sản không thể di chuyển trở thành vấn đề gây tranh cãi giữa Bộ Văn hóa và các cơ quan nhà nước có quyền lực hơn hay các chính quyền khu vực. Cùng với các vấn đề trách nhiệm chưa được thiết lập, di sản không thể di chuyển hứng chịu các thiệt hại về văn hóa và lịch sử ( 2.5 nghìn vật thể được bảo tồn trong 10 năm qua), cái mà có thể dễ dàng chứng kiến ví dụ trong trung tâm lịch sử của Maxicova) và các thành phố khác. Mặt khác, vào cuối năm 2010, dự án xây dựng Tháp thành phố Gazprom gần như trong trung tâm của St.Petersburg, trở thành một vấn đề xung đột công khá lớn do nó có thể phá hủy toàn cảnh của thành phố, bị hủy bỏ, do đó trở thành ví dụ điển hình cho xu hướng đối lập.
Năm 2010, có khoảng 143 400 vật thể di sản không thể di chuyển thuộc sự bảo hộ nhà nước ( trong đó 36 500 là các đài tưởng niệm khảo cổ học). Có một Cơ quan đặc biệt về quản lý và sử dụng các đài tưởng niệm văn hóa và lịch sử thuộc Bộ Văn hóa của Liên Bang Nga, xử lý các vấn đề tài sản có liên quan và giám sát công tác bảo vệ và sử dụng các đài tưởng niệm không thể di chuyển của nhà nước. Cải chách hành chính tổng thể đã thay đổi việc phân chia trách nhiệm hiện nay dữa các cấp chính phủ và khu vực giành thêm quyền bao gồm thành lập kiểm kê các đài tưởng niệm di sản của riêng họ để bảo tồn. Ví dụ, năm 2006, Yamalo-Nenets Duma áp dụng luật khu vực về văn hóa, giới thiệu các bài viết đặc biệt về công tác bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc bản địa Bắc Âu.
Công tác xã hội hóa các di sản không thể di chuyển, gọi là các tòa nhà lịch sử, và các vùng đất đi liền, bắt đầu vào những năm 1990. Trong nhiều trường hợp, đất đai (và sẽ vẫn tiếp tục) là phần hấp dẫn nhất của di sản được xây dựng trong công tác xã hội hóa, đặc biệt ở các thành phố. Làn sóng xã hội hóa thứ 2 bắt đầu năm 2002, ý tưởng này nhằm mục đích sử dụng xã hội hóa làm phương tiện để ngăn chặn sự phá hủy các tòa nhà được xây dựng và trung to nó sử dụng tiền tư nhân. Việc này dựa trên nền tảng pháp lý mới và quy định phù hợp thứ 2 là cần thiết để đảm bảo công tác bảo tồn hợp lý các hạng mục di sản bở các chủ sở hữu mới và để cung cấp tiếp cận công. Ngày 1 tháng 1 năm 2008, lệnh tạm dừng hoạt động chính thức đối với công tác xã hội hóa của “các đài tưởng niệm lịch sử và văn hóa” bị xóa bỏ nhưng không có sự quan tâm đáng kể giữa những người mua tiềm năng do nhiều cản trở. Gần đây, để khuyến khích xã hội hóa, Bộ trưởng Bộ Văn hóa đề xuất cho thuê các đài tưởng niệm bị tàn phá theo các điều khoản rất thuận lợi để xúc tiến các đơn vị tư nhân trùng tu và bảo trì.
Các hành động chính trong lĩnh vực về các hạng mục trùng tu được liên kết với các sự kiện đặc biệt, ví dụ lễ kỷ niệm nghìn năm các thành phố Kazan và Yarroslavl hoặc đối với các vật thể di sản “có giá trị đặc biệt”: đầu tư lớn vào công tác đổi mới Bolshoi, Hermitage, và quỹ phim quốc gia của Liên bang Nga (Gosfilmofond), vv. Sự gia tăng gần đây trong khối lượng các hạng mục trùng tu đã tiết lộ một vấn đề về các cải cách được xem là một loại hình của các hoạt động bảo tồn: hệ thống trùng tu trước đây hầu như bị phá hủy và thiếu đội ngũ nhân sự có trình độ và chất lượng công việc kém khá rõ ràng, tất cả đều tự cho là một nhiệm vụ tái thiết lập các khung tổ chức và giáo dục có liên quan.
Trong những năm 1990, một nghiên cứu nhằm cân bằng các mối tương quan giữa các tổ chức tôn giáo và các tổ chức văn hóa trở thành một vấn đề quan trọng ở tất của các cấp lập chính sách văn hóa. Ví dụ, trong năm 1999, tượng thánh nổi tiếng và đài tưởng niệm của thế kỷ 12 của nghệ thuật Byzantine – Theotokos của Vladimir – được đặt trong nhà thờ-viện bảo tàng thế kỷ 17 ở Tolmachi, bởi phòng trưng bày Tretyakov ở Maxicova. Một số hạng mục thuộc về nhà thờ Orthodox nằm trong quỹ của viện bảo tàng Liên bang Nga; năm 2008, nhà thờ được sử dụng cho tôn giáo từ các viện bảo tàng Kremlin. Mặc dù có các quan điểm đối lập của các chuyên gia di sản, năm 2011, luật về chuyển giao tài sản có ý nghĩa tôn giáo thuộc sở hữu nhà nước hoặc chính quyền thành phố cho các tổ chức tôn giáo thông qua nghị viện. Năm 2012, Bộ Văn hóa tổ chức nghiên cứu đặc biệt về các vấn đề kỹ thuật, kinh tế và tổ chức phức tạp của công tác bảo tồn các vật thể di sản do các tổ chức tôn giáo quản lý để chung cấp các giải pháp cho các vấn đề thực tế phát sinh.
4.2.3. Các ngành văn hóa sáng tạo: các chính sách và chương trình
Theo các dự báo của các chuyên gia về khủng hoảng tiền kinh tế, các ngành văn hóa theo định hướng thị trường nhằm gia tăng số lượng và tỷ lệ hoàn trả. Tuy nhiên, các ngành văn hóa, một mặt, không tồn tại như một lĩnh vực có khả năng sản xuất đặc biệt và được xem là thuộc lĩnh vực sản xuất thứ 2. Do đó, các quy định nhà nước toàn diện được cung cấp cho các ngành văn hóa truyền thống (phương tiện truyền thông đại chúng hoặc phim) và hỗ trợ chính phủ chống lại cuộc khủng hoảng được đưa ra chỉ dành cho chương trình phát sóng TV. Tuy nhiên, mức độ thâm hụt cho phép đáng kể đã chứng minh sự bền vững tương đối trong cuộc khủng hoảng trong khi yêu cầu về khả năng thanh toán vẫn là một vấn đề quan trọng.
Bộ Văn hóa không có tầm ảnh hưởng trong ngành, nằm ngoài công tác lập chính sách văn hóa. Cách tiếp cận đổi mới cho việc phát triển các ngành văn hóa được hình thành trong các dự án quốc tế, ví dụ của các Viện chính sách văn hóa và hội đồng châu Âu, do họ chủ động tham gia vào các cuộc trao đổi quốc tế. Cuối những năm 1990, Trung tâm phát triển các ngành sáng tạo được thành lập ở St.Petersburge để hỗ trợ các doanh nhân phi thương mại ở các tổ chức văn hóa công “ở ranh giới văn hóa và kinh doanh” và nhằm cung cấp đào tạo, tư vấn và chuyên môn có liên quan. Trong những năm 2000, các “nhóm sáng tạo” được thành lập trong các trung tâm thành phố công nghiệp trước đây của Nga, gọi là “trung tâm Maxicova “Winzavod” về nghệ thuật đương đại, trung tâm thiết kế Artplay và dự án loft Etagl ở St. Petersburg. Các khu vực cũng ngày càng trở nên quan tâm hơn trong các dự án cần dựa vào hợp tác không thường xuyên của các cơ quan nhà nước về văn hóa và kinh tế.
Phát triển các ngành văn hóa cũng được hỗ trợ bởi các sáng kiến giáo dục có liên quan, ví dụ Viện "Strelka" chuyên nghiên cứu Truyền thông, Kiến trúc và Thiết kế  ở Moscow là Viện mang tầm quốc tế được thành lập năm 2009 nhằm đào tạo một thế hệ mới các chuyên gia và phổ biến cho công chúng về các dự án sáng tạo đương đại. Các chuyên gia tin tưởng rằng cần phải xã hội hóa các tổ chức văn hóa, dự luật về các quyền của tác giả cần cởi mở hơn để sử dụng công bằng, nhằm giảm bớt tình trạng sao chép bất hợp pháp, chứng khoán và trốn thuế  để thực hiện phát triển các ngành văn hóa hiệu quả hơn. Nghiên cứu về các ngành văn hóa được triển khai trong thành phố Krassnoyarsk năm 2011đã chứng tỏ rằng nhu cầu thấp, việc thiếu vắng môi trường và nhóm kiểm soát nghệ thuật, quản lý chuyên nghiệp, và các sự kiện, sự hiểu biết từ chính quyền thành phố, và hỗ trợ tài chính là các rào cản chính cho công tác phát triển các ngành sáng tạo trong các khu vực.
4.2.4. Đa dạng văn hóa và các chính sách thống nhất
Đa dạng văn hóa là nhân tố lịch sử của Nga, nơi mà một người có thể tìm thấy hầu hết tất cả tôn giáo trên thế giới, và hầu hết các loại hình tín ngưỡng tôn giáo,một vài gia đình nói các thứ tiếng khác nhau và các môi trường tự nhiên xung quanh khác nhau. Trong những năm 1990, Nga đã hồi phục một thứ gọi là sự trở lại tôn giáo vô thần, tái thiết lập các giá trị và các tín ngưỡng  bị bỏ mặc hoặc thậm chí bị kìm hãm ở Mỹ và củng cố sắc tộc làm cơ sở cho bản sắc dân tộc. Lao động nhập cư bắt đầu xuất hiện từ những năm 1990, làm cho các thắng cảnh văn hóa thậm chí đa dạng hơn và tạo ra các cộng đồng người Do Thái có ảnh hưởng mới, ví dụ người Trung Quốc ở vùng Viễn Đông của Nga.
Theo điều tra dân số năm 2010, 80.9% dân số cho biết rằng họ là nguời dân tộc Nga; Tuy nhiên, thống kê cũng chỉ ra rằng khoảng 26 triệu người thuộc về 180 các nhóm dân tộc khác. Kết quả là, đa được nhận biết trước tiên ở đặc điểm sắc tộc, đó là lý do tại sao các vấn đề văn hóa thường được đặt vào cảm giác “dân tộc học” và liên kết với những nét riêng của khu vực. Văn kiện chính trị chính trong ngành là khái niệm chính sách nhà nước (1996) hiện nay đang được điều chỉnh. Theo các đề xuất của viện công (2007), khái niệm này cần phải dựa trên quan niệm hiện đại của đa dạng văn hóa và nhân quyền, do đó cần hiện đại hóa các nền tảng bản sắc.
Các hình thức hỗ trợ nhà nước đối với các nhóm văn hóa dân tộc gồm nhiều loại khác nhau, ví dụ: Hội đồng các vấn đề Kazak, Hội đồng này hoạt động dưới quyền Tổng Thống Nga vào năm 2009, một ủy ban thường trực về tổ chức hỗ trợ nhà nước để phát triển văn hóa Kazak, cho các nhóm nghệ thuật của họ và óc sáng tạo của trẻ em (khiêu vũ truyền thống, hát, thủ công, vv) được thành lập. Các chương trình sáng tạo liên bang (FTPs) đóng vai trò làm công cụ khác để hỗ trợ các cộng đồng văn hóa dân tộc và dự báo quỹ tài trợ nghệ thuật và thủ công truyền thống. Năm 2009, thực hiện chương trình sáng tạo liên bang  để phát triển kinh tế xã hội và văn hóa dân tộc Đức sống tại Liên bang Nga cho giai đoạn 2008-2012 bao gồm hỗ trợ học tiếng Đức, tổ chức các cuộc triển lãm, lễ hội và những ngày của văn hóa Đức trong các khu vực của Liên bang Nga, tài trợ tờ báo “Sibirishe Zeitung plus” (Novosibirsk), vv. Năm 2009, khái niệm phát triển bền vững cho những dân tộc bản địa  của miền Bắc, Siberia và Viễn đông thuộc Liên bang Nga của chính quyền được áp dụng để hình thành các chiến lược có liên quan đến tận năm 2025.
Năm 2007, có khoảng 2300 tổ chức có bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm 662 cộng đồng tự trị văn hóa quốc gia (NCA), năm 2010 con số này tương đương 827. Các NCA và các loại hình khác về các hiệp hội văn hóa dân tộc bao gồm trung tâm văn hóa Roma thuộc phía Bắc Caucasus hoặc phong trào công của toàn nước Nga gọi là hiệp hội ugro-Phần Lan của Nga nhận hỗ trợ nhà nước trực tiếp cho việc phát triển văn hóa dân tộc. Các hoạt động quan trọng phổ biến nhất được tổ chức bởi NCA là nghệ thuật biểu diễn nghiệp dư, thành lập các thư viện và lưu trữ hình ảnh bằng các thứ tiếng mẹ đẻ, và các khóa học tiếng. Ngược lại, không có các chính sách văn hóa rõ ràng cho các dân tộc thiểu số mới, ví dụ cho những lao động di cư hợp pháp và bất hợp pháp ngoại trừ việc tích hợp ngôn ngữ rất nhỏ;  những người này không được quyền đối với bất kỳ hỗ trợ hay quy định xã hội nào.
Các nền văn hóa dân gian truyền thống và óc sáng tạo nhận hỗ trở nhà nước ở tất cả các cấp quản lý hành chính và vẫn duy trì rất phổ biến giữa các nghệ sỹ nghiệp dư ở các khu vực thành thị và nông thôn. Ở cấp liên bang, các hoạt động kỷ niệm chính được tổ chức, bao gồm lễ kỷ niệm thứ 300 của Khakassia (2007) và lễ kỷ niệm thứ 450 của Udmurita (2008) kết hợp nhà nước Nga, được báo cáo rộng rãi trên phương tiện truyền thông và bao gồm các hợp phần văn hóa quan trọng.
4.2.5. Các vấn đề và chính sách ngôn ngữ
Tiếng Nga là ngôn ngữ chính thống trên toàn bộ Liên bang Nga; các nước cộng hòa nằm trong Liên bang Nga (ngoại trừ Karelia) có quyền lập các ngôn ngữ quốc gia riêng (gọi là các ngôn ngữ “tiêu đề”, ví dụ. Ingush ở nước cộng hóa Ingush; xem phần 5.1.9).
Nga vẫn duy trì phương tiện liên lạc và củng cố không gian văn hóa chung ở trên khắp đất nước: theo thống kê dân số năm 2010, 99.4% bộ phận dân số sử dụng tiếng Nga. Ở nhiều vùng, các khóa học tiếng Nga được cung cấp cho lực lượng lao động nước ngoài tới từ Đức trong những năm 60 và 70 đến từ các nước cộng hòa Xô Viết cũ.
Chương trình chiến lược liên bang tiếng Nga (2011-2015) đươc thiết kế để hỗ trợ, bảo tồn và phổ biến sử dụng tiếng Nga, bao gồm các đồng bào sống ở nước Ngoài. Nhiệm vụ của nó như sau:
  • Cung cấp sử dụng tiếng Nga làm ngôn ngữ nhà nước của Liên bang Nga;
  • Hỗ trợ tiếng Nga trở thành ngôn ngữ giao tiếp liên dân tộc;
  • Phát triển tiếng Nga trở thành phương tiện tích hợp kinh tế, nhân văn và pháp lý trong khối các nước độc lập; và
  • Đáp ứng các nhu cầu ngôn ngữ và văn hóa của các đồng bào sống ở nước ngoài.
Năm 2007 được tuyên bố là năm của tiếng Nga, khi các cơ quan khác nhau – gọi là văn hóa, giáo dục và các Bộ ngoại giao – hợp tác tổ chức các sự kiện có liên quan ở Nước Nga và ở nước ngoài. Nhiều sự kiện được tổ chức để khuyến khích sự tham gia học tập ngôn ngữ và sử dụng nó làm phương tiệp giao tiếp liên văn hóa. Quỹ tài trợ “Russky Mir” được thành lập trong cùng năm đó để xúc tiến tiếng Nga trở thành báu vật quốc gia và một phần của nền văn hóa Nga và thế giới, hỗ trợ các chương trình học tập tiếng Nga cả trong nước và nước ngoài.
Có hơn 1500 ngôn ngữ và tiếng địa phương được sử dụng trong sinh hoạt. Hầu hết ở cấp vùng, các ngôn ngữ của các dân tộc bản địa và các vùng dân tộc thiểu số nhận hỗ trợ tài chính nhà nước như các ngôn ngữ giáo dục, xuất bản và truyền thông. Tuy nhiên, hỗ trợ thực tế không đủ để tạo ra một ngành có thể đứng vững. Việc thiếu nhân sự sư phạm với các kỹ năng đào tạo ngôn ngữ thiểu số tốt, cùng với ví dụ như cách sống du cư được bảo tồn của các dân tộc Bắc Âu, tạo ra các khó khăn chung trong việc giảng dạy các ngôn ngữ mẹ đẻ, việc này dẫn đến sự suy tàn.
Năm 2001, Nga đã ký hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số, thực hiện hiến chương được đặt trong trách nhiệm của Bộ Phát triển vùng. Các khả năng của việc phê chuẩn của hiến chương được đánh giá trong chương trình chung của Hội đồng châu Âu, Ủy ban châu Âu và Bộ về “các dân tộc thiểu số ở Nga – phát triển các ngôn ngữ, nền văn hóa, phương tiện truyền thông và xã hội dân sự”.
4.2.6. Đa nguyên phương tiện truyền thông và đa dạng nội dung 
  Theo dữ liệu được công bố bởi cơ quan liên bang về in ấn và truyền thông đại chúng, ngày 1 tháng 2 năm 2006, có 66. 931 công ty truyền thông được đăng ký, trong đó có 14. 290 công ty chuyên về truyền thông điện tử, và 1. 816 hoạt động trong “Runet” (phần ngôn ngữ Nga trên Internet), sau này trở thành nguồn thông tin chính cho thế hệ trẻ tiếp theo. Đầu năm 2010, có khoảng 20 kênh truyền hình không đăng ký thuê bao (FTA) bao gồm kênh đặc biệt “Kultura” và 230 kênh khác, trong đó có 50 kênh (bao gồm âm nhạc và kênh dân tộc) miễn phí. Phát sóng nhà nước vẫn là xương sống của hệ thống truyền thông điện tử.
Công ty phát sóng truyền hình và phát thanh nhà nước Nga (VGTRK), có hơn 90 chi nhánh vùng và bao quát khắp nước Nga, thuộc nhà nước; thị phần của các cơ quan nhà nước trong công ty nhà nước “kênh đầu tiên” là 51%. Có các công ty phát sóng thuộc các cơ quan vùng, mới đây được đề xuất cổ phần hóa bởi tổng thống Nga. Các đài phát thanh âm nhạc chiếm phần lớn truyền thanh thương mại, trong khi các đài thông tin thường thuộc về các công ty phát sóng lớn. Các điều khoản về đa nguyên truyền thông  là định hương trong chính sách văn hóa  nhà nước.
Mặc dù có sự giảm vốn truyền thông trực tiếp về tổng thể, ngân sách liên bang cung cấp:
  • Sản xuất các chương trình văn hóa ví dụ như thúc đẩy đa dạng văn hóa, sự khoan dung, đại diện cho các nền văn hóa;
  • Xuất bản hội thảo văn hóa, giáo dục, khoa học và các tác phẩm viễn tưởng thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại; hỗ trợ văn hóa sách và đọc;
  • Các kênh phát sóng cụ thể với nội dung văn hóa ( ví dụ các kênh truyền hình và truyền thanh “Kultura” hay “Opheus” đài phát thanh âm nhạc cổ điển) hoặc các khán khả có mục tiêu (ví dụ nhưng kênh truyền hình “Bibigon” cho trẻ em); và
  • Số hóa và bảo tồn kho lưu trữ nghe nhìn quốc gia như một phần của di sản văn hóa.
Một trong những  ưu tiên chính được chỉ ra trong Khái niệm phát triển phát sóng ở Nga năm 2006-2015 là nhằm tăng số lượng các chương trình quốc gia phục vụ đại bộ phận dân số. Khái niệm cũng nhấn mạnh đến:
  • Nhu cầu tăng thêm các nguồn lực để biên dịch các chương trình mục tiêu cho các dân tộc thiểu số, ngôn ngữ, tôn giáo; và
  • Tầm quan trọng của việc hình thành các kênh truyền hình công quốc gia và phi chính phủ cho các nhóm văn hóa xã hội riêng (ví dụ cho trẻ em).
Phát sóng sử dụng chủ yếu ngôn ngữ Nga, và các chuyên gia chỉ ra rằng có sự sụt giảm trong nội dung trong nước ở các chương trình phát sóng khu vực, chúng được thay thế bằng sản phẩm quốc gia. Xu hướng này cũng được hỗ trợ bởi tình hình kinh tế, đặc biệt rất khó cho các tổ chức vừa và nhỏ. Đồng thời, các nội dung trong nước chiếm 80% các chương trình được biên dịch và 74% khối lượng phát sóng.
Các vấn đề chính sách hiện nay ví dụ như tự do ngôn luận và kiểm duyệt, các biện pháp chống độc quyền, lệ phí cao để chuyển phát tạp chí định kỳ bằng bưu điện, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng, đa dạng ngôn ngữ và nội dung của báo chí khu vực được thảo luận trong Ủy ban truyền thông, các chính sách thông tin và tự do ngôn luận trên phương tiện truyền thông của Viện công. Mặc dù có các cuộc thảo luận công cộng về nhu cầu cho ra đời công tác kiểm duyệt sự bạo lực và tàn bạo đã trở thành phổ biến trên TV, theo khảo sát xã hội học VCTOM năm 2008 cho thấy rằng khoảng 58% bộ phận dân số ủng hộ loại hình kiểm soát này và những con số đang giảm dần (tương đương 76% năm 2004). Viện công cũng đề xuất phát triển một hệ thống viện trợ không hoàn lại quốc gia và các cuộc thi chuyên nghiệp về các sản xuất truyền thông và nội dung văn hóa dân tộc và các ngôn ngữ của các dân tộc Nga.
4.2.7. Đối thoại liên văn hóa: các tổ chức, chiến lược và chương trình
Cung cấp đối thoại chiến lược là một bộ phần truyền thống và tiềm ẩn của chính sách văn hóa và xã hội của Nga trong vai trò là một đất nước đa dạng văn hóa, trong khi các khái niệm Xô Viết về “các mối quan hệ của những người cùng một dân tộc hoặc “các tình hữu nghị các dân tộc” là các  yếu tố thay thế cho “đối thoại”. Hầu hết các hình thức được mở rộng là các hội thảo, lễ hội, triển lãm, trao đổi liên vùng, vv. Đối thoại liên văn hóa tương đối mới nổi và việc lôi kéo sự tham gia của tất cả các nguyên tắc tôn giáo trở thành một vấn đề vô cùng nhạy cảm.
Bộ Phát triển vùng chịu trách nhiệm điều hành cả đối thoại liên dân tộc (liên văn hóa) và hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước và các chính quyền tự trị văn hóa quốc gia hoặc các cộng đồng tôn giáo. Phần việc thiết thực được tổ chức ở cấp quốc gia khi mà các chương trình đặc biệt được thực hiện. Tương tác văn hóa thường xuyên của các tổ chức công với các nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, giáo xứ chủ yếu được tổ chức bởi các nhà chức trách địa phương và khu vực. “Các ngôi nhà hữu nghị” đóng vai trò làm các điểm đầu mối cho các đơn vị và các hoạt động, số lượng lớn trong các hoạt động này thuộc về phong trào văn hóa “dân gian”. Ở các thành phố tự trị, giảng dạy lòng khoan dung cũng trở thành một công cụ xúc tiến đối thoại.
4.2.8. Các chính sách văn hóa và cố kết xã hội
Cho đến tận gần đây, các cuộc khảo sát trưng cầu ý dân hoặc các chương trình của chính phủ không tạo liên kết rõ ràng giữa chính sách văn hóa và cố kết xã hội, đây vẫn là một vấn đề chính của nghiên cứu. Tuy nhiên, có các “điểm nóng” có thể bị tác động bởi các chính sách văn hóa chiến lược, ví dụ dấy lên các thái độ tiêu cực cho bộ phận dân tộc di cư từ các nước cộng hòa Xô Viết cũ, phía Bắc Caucasus, vv. Năm 2009, Bộ trưởng Bộ Văn hóa của Liên bang Nga đề xuất xúc tiến các hoạt động liên bộ để hỡ trợ cố kết xã hội và chuẩn bị các giải pháp chính sách văn hóa đặc biệt hỗ trợ lòng khoan dung, mở rộng thông tin liên dân tộc, và thách thức bài ngoại.
Các cuộc khảo sát về tính chất tổng thể đã tiết lộ sự sụt giảm lòng tin và đánh giá thấp sự hợp tác, các nguyên tắc trao đổi, tôn trọng lẫn nhau ở nước Nga hiện đại. Cuộc nghiên cứu so sánh cuả tất cả các Trung tâm nghiên cứu quan điểm công cộng về lòng tin giữa cá nhân với nhau (2005) phát hiện rằng tỷ lệ này ở Nga thấp hơn ở Liên Minh châu Âu (45% so với 54% số người thường có lòng tin vào con người và 23% so với 11% số người hầu như không bao giờ tin tưởng người khác). Đại bộ phận dân chúng không đặt sự tin tưởng toàn bộ vào người giàu, đặc biệt nếu họ được giao vào các vị trí vững chắc trong các vấn đề văn hóa. Một cuộc khảo sát xã hội học tuân theo đề xuất của Bộ trưởng Bộ Văn hóa về việc lôi kéo các mạnh thường quân tham gia quản lý các viện bảo tàng (2008) tiết lộ rằng có 42% đối tượng trả lời cảnh giác với khả năng tham ô tài sản công. 
Hầu hết tất cả các cuộc khảo sát đều chứng mình sự tin tưởng vào sự tương tác trực tiếp giữa đạo đức văn hóa và xã hội cao và thể hiện mong muốn vào sự hỗ trợ và xúc tiến của nhà nước về các tổ chức và các giá trị văn hóa làm phương tiện để tăng cường các giá trị đạo đức. Những kết quả này có thể được hiểu là một dấu hiệu về nhu cầu xã hội tổng thể về sự hỗ trợ chủ động cho các giá trị đạo đức và các chương trình văn hóa thực tiễn khuyến khích sự cố kết xã hội đặc biệt về các mối quan hệ liên văn hóa căng thẳng.
Thiết lập các mối quan hệ khoan dung trở thành mục tiêu của nhiều chương trình khu vực bao gồm “chương trình khoan dung được thực hiện ở Bang St.Petersburge. Chương trình này nhằm mục đích tổng hòa các mối quan hệ liên văn hóa, liên dân tộc, và liên tôn giáo cho giai đoạn 2011-2015 được hình thành để nối tiếp chương trình “khoan dung” trước đây và nhằm mục tiêu xây dựng và tăng cường môi trường khoan dung ở St. Petersburge dựa vào các giá trị văn hóa của xã hội Liên bang Nga đa dân tộc, bản sắc dân tộc của toàn Liên bang Nga, và bản sắc riêng về văn hóa xã hội của St.Petersburge. Nhà nước cũng dự tính việc hỗ trợ cho các vấn đề hội nhập xã hội và tiếp nhận ngôn ngữ văn hóa sẽ thành công. Các mục tiêu của nó sẽ đạt được thông qua:
  • Xây dựng nền văn hóa khoan dung thông qua hệ thống giáo dục;
  • Thông tin liên lạc liên tôn giáo và hỗ trợ thông tin liên lạc liên văn hóa
  • Xúc tiến các giá trị khoan dung trên các cộng đồng truyền thông của St. Petersburge; và
  • Thiết lập thái độ “không khoan nhượng” đối với các ý tưởng bài ngoại và phân biệt chủng tộc.
4.2.9. Các chính sách việc làm cho ngành văn hóa
Năm 2009, có khoảng 818 nghìn lao động toàn thời gian làm việc trong các tổ chức văn hóa và nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa (có khoảng 840 nghìn lao động năm 2004 và 800 nghìn năm 2006). Ngành văn hóa có đặc điểm là thiếu nhân lực có trình độ, thiếu những lao động trẻ hơn tham gia vào lĩnh vực này, cũng như hiện tượng chảy máu chất xám trong ngành. Vấn đề là các lao động này nhận lương thấp nhất so với tất các nghề khác trong lĩnh vực công. Tình hình khu vực là không đồng đều nói chung và đặc biệt ở các khu vực nông thôn; lương trung bình của các tổ chức khu vực và liên bang thay đổi rất nhiều, năm 2006, tương đương 11. 497 và 5. 368 Rub; năm 2009, tương đương 21. 522 và 10. 034 Rub. Ngoài ra, công việc của các lao động ngành văn hóa không ổn định và khoảng 1/4 trong số đó chuyển việc hàng năm.
Để tăng lương trong khối văn hóa công, năm 2008, việc tính toán lương cụ thể cho ngành mới đã được thực hiện, tăng mức lương cơ bản thêm 30%. Cũng có các điển hình về các sáng kiến hiệu quả để thu hút lực lượng lao động văn hóa vào các khu vực địa phương bằng cách cung cấp lao động trẻ hơn cùng với hỗ trợ thêm. Tuy nhiên, việc này không đủ để giải quyết vấn đề trước đây, và năm 2012,  Nghị định tổng thống đề cập việc tăng lương trong ngành. Quyết định này vẫn chưa được ủng hộ bằng bất kỳ quỹ tài trợ thêm nào và hiện đang triển khai cắt giảm việc làm. Nhân viên của Thư viện Quốc Gia Nga ở thành phố St. Petersburg cắt giảm 270 người.
Tuy nhiên, vẫn cần có một đội ngũ nhân công có kỹ năng được đào tạo bằng các công nghệ cao và có khả năng thực hiện chức năng trong tình hình kinh tế mới. Rất nhiều trong số này làm việc trong lĩnh vực văn hóa là người già và được đào tạo trong hệ thống xã hội nhà nước phúc lợi cũ. Thu hút lao động văn hóa và đào tạo giám đốc và quản lý văn hóa vẫn là thách thức cơ bản, cũng như đối với hệ thống giáo dục.
4.2.10. Các chính sách văn hóa và bình đẳng giới
Bình đằng giới không được xác định là vấn đề chính sách ở cấp Chính phủ. Tuy nhiên nhân viên ngành văn hóa chủ yếu là phụ nữ vì đây là ngành được coi là nằm trong các ngành có thu nhập thấp khác ( Giáo dục, y khoa, công việc xã hội).
Trong khối nhà nước, trong nhiều năm, lương và thưởng trong ngành văn hóa và nghệ thuật là thấp nhất. Năm 1999, có 554. 000 và năm 2007, có 603. 553 phụ nữ được tuyển dụng trong hệ thống Bộ Văn Hóa. Năm 2004, lương trung bình của “phụ nữ” trong ngành (3. 791 Rub) thấp hơn lương tương ứng của “nam giới” ( 5. 505 Rub), và xu hướng này tương quan với tình hình việc làm chung. Về tổng thể, bộ máy nhà nước chủ yếu là nhân viên nữ. Mặc dù, năm 2007, phụ nữ chiếm 70.8% công chức ở cấp liên bang và 72.1% ở cấp khu vực, những người ra quyết định phần lớn là nam giới (chiếm khoảng 80% trong bộ phận nhân sự quản lý.
Cùng thời điểm, đào tạo chuyên môn cao hơn về lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật vẫn rất phổ biến trong bộ phận nữ giới: Năm 1998/1999 trên 53% tổng số sinh viên và 66% tổng số sinh viên trong ngành văn hóa và điện ảnh là nữ giới. Năm 2005/2006, các chỉ số này tăng nhẹ từ 57% tới 74% tương ứng. Năm 2007/2008, nữ giới chiếm 71% học sinh ở trường cấp 2 đặc biệt và 74% sinh viên ở các trường trung học văn hóa và nghệ thuật, trong khi các chỉ số này chiếm 50% và 57% tổng lượng sinh viên.
4.2.11. Các công nghệ mới và số hóa trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật
Vi tính hóa, số hóa và phát triển truyền thông mới đã làm tăng trưởng mức độ sử dụng Internet ở Liên bang Nga và đổi mới dịch vụ trực tuyến trong các ngành văn hóa và truyền thông. Nhằm thay đổi các thông lệ và cảnh quan văn hóa, cải thiện việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ văn hóa và thậm chí đối với việc tiếp cận văn hóa trên khắp cả nước. Các công nghệ IT đã được bổ sung cho cơ sở hạ tầng văn hóa và được cho là rất quan trọng cho sự phát triển văn hóa "bình thường" ở các thị trấn nhỏ và làng mạc của một nước lớn như Nga.
Các mục tiêu “xây dựng xã hội thông tin” ở Nga là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công nghệ hiện đại, mặc dù cơ sở hạ tầng hiện nay không đủ và tương đối đắt cho người sử dụng. Tuy nhiên, năm 2012, cuộc khảo sát của Trung tâm nghiên cứu ý tưởng của cộng đồng dự ước tính đã có khoảng 55% người dân đã được tiếp cận Internet. Trong năm 2011-2012, thị phần người sử dụng Internet  thu nhập thấp đã tăng 9%, người về hưu là 16% và những người có trình độ học vấn thấp 7%. 
Chương trình chiến lược liên bang Điện tử-Nga (2002-2010) nhằm mục đích phát triển thông tin liên lạc của quản trị công và cung cấp tiếp cận các hệ thống thông tin công, bao gồm kết nối các tổ chức văn hóa tới các website. Trong số các tổ chức văn hóa, các cơ quan nghiên cứu và viện bảo tàng hầu hết đều tham gia công tác số hóa; sau này tham gia phát triển các mạng lưới quốc gia và các dự án điện tử.
Các phương tiện truyền thông cũng sử dụng công nghệ trên Internet để chuyền tải thông tin.  kênh truyền hình “Rain”, được phát hành trên internet, tham gia phát sóng cáp và vệ tinh. Năm 2008, thị trường trò chơi trực tuyến tăng 80%, doanh thu ước tính là 300 triệu đô la Mỹ năm 2009.
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 8
Ảnh minh họa

5. Các quy định pháp lý chính trong lĩnh vực văn hóa
5.1. Điều luật chung
5.1.1 Hiến pháp
Theo Hiến pháp của Liên bang Nga (1993), “Liên bang Nga-Nước Nga là một nhà nước dựa trên luật pháp, liên bang và dân chủ với hình thái chính phủ cộng hòa”, ở đó các quyền và tự do cá nhân được đánh giá cao nhất. Các điều khoản dưới đây đặc biệt nhấn mạnh vấn đề có liên quan ở trên:
  • Điều 26 thiết lập quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, đào tạo, học tập và sáng tạo; 
  • Điều 29 đảm bảo quyền tự do ngôn luận và tư duy của việc tìm kiếm quy phạm pháp luật, sản xuất và phổ biến thông tin bao gồm thông tin đại chúng, và cấm kiểm duyệt;
  • Điều 44 đảm bảo quyền tự do sáng tạo, tiếp cận văn hóa, các quyền tham gia vào đời sống văn hóa và sử dụng các tổ chức văn hóa và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Điều khoản này cũng công bố việc bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử và các đài tượng niệm được coi là nhiệm vụ của công dân;
  • Điều 68  xây dựng tiếng Nga trở thành ngôn ngữ nhà nước trên toàn lãnh thổ quốc gia và cho các nước cộng hòa nằm trong nước Nga có quyền thiết lập ngôn ngữ chính thống riêng để được sử dụng cùng với tiếng Nga; và
  • Liên bang Nga cũng đảm bảo các quyền của các dân tộc bản địa theo các chuẩn mực và nguyên tắc luật quốc tế (Điều 69).
5.1.2. Phân chia thẩm quyền

Thống kê chi tiết năng lực văn hóa ở Liên bang Nga nhìn chung được xác định trong Hiến pháp như sau:
  • Các chính sách liên bang cơ bản và chương trình phát triển dân tộc, văn hóa và xã hội và các quy định về quyền sở hữu trí tuệ thuộc phạm vi năng lực của liên bang Nga; và
  • Đặc biệt các địa hình tự nhiên được bảo tồn, các đài tưởng niệm văn hóa và lịch sử, các vấn đề chung về giáo dục, đào tạo, khoa học, và văn hóa, bảo vệ môi trường và các phương pháp truyền thống của đời sống về các nhóm dân tộc thuộc phạm vi năng lực chung của Liên bang Nga và các đơn vị của mình.
Theo luật liên bang về các nguyên tắc chung của quản trị khu vực và chính quyền tự trị địa phương (2003), phạm vi năng lực của các nhà chức trách khu vực và địa phương được tái phân bổ và đề cập trong ­luật cơ bản về văn hóa như sau:
  • Đảm bảo các quyền văn hóa và tự do trong lĩnh vực văn hóa và xác định các nguyên tắc chính sách văn hóa quốc gia;
  • Áp dụng luật liên bang và các quy định khác;
  • Xây dựng các chương trình văn hóa liên bang;
  • Phân bổ các quỹ về văn hóa trong ngân sách liên bang;
  • Điều phối chính sách đối ngoại về hợp tác văn hóa, bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu các vật thể có giá trị văn hóa;
  • Duy trì hệ thống thống kê quốc gia và thông tin cơ sở của ngành văn hóa;
  • Lập các tiêu chuẩn và chính sách đào tạo chuyên môn, việc làm, phúc lợi xã hội, tỷ lệ lương tối thiểu và nhuận bút trong ngành văn hóa; và
  • Bảo tồn các đài tưởng niệm văn hóa và lịch sử có tầm quan trọng liên bang và có giá trị riêng.
Ở cấp khu vực, các tổ chức và di sản về hiện trạng khu vực được quản lý và :
  • Các dịch vụ thư viện được cung cấp và tài trợ;
  • Nghệ thuật và thủ công truyền thống và các chính quyền tự trị văn hóa quốc gia và các hoạt động của nó được hỗ trợ;và
  • Nghiên cứu các ngôn ngữ quốc gia và các nguyên tắc khác liên quan đến các vấn đề dân tộc và văn hóa được xúc tiến.
Ở cấp địa phương bao gồm:
  • Cung cấp các dịch vụ thư viện và các dịch vụ văn hóa khác;
  • Hỗ trợ các hoạt động giải trí và các tổ chức văn hóa địa phương; và
  • Bảo tồn các đài tưởng niệm và di sản văn hóa địa phương.
Việc tái phân chia trách nhiệm làm thay đổi tình hình của các tổ chức văn hóa địa phương và các chính sách nhà nước có liên quan. Trước tiên, cơ sở pháp lý có liên quan nghèo nàn, ngân quỹ không chắc chắn, tất cả đe dọa quyền tiếp cận văn hóa. Trong những trường hợp này, Bộ Văn hóa cần phải tìm kiếm các biện pháp để thiết lập giám sát đối với công tác triển khai thực hiện các chính sách văn hóa trong các khu vực. Từ đó, các khu vực này hình thành luật pháp riêng về văn hóa để thiết lập các chính sách khu vực có liên quan và thực hiện trách nhiệm về lĩnh vực văn hóa. Tuy nhiên, các trách nhiệm văn hóa vẫn quá nặng nề trong nhiều trường hợp.
5.1.3. Phân bổ quỹ công
Trong đầu những năm 1990, Luật cơ bản về văn hóa xác định mức tài trợ nhà nước về văn hóa – 2% ngân sách liên bang và 6% ngân sách khu vực (không bao gồm truyền thông), chứng minh ảo tưởng của nhà nước về phúc lợi và chưa bao giờ được củng cố; năm 2004, điều khoản có liên quan bị xóa bỏ khỏi Luật. Các quy định tài chính của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa được đề cập trong các bộ luật ngân sách và dân sự: Quỹ công được cấp cho các tổ chức do chính phủ thành lập (Điều 120 và 161).
Có 3 cấp ngân sách về quỹ văn hóa, trong khi các trách nhiệm tài chính của từng cấp được quy định bởi Luật về quản trị khu vực và Luật về tự trị khu vực (2003) và Bộ luật ngân sách. Ở cấp liên bang, chi tiêu hiện nay thực tế được xác định bằng Luật về ngân sách liên bang và bởi các chương trình mục tiêu liên bang liên quan đến văn hóa. Ở các cấp thành phố và khu vực, các luật mới thay thế việc phân chia các nguồn lực cũ trong các ngân sách có liên quan, do đó đặt quỹ văn hóa công vào tình thế nguy hiểm.
Các hình thái pháp lý mới bao gồm những hoạt động hiến tặng ra đời trong cuối những năm 2000 về hỗ trợ văn hóa và xúc tiến các mối quan hệ công-tư, các mối quan hệ phi thương mại, và các mối quan hệ khác. Tuy nhiên, phác thảo luật về các mạnh thường quân và các hoạt động của mạnh thường quân đã được thảo luận vài năm mà không mang lại kết quả. Tình hình này hy vọng sẽ được cải thiện theo luật mới về văn hóa ở Liên bang Nga bao gồm các tiếp nhận đặc biệt về các mối quan hệ, hoạt động từ thiện, và các hoạt động của các mạnh thường quân trong ngành văn hóa.
Năm 2009, khái niệm hỗ trợ phát triển các hoạt động từ thiện và tình nguyện ở Liên bang Nga được chính phủ áp dụng, xác định các hoạt động đó rất quan trọng đối với công tác phát triển văn hóa, nghệ thuật và giáo dục. Kế hoạch về triển khai thực hiện khái niệm cho năm 2009 và 2010 đòi hỏi cần chuẩn bị các sửa đổi có liên quan trong pháp lý. Năm 2010, Luật về giới thiệu các cải tiến đối với các điều luật pháp lý cụ thể của Liên bang Nga về việc hỗ trợ các tổ chức phi thương mại định hướng xã hội tạo các thuận lợi về kinh tế cho các tổ chức đó.
5.1.4. Các khung an sinh xã hội
Không có những thuận lợi cụ thể cho các nghệ sỹ  mãi đến khi vấn đề an sinh xã hội được quan tâm, những người là đối tượng của các điều luật nói chung có liên quan đến phúc lợi xã hội, thất nghiệp, hưu trí, vv. Như trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, hầu hết các nghệ sỹ vẫn được các viện nhà nước tuyển dụng hoặc nhận hoa hồng từ nhà nước.
Quyền tự do mới giành được về các ngành “tự do” một phần xuất phát từ an sinh trước đây trong các liên minh nghệ sỹ có quyền lực. Ngày nay, Liên minh này trở thành một loại hình đặc biệt của tổ chức chuyên nghiệp cung cấp liên kết và bảo trợ xã hội. Trong đầu những năm 2000, các nỗ lực hiếm hoi được thực hiện nhằm tạo ra khung pháp lý đặc biệt cho các nghệ sỹ bằng việc áp dụng luật cho các lao động sáng tạo trong văn học, nghệ thuật và các liên minh sáng tạo của họ, luật đã hai lần được nghị viện thông qua và hai lần bị tổng thống từ chối. Các liên minh nghệ sỹ có quyền thiết lập trao đổi lao động của riêng họ và các quỹ để hỗ trợ các thành viên nghỉ hưu hoặc không có việc làm.
Những nỗ lực đã được thực hiện nhằm hỗ trợ các nghệ sỹ cao tuổi, từ các khoản viện trợ không hoàn lại của tổng thống trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân cho các nghệ sỹ vượt trội hoặc thu nhập chính từ các chính quyền khu vực đối với các kế hoạch hỗ trợ đặc biệt cho các thành viên của các liên minh nghệ sỹ.
5.1.5. Các luật về thuế
Về tổng thể, Bộ luật thuế (1998-2000) đã loại bỏ hầu hết các khấu trừ về cơ bản, bộ luật được xem là đối nghịch với các chính sách rất cốt lõi về hỗ trợ văn hóa. Với ý nghĩa đó, bộ luật không hỗ trợ sản xuất văn hóa, hay khuyến khích đầu tư hoặc hỗ trợ từ khối tư nhân. Các định hướng chính của các chính sách thuế ở Liên bang Nga trong giai đoạn 2008-2010 không khuyến khích các mối quan hệ công-tư trong ngành văn hóa.
Các hành động trốn thuế đối với các tổ chức văn hóa không nhiều. Bộ luật thuế miễn thuế cho các hạng mục trùng tu và sửa chữa trong việc cải tiến các đài tưởng niệm văn hóa và lịch sử, trùng tu các vật thể văn hóa, và chuyển giao từ thiện miễn phí về hàng hóa, tác phẩm, dịch vụ. Năm 2010, một tuyên bố mới có hiệu lực, miễn thuế VAT đối với các vật thể có giá trị văn hóa được nhập bởi các viện bảo tàng nhà nước hoặc thành phố, thư viện và kho lưu trữ bất kể được mua bằng tiền công hay được hiến tặng. Có một danh danh các quỹ viện trợ không hoàn lại trong nước và nước ngoài và các giải thưởng truyền thông đại chúng, nghệ thuật, văn học và văn hóa, được chính phủ phê duyệt.
Theo luật về việc hình thành và sử dụng tài sản hiến tặng bởi các tổ chức phi thương mại (2006), các tài sản được hiến tặng, được miễn thuế VAT, và việc sử dụng và thu nhập của chúng được miễn giảm thuế lợi nhuận. Tuy nhiên, những lợi nhuận này liên quan đến những người hưởng lợi và không khuyến khích những người làm từ thiện.
Các hành động trốn thuế của các tổ chức văn hóa không nhiều. Bộ luật thuế giả định việc miễn giảm thuế xây dựng, các tòa nhà, dinh cơ thuộc về các nghệ sỹ hoặc những người thợ thủ công dân gian coi như là tài sản, đặc biệt được sử dụng làm hội thảo, cũng như các bộ phận của tòa nhà được sử dụng làm các cuộc trưng bày cá nhân, thư viện, phòng trưng bày, viện bảo tàng, vv….được mở đón tiếp công chúng. Trong bộ luật thuế, có các chiết khấu chuyên ngành đặc biệt cho các tư liệu và các nguồn cung cấp tiêu hao được sử dụng bởi các nghệ sỹ và các nhà văn những người nhận phí tác giả.
5.1.6. Luật lao động
Năm 1993, các quy định pháp lý đặc biệt được lập cho lực lượng lao động sáng tạo nổi trội được tuyển dụng trong các viện công, và trao quyền cho các giám đốc định đoạt lương mà không bị hạn chế. Năm 1994, và năm 1996, các bộ luật chính phủ liên bang đặc biệt thiết lập tỷ lệ tối thiểu về lương bổng giành cho những nhà làm phim, nghệ sỹ, nhà văn và những người khác. Lực lượng lao động sáng tạo được tuyển dụng làm việc trong các viện do nhà nước tài trợ và những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông đại chúng nhận lương, tiền công và phí.
5.1.7. Các điều khoản về quyền tác giả
Nhìn chung, vấn đề bản quyền được coi là một hình thức của quyền sở hữu trí tuệ. Hệ thống quyền tác giả được hình thành trong những năm 1990 gần với truyền thống bản quyền hơn. Hệ thống này được hài hòa với các quy định quốc tế và châu Âu, đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến các công nghệ mới về nghệ thuật, thông tin và phổ biến. Nga trở thành nước ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1952, 1961), La Mã (1961) và các hiệp ước Berne. Tháng 6 năm 2008, Nga cũng tham gia hiệp định thỏa thuận bản quyền WIPO.
Tham gia WTO đưa ra các hạn chế về pháp luật và các ứng dụng vi phạm bản quyền. Tuy nhiên, các bản án được công bố ở các tòa án về các vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ trước năm 2008 chủ yếu là án treo, không thể dừng ngăn chặn các vụ phạm tội.
Các quy định mới và hà khắc hơn được cho ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 2008 ở Phần thứ 4 của Bộ luật dân sự  thay thế toàn bộ các đạo luật trước đây về các quyền tác giả và trách nhiệm pháp lý được mở rộng về vi phạm. Cơ chế quản lý tập thể các quyền tác giả và các quyền có liên quan cũng được thắt chặt. Mặc dụ bộ luật bao hàm việc sử dụng miễn phí các tác phẩm cho các nhu cầu văn hóa, một vài văn kiện trong số đó không cân bằng các quyền tác giả (các quyền được củng cố) và sử dụng hợp lý.
Các quyền tác giả được áp dụng cho các tác phẩm khoa học, văn học và nghệ thuật, không quan tâm đến mục đích, chất lượng và các phương tiện biểu hiện, áp dụng đối với các tác phẩm đã được xuất bản và chưa được xuất bản, bao gồm các tác phẩm phái sinh (dịch thuật, tổ chức âm nhạc, vv). Luật bảo vệ tác phẩm nguyên vẹn, các phần, đoạn, tiêu đề và nhân vật; người biên tập và sản xuất trở thành các chủ thể chính của quyền tác giả. Tiểu thuyết trong Bộ luật dân sự IV đã thắt chặt xử phạt vị phạm bản quyền và mở rộng công tác bảo vệ bằng việc cho ra đời các quyền có liên quan của nhà xuất bản và các quyền của tác giả về biểu diễn.  Danh sách các tác giả được bảo vệ theo Luật cũng được mở rộng ra các cộng tác viên về các tác phẩm tập thể: Người viết kịch bản, đạo diễn phim, vv. Tháng 4 năm 2008, Bộ luật chính phủ hình thành các phí của tác giả về việc bán lại tác phẩm của họ cho công chúng.
5.1.8. Luật bảo vệ dữ liệu
Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân (2006) và Luật thông tin, vi tính hóa thông tin, và bảo vệ thông tin (2006) được áp dụng sau khi được phê chuẩn (2005) trong các Hiệp ước có liên quan của Hội đồng châu Âu. Những luật này liên quan đến các viện văn hóa nhưng không được mở rộng tới các kho lưu trữ; từ năm 2010, các luật này được củng cố toàn diện. Phần thứ 4 của bộ luật dân sự (2008) cũng giới thiệu các quy định về việc sử dụng các hình ảnh cá nhân.
5.1.9. Luật về ngôn ngữ
Hiến pháp quy định về sự công bằng cho tất cả các ngôn ngữ (xem chương 5.1.1); việc phân biệt đối xử ngôn ngữ bị cấm. Các điều khoản của Hiến pháp được ghi chi tiết trong luật đặc biệt về ngôn ngữ của các dân tộc của Liên bang Nga (2005), nhấn mạnh vai trò đặc biệt của ngôn ngữ Nga làm phương tiện thông tin liên lạc quốc gia, và bảo vệ và quy định thay đổi các chuẩn mực văn học của nó.
Từng thành viên của nước cộng hòa trong Liên bang Nga (ngoại trừ Karelia) sử dụng quyền của mình để thiết lập ngôn ngữ nhà nước riêng. Những ngôn ngữ này sẽ được sử dụng trong công văn giấy tờ chính thức và các không gian công ngang bằng với tiếng Nga. Ví dụ, Cộng hòa Mari EI, luật về các ngôn ngữ của cộng hòa Mari EI quy định việc công bố các thông tin quan trọng bằng 2 ngôn ngữ - tiếng Mari và tiếng Nga. Tuy nhiên, việc thay đổi bảng chữ cái có thể chỉ được phê duyệt bằng luật liên bang.
 Luật về quyền của các dân tộc bản địa (1999) hỗ trợ sử dụng các ngôn ngữ có liên quan. Luật tuyên bố hỗ trợ sử dụng tất các các ngôn ngữ khác: thiểu số, bất kể về số lượng  hay sát nhập hành chính, đều được quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, trong các văn kiện chính thức có tầm quan trọng của địa phương, trên phương tiện truyền thông đại chúng (báo chí, đài phát thanh và truyền hình khu vực, vv) và văn học.
Năm 2001, Liên bang Nga ký Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số và từ đó, các điều khoản của hiến chương được thảo luận với nhóm làm việc liên bộ đặc biệt. Những người lập quyết định thừa nhận rằng việc phê chuẩn sẽ cho ra đời các thay đổi quan trọng đối với các hệ thống Luật, giáo dục, tư pháp, quản lý hành chính và truyền thông đại chúng.
5.1.10. Các lĩnh vực khác của luật pháp
Đối với nhiều tổ chức văn hóa, Luật về hình thành cải cách các bộ luật đặc biệt của Liên bang Nga về quan điểm nâng cao vai trò pháp lý của các viện nhà nước (thành phố tự trị), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11 năm 2011 vô cùng quan trọng. Nhằm mục đích thúc đẩy việc tự lực cánh sinh của các viện thành phố và nhà nước khi họ đề nghị có thêm quyền tự do cả về công tác quản lý và nghiên cứu bổ sung quỹ tài trợ. Chính phủ tin tưởng rằng vai trò của tổ chức “tự trị” sẽ rất hấp dẫn đối với các viện văn hóa; tuy nhiên, các chuyên gia dự kiến rằng nhiều (nhà hát, viện bảo tàng, vv….) sẽ không áp dụng tình huống mới.
 Luật về tổ chức các đơn hàng về việc bàn giao hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của nhà nước và thành phố, cho ra đời đấu thầu tất cả các hoạt động của các viện được nhà nước tài trợ bao gồm các viện sáng tạo và nghệ thuật, việc này cũng rất quan trọng đối với các tổ chức văn hóa. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2011, đấu thầu điện tử là phương thức chính của việc tổ chức đơn hàng. Trong ngành văn hóa, nó các tác động tiêu cực, ví dụ trong đấu thầu sản xuất cảnh tượng cho màn biểu diễn kịch mới, giá thấp nhất là yếu tố vô cùng quan trọng, có nghĩa là thực tế, chất lượng nghệ thuật cần phải mang lại chi phí tối thiểu bất kể các đặc điểm khác thắng thầu.
Luật về chuyển giao tài sản có mục đích tôn giáo do nhà nước hoặc thành phố tự trị sở hữu cho các tổ chức tôn giáo do Bộ phát triển kinh tế lập và áp dụng tháng 11 năm 2010 được thảo luận công khai và các chuyên gia văn hóa phê bình kịch liệt. Luật bao hàm quy trình chuyển giao đơn giản về các vật thể di sản được xây dựng bao gồm những thứ có giá trị đặc biệt. Các cuộc thảo luận có liên quan chỉ trích các thiếu sót về mặt thuật ngữ trong luật pháp thực tế tổng thể và nhu cầu cho ra đời các khái niệm pháp lý ví dụ điện “kremlin” hoặc “bảo tàng-dự trữ” và xác định tình hình chính xác hơn.
5.2. Luật văn hóa
Năm 2000, luật văn hóa được định nghĩa theo lĩnh vực pháp lý riêng. Tuy nhiên, có cuộc tranh luận rộng rãi về hệ thống pháp lý tổng thể có nên dựa vào các luật chung hay không (gọi là luật đất đai, lao động, thuế, bộ luật hải quan, vv.) hoặc luật cụ thể theo ngành, ví dụ như ngành văn hóa. Cách tiếp cận trước đây hiện nay khá phổ biến, với các điều khoản cho việc sửa đổi trong tương lai. Do đó, nhiều quy định và luật chung (đề cập “các đặc điểm” về vai trò pháp lý của nghệ sỹ) thiết lập cơ sở pháp lý và quy chuẩn cho toàn ngành văn hóa. Trong những năm 1990, các hiệp ước quốc tế được áp dụng và các quy định khác lấp đầy các điểm mù và cải thiện pháp luật liên bang. Phân chia quyền thực thi pháp lý tạo ra một hệ thống quy định 2 cấp cho ngành văn hóa, trong đó các văn kiện pháp luật liên bang có thể đóng vai trò làm khuôn khổ hoặc được hiểu là các đề xuất.
Bộ Văn hóa có thẩm quyền phác thảo các luật có liên quan; Bộ cũng tạo văn bản dưới luật và các kế hoạch cho ra đời hệ thống các tiêu chuẩn văn hóa. Từ những năm 1990, tất của các thành viên của Liên bang Nga thiết lập luật văn hóa của riêng nước mình, đôi khi khác với luật liên bang. Tình huống này làm nảy sinh vấn đề về sự hòa hợp với các luật pháp liên bang và xây dựng luật pháp khu vực về văn hóa với các ưu tiên liên quan tới các vấn đề địa phương. Toàn bộ kết quả này trong một tình hình văn hóa không đồng đều trong các lãnh thổ ( tương quan với các bất đồng trong phát triển kinh tế).
Năm 2010, bản phác thảo luật mới về văn hóa của Liên Bang Nga được lập để đưa ra nhận thức mới và rộng hơn về văn hóa, gần với bộ luật mà UNESCO đang sử dụng. Các cuộc tranh cãi công chúng và ở nghị viện về bản phác thảo đã chứng tỏ rằng sự hiểu biết về “lĩnh vực” văn hóa vẫn tồn tại; bản phác thảo bị bác bỏ mặc dù nhu cầu về luật văn hóa mới được công nhận. Vai trò pháp lý của các viện văn hóa phát triển theo hướng “cổ phần hóa” trong khi đa dạng hóa các hình thái cơ cấu tổ chức trong ngành văn hóa được xem là nằm trong công tác phát triển chiến lược.
Đầu những năm 2000, có nhiều nỗ lực đã được thực hiện để tạo ra khuôn khổ pháp lý đặc biệt cho các nghệ sỹ. Một luật mới về lao động sáng tạo về văn hóa và nghệ thuật và các liên minh sáng tạo của họ đã 2 lần được Nghị viện thông qua và 2 lần bị tổng thống bác bỏ, vì nó được cho là tạo ra các đặc quyền đặc lợi và miễn trừ các luật hiện hành. Ba luật dưới đây quy định vai trò của các liên minh sáng tạo và các tổ chức nghệ sỹ công khác dựa trên các hoạt động chuyên môn của họ trong lĩnh vực nghệ luật đặc biệt:
  • Luật về các liên minh công ( 1995);
  • Luật về các tổ chức phi thương mại (1996); và
  • Luật về các liên minh chuyên ngành, quyền lợi và đảm bảo cho các hoạt động của họ (1996).
Năm 2007, các sửa đổi về Luật quảng cáo đã thu hẹp thời gian quảng cáo xuống, từ 12 phút xuống còn 8 phút một giờ.
5.3. Luật cụ thể của ngành
5.3.1. Nghệ thuật ứng dụng và thị giác
Các luật chung quy định các hoạt động của nghệ sỹ thị giác và các nhà thiết kế; các luật đặc biệt điều chỉnh việc bồi thường cho các tác phẩm nghệ thuật, thanh toán phí cho tác giả, kinh doanh các tác thẩm nghệ thuật của các tác giả và việc mua bán của họ. Có các chiết khấu chuyên môn đặc biệt cho các tư liệu và chi phí tiêu hao do nghệ sỹ hoặc nhà văn sử dụng, những người nhận được phí tác giả hoặc được hoàn trả cho việc sáng tạo, biểu diễn, hoặc mục đích sử dụng khác về tác phẩm nghệ thuật hay văn học trong Bộ luật thuế. Các xung đột lợi ích trong các mối quan hệ của nghệ sỹ và các liên minh của họ với các nhà chức trách liên quan đến quyền lợi của họ trong việc bảo quản các phòng thu hoặc các phòng trưng bày đôi khi khá mạnh mẽ và được quy định dựa trên các điều luật đặc biệt ở cấp bội, khu vực và địa phương.
Trong những năm 1990, các luật chính phủ đặc biệt được xây dựng về công tác hỗ trợ và bảo vệ nhà nước đôi với các nghề thủ công dân gian như một hình thái của ngành công nghiệp văn hóa. Năm 1999, Luật về các nghề thủ công và nghệ thuật được áp dụng trong việc hỗ trợ phát triển nằm trong nền kinh tế thị trường.
5.3.2. Biểu diễn nghệ thuật và âm nhạc
Các lao động kịch nghệ thành công nhất trong việc vận động hành lang cho các lợi ích về chuyên môn và xã hội của mình và là người đầu tiên nhận được hỗ trợ từ Bộ Văn hóa dựa trên các điều luật chính phủ đặc biệt, ví dụ luật về hỗ trợ nhà nước cho nghệ thuật kịch nghệ sân khấu ở Liên bang Nga (1999). Luật cho ra đời các chế độ kịch nghệ sân khấu và các bản tuyên bố đặc biệt về việc tài trợ các nhà hát thành phố và nhà nước. Các chuyên gia kịch nghệ sân khấu trong nhiều năm, vận động hành lang cho Luật về hỗ trợ của nhà nước dành cho các rạp hát nhưng không thành công. Chính phủ tin rằng các rạp hát có thể tự lực và hy vọng là luật về các tổ chức tự trị sẽ được áp dụng trước tiên cho các rạp hát và các công ty biểu diễn, tạo cho họ sự độc lập trong việc phân bổ thu nhập. Năm 2008, Viện Đuma quốc gia bác bỏ Phác thảo Luật về du lịch và hòa nhạc trong các doanh nghiệp âm nhạc.
Năm 2009, các sửa đổi liên quan đến các tác phẩm nghệ thuật  cho ra đời Luật về các đơn đặt hàng đối với việc vận chuyển hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thành phố và nhà nước; Tuy nhiên, đấu thầu vẫn là hình thức bắt buộc đối với sản xuất trang phục và cảnh tượng, đây được xem là một loại hình hoạt động kinh doanh. Năm 2010, các buổi điều trần quốc hội đặc biệt về  các quy định pháp lý cần thiết cho các rạp hát và các lao động kịch nghệ sân khấu một lần nữa nảy sinh vấn đề về luật đặc biệt dành cho kịch nghệ sân khấu. Kết quả là, đề xuất lập khái niệm phát triển lĩnh vực kịch nghệ sân khấu đến năm 2020, có thể đóng vai trò làm cơ sở phác thảo luật.
5.3.3. Di sản văn hóa
Khái niệm pháp lý về di sản không bao gồm di sản phi vật thể; cơ sở qui phạm vẫn bao gồm một số điều khoản của Luật Xô Viết về  việc bảo tồn và sử dụng các đài tưởng niệm lịch sử và văn hóa (1978). Được thành lập dựa trên các luật dưới đây:
  • Luật về xuất nhập khẩu các vật thể có giá trị văn hóa (1993);
  • Luật về sưu tập viện bảo tàng của Liên bang Nga và các viện bảo tàng ở nước Nga (1996);
  • Luật về giá trị văn hóa thay thế cho Mỹ  là kết quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 và vẫn duy trì trên lãnh thổ của Liên Bang Nga (1998);
  • Luật về các vật thể di sản văn hóa ( về các đài tưởng niệm văn hóa và lịch sử) của các dân tộc Liên Bang Nga (2002); và
  • Luật về các vấn đề lưu trữ ở Liên Bang Nga (2004).
Bộ luật nhà nước về các vật thể có giá trị đặc biệt về di sản văn hóa của các dân tộc Liên Bang Nga liệt kê các di sản vật thể ưu tiên hàng đầu. Bao gồm các viện bảo tàng, thư viện, kho lưu trữ, rạp hát, các viện sau đại học, vv để bảo vệ họ  trước việc cắt giảm tài chính và cổ phần hóa. Luật về di sản văn hóa thay thế (1998) được sử dụng làm cơ sở cho các luật của các viện đặc biệt ví dụ như về sách của trường đại học Sarospatak Calvinist (2006), ….Có các luật bổ sung quy định cấp phép, duy tu, và buôn bán đồ cổ, và các vấn đề khác của di sản nhằm mục đích bảo tồn và ghi chép.
Luật năm 2002 về các đài tưởng niệm văn hóa luận giải các vật thể không thể di chuyển và các bức tranh phù hợp, điêu khắc, vật thể nghệ thuật trang trí, vv như một đơn vị di sản và xác định các trách nhiệm có liên quan của các cơ quan nhà nước và khu vực, tài trợ, bảo tồn, sử dụng và bảo vệ các hạng mục di sản. Luật cũng quy định các điều luật đăng ký nhà nước, vị trí của các loại hình di sản khác nhau bao gồm dự trữ và các khu vực lịch sử, và các điều khoản thỏa thuận cho thuê. Điều 48 thiết lập các quy luật về sở hữu, sử dụng và bố trí các di sản có thể là tài sản liên bang, thành phố hay tư nhân hoặc tài sản của khu vực hoặc loại hình tài sản khác.
Luật  bao gồm các điều khoản đặc biệt về cổ phần hóa hoặc về các vật thể đã được cổ phần hóa của di sản văn hóa, cùng với các quyền và trách nhiệm có liên quan của chủ sở hữu. Các điều khoản của luật này về cổ phần hóa bị treo đến tận ngày 1 tháng 1 năm 2008 với vai trò là luật thứ yếu cần thiết cho việc chuyển đổi theo kế hoạch sang các loại hình tài sản khác vẫn chưa được xây dựng. Luật được ca ngợi về nội dung, nhưng không hiệu quả đến tận năm 2006, do các thiếu hụt trong luật thứ yếu có liên quan. Nó tạo động lực cho các cuộc thảo luận sôi nổi và sự lo ngại giữa cộng động của các lao động làm việc trong lĩnh vực di sản.
Năm 2010, vấn đề sở hữu di sản vật thể được đặt ở trung tâm của các cuộc thảo luận công khai liên quan đến việc áp dụng luật về chuyển giao tài sản có ý nghĩa tôn giáo do nhà nước hoặc thành phố tự trị sang các tổ chức tôn giáo. Các chuyên gia nghi ngờ về công tác chuẩn bị sẵn sàng của các đại diện tổ chức tôn giáo để duy trì hợp lý các vật thể đó và thực hiện quyền văn hóa thể chế về tiếp cận công cộng đối với di sản văn hóa. (xem chương 4.2.2).
Tháng 10 năm 2004, luật đất đai được cải tiến để đưa ra một khả năng cho các nhà thờ và tu viện cổ phần hóa đất đai hoặc sử dụng nó mà không mất phí. Năm 2006, “danh sách mở bắt buộc” được giới thiệu cho tất cả các nơi thực hiện khai quật khảo cổ học và hình phạt về việc không đệ trình những hạng mục khai quật được phát hiện cho các bộ sưu tập viện bảo tàng của Liên Bang Nga.
5.3.4. Văn học và thư viện
Luật thư viện (1994) và Luật giao nộp văn bản (1994), sau này cũng quan tâm đến các sản phẩm nghe nhìn, được áp dụng vào các thời điểm khủng hoảng trầm trọng trong các viện văn hóa và là một điểm yếu trong việc thi hành luật pháp. Nhiệm vụ chính của họ là cung cấp tiếp cận công và bảo tồn các thư viện công như là các viện có tầm quan trọng xã hội. Tuy nhiên, sau này bị lờ đi trong gần 1 thập kỷ bởi 1 số nhà xuất bản; tất cả đều dẫn đến những thiếu hụt trong các bộ sưu tập thư viện quốc gia ở thời điểm đó.
Phiên bản cập nhật đang được xây dựng. Văn bản quan tâm nhất của nó là sẽ đề cập đến việc bảo tồn các nguồn lực internet và thư viện điện tử. Những giới hạn trong luật bản quyền ra đời năm 2008 theo phần 4 của Bộ luật dân sự đề cập đến việc miễn trừ các tác phẩm văn học và đe dọa các vấn đề về việc tạo các bản sao văn bản cho độc giả và sủ dụng sách số hóa. Năm 2009, văn bản Luật thư viện cho ra đời các khái niệm “bộ sưu tập thư viện”, “sưu tập thư viện quốc gia”, và “đài tưởng niệm sách” lấp đầy các điểm mù trong công tác bảo vệ pháp lý của loại hình di sản này. Ưu tiên bảo tồn cho việc tiếp cận về “đài tưởng niệm sách” được đề cập.
5.3.5. Quy hoạch kiến trúc và không gian
Các điều luật trong lĩnh vực được thiết lập trong những năm 1990 bao gồm các luật dưới đây:
  • Luật về các hoạt động kiến trúc ở Liên bang Nga (1995);
  • Luật về các địa hình tự nhiên được bảo tồn đặc biệt;
  • Quy hoạch thành phố và bộ luật xây dựng (1998); và
  • Luật bảo vệ môi trường (2002).
Những luật có liên quan đến dự trữ tự nhiên và các hạng mục dự trữ khác, ví dụ nhằm mục đích bảo vệ môi trường tự nhiên và văn hóa khỏi sự hủy hoại và bóp méo. Luật về các hoạt động kiến trúc ở Liên Bang Nga quy định các mối quan hệ trong các hoạt động chuyên môn để cung cấp môi trường thuận lợi và an toàn, hỗ trợ phát triển nghệ thuật kiến trúc, và bảo tồn di sản được xây dựng, các đài tưởng niệm lịch sử và các thắng cảnh tự nhiên.
Các vấn đề liên quan đến việc bảo tồn thắng cảnh lịch sử, quy định các khu vực bảo vệ và các chế tài của các địa hình được bảo tồn được xử lý trong Bộ luật đất đai, trong đó toàn bộ dữ liệu quy hoạch thành phố trong các văn phòng bảo vệ di sản văn hóa cần phải tôn trọng triệt để. Các công trình duy tu và đổi mới đối với các di sản vật thể không di chuyển được liệt vào danh sách các hoạt động được cấp phép. Gần đây, Các vấn đề sở hữu đất đai trở thành vấn đề quan trọng cơ bản cho các hoạt động bảo tồn, tuy nhiên, nhiều viện văn hóa không có tư liệu hợp lý về quyền đất đai của mình.
Năm 2009, Luật chính phủ giới thiệu các trợ cấp đặc biệt từ ngân sách liên bang cho Viện kiến trúc và xây dựng Nga nhằm mục đích hỗ trợ nghiên cứu cơ bản, cung cấp các dịch vụ được nhà nước trợ cấp cho công dân Nga, và đầu tư phát triển nghiên cứu riêng, và cơ sở hạ tầng sản xuất.
5.3.6. Phim truyện, video và nhiếp ảnh
Luật về Hỗ trợ nhà nước đối với ngành điện ảnh ở Liên bang Nga được áp dụng năm 1996. Luật đưa ra các thuận lợi tạm thời cho ngành điện ảnh ( Ví dụ, miễn thuế và trách nhiệm hải quan), mà chưa bao giờ được thực hiện toàn diện. Tuy nhiên, luật cung cấp khoảng 80% vốn phi ngân sách. Các ưu đãi thuế cho các nhà đầu tư tư nhân hết hiệu lực năm 2001 và được thay thế bằng quỹ công.
Quỹ nhà nước được cung cấp cho các bộ phim ở cấp phim truyện quốc gia, có nghĩa là toàn bộ tư liệu của nó và các bản copy theo luật pháp được đệ trình cho Quỹ phim quốc gia của Liên Bang Nga. Giấy phép phổ biến được cấp sau khi nộp bản copy cho đơn vị sưu tập nhà nước; tuy nhiên, các dịch vụ được cung cấp bởi các rạp hát, rạp chiếu phim không nằm trong danh sách các dịch vụ văn hóa. Đơn vị sưu tầm nhà nước cũng được giao cho Quỹ nhà nước về các chương trình truyền hình và truyền thanh, phim truyện nhà nước Nga và lưu trữ hình ảnh, và lưu trữ âm thanh nhà nước Nga.
Năm 2001, hai nghị định tổng tống được ban hành để tái cơ cấu sản xuất phim truyện và phân bổ phim truyện thông qua biến các studio phim truyện và các công ty khác có liên quan thành các công ty cổ phần. Một vấn đề quan trọng đối với lĩnh vực này là tiền công cho việc sản xuất và phân bổ được quy định bởi các luật chính phủ đặc biệt, các luật này củng cố vai trò tài chính then chốt của các nhà sản xuất phim.
Các luật chung có liên quan đến các hoạt động sản xuất và thương mại quy định sản xuất nghe nhìn, bao gồm xử lý các vấn đề về đạo đức xã hội, kiểm soát việc phổ biến tư liệu khiêu dâm, vv. Luật cụ thể trong lĩnh vực trước tiên quy định sản xuất hợp pháp, cấp phép (của các tư liệu và chương trình nghe nhìn, các chương trình vi tính, và cơ sở dữ liệu ra đời năm 2008), phổ biến và trình chiếu. Những biện pháp này nhằm mục đích chống lại việc sao chụp bất hợp pháp và bảo vệ thị trường khỏi nạn sản xuất bất hợp pháp.
5.3.7. Phương tiện truyền thông đại chúng
Luật phương tiện truyền thông đại chúng, áp dụng năm 1991 và gần đây được sửa đổi đã xác nhận quyền tự do giành được, sản xuất và phổ biến thông tin; của việc thiết lập, sở hữu, sử dụng và bố trí phương tiện truyền thông đại chúng (Điều 1, 3, 4). Tuy nhiên, các điều khoản thực hiện của những quyền tự do này không được rõ ràng trong khi các cơ chế để thực thi các mục tiêu này khá ít. Mặc dù vậy, Luật này vẫn được tin tưởng là một bước quan trọng đối với việc thực hiện các quyền về thông tin và ngôn luận. Báo cáo phòng dân sự năm 2006 đánh giá Luật phương tiện truyền thông đại chúng là một thành quả tự do và kêu gọi thực thi phù hợp. Năm 1995, một luật đặc biệt về việc hỗ trợ nhà nước đối với truyền thông và xuất bản sách và một luật về hỗ trợ kinh tế cho các tờ báo khu vực (thành phố tự trị) được áp dụng.
Trong những năm 2000, hoạt động pháp luật thực tiễn trong lĩnh vực được xây dựng và việc thử nghiệm truyền thông hoặc các nhà báo trở thành phương tiện phổ biến hơn đối với việc giải quyết xung đột, bao gồm nhiều khiếu nại về việc làm tổn hại danh dự. Cộng đồng chuyên môn kêu gọi phát triển hơn nữa các quy định pháp lý trong lĩnh vực bao gồm công tác cải cách truyền thông thuộc sở hữu nhà nước thành các tổ chức công hoặc tư nhân và vận động hành lang để áp dụng Luật về bảo đảm độc lập kinh tế của phương tiện truyền thông đại chúng. Các nhà báo cũng chỉ trích Luật chống chủ nghĩa cực đoan quá rộng cho một diễn giải khái niệm cơ bản có thể được mở rộng để xuất bản. Việc tự điều chỉnh trong hình thức hiến chương trở nên ngày càng quan trọng trong lĩnh vực mặc dù mối quan tâm chuyên môn giữa các phát thanh viên, nhà xuất bản và nhà báo cùng với nhiệm vụ chung tiến triển chậm.
Bản phác thảo mới của Luật phương tiện truyền thông đại chúng được lập bởi Liên minh các nhà báo Nga và được công bố năm 2008, trở thành một sự kiện chuyên môn quan trọng. Bản phác thảo nhằm mục đích làm rõ các định nghĩa cơ bản và điều chỉnh các điều khoản của nó theo thực tế của thị trường truyền thông. Luật mới sẽ hài hòa với Bộ luật dân sự và các bộ luật khác và luật chống chủ nghĩa cực đoan. Luật này sẽ nâng cao việc bảo vệ quyền của các nhà báo, cụ thể hóa các quy định kinh tế trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, củng cố các bộ máy điều chỉnh công khai độc lập, giải quyết các vấn đề cấp phép về việc thay đổi các định dạng kỹ thuật số , và sẽ làm cho các hoạt động thực tiễn phát sóng quốc gia phù hợp với các chuẩn mực của công tác hỗ trợ phát sóng công khai được đề cập trong hồ sơ của CE và UNESCO.
5.3.8. Các lĩnh vực khác của luật có liên quan
Cái được gọi là “chính sách quốc gia –dân tộc” trở thành một vấn đề theo quy định pháp luật từ những năm 1990. Luật về tự chủ văn hóa quốc gia (1996) cung cấp cơ sở pháp lý cho công tác tự tổ chức văn hóa của Diaspora và tạo cơ hội đặc biệt để bảo vệ di sản văn hóa và phát triển các hoạt động văn hóa cho tất cả các nhóm dân tộc, đặc biệt là những dân tộc không có bộ máy quản lý hành chính – lãnh thổ. Các chương đặc biệt của Luật xử lý quyền bảo tồn, phát triển, và sử dụng ngôn ngữ bản địa, bao gồm bảo tồn và phát triển các nền văn hóa dân tộc. Căn cứ theo luật, Tự chủ văn hóa quốc gia (NCA) là một dạng cụ thể của tổ chức công có thể được thành lập bởi một nhóm dân tộc. Nó có thể là một tổ chức thuộc cấp nhà nước Nga, khu vực hay địa phương và các dự án có tầm quan trọng xã hội có thể nhận tài trợ nhà nước. Một NCA cũng có quyền thiết lập các viện giáo dục và viết ra sách giáo khoa và các tài liệu đào tạo khác. Chỉ trích chủ yếu của Luật có liên quan đến các điều khoản mập mờ và không rõ ràng của nó, cùng với việc không chắc chắn đối với các nghĩa vụ chính phủ.
Cũng có một hệ thống các quy định bảo vệ quyền của các dân tộc bản địa. Đây là những luật về các quyền được bảo đảm dành cho các dân tộc bản địa (1999); Luật về các nguyên tắc chung về việc tổ chức công xã giữa các dân tộc bản địa của Phía Bắc, Siberia và vùng Viễn Đông của Liên bang Nga ( 2000), các luật này bảo vệ các nền văn hóa, ngôn ngữ, cách sống và môi trường của họ.
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 9
Liên bang Nga: Chính sách và xu hướng văn hóa - ảnh 10
6. Xúc tiến sáng tạo và tham gia văn hóa
6.1. Hỗ trợ nghệ sỹ và các lao động sáng tạo khác
6.1.1. Các quỹ nghệ sỹ đặc biệt
Các nhu cầu tư liệu của cộng đồng nghệ sỹ nhìn chung được đáp ứng thông qua các quỹ hỗ trợ của nhà nước hoặc các phòng ban trong các đơn vị của các liên minh nghệ sỹ có liên quan. Năm 2010, Ngân sách của Bộ Văn hóa cung cấp trợ cấp để hỗ trợ các thành viên của các liên minh nghệ sỹ và chính quyền và vận động hành lang các vấn đề phúc lợi. Đối với các thành viên liên minh, có các phân xưởng tùy ý sử dụng (cho các nghệ sỹ thị giác), các điểm trọng tâm, ví dụ “Ngôi nhà” của diễn viên hoặc kiến trúc sư, các dịch vụ y tế chất lượng cao hơn và “các ngôi nhà sáng tạo” cư trú tạm thời với giá thấp, các mạng lưới các tổ chức giải trí, vv. Ví dụ, Liên minh của các lao động nhà hát quản lý 8 ngôi nhà giải trí và hỗ trợ 2 ngôi nhà chăm sóc cho các diễn viên có thâm niên.
Độc lập với các liên minh nghệ sỹ, các quỹ đặc biệt được tổ chức bởi những người nổi tiếng trên thế giới được chỉ đạo hỗ trợ các nhóm chuyên môn cụ thể và thế hệ trẻ hơn. Quỹ đó được thành lập ở Nga và ở nước ngoài (giống như quỹ tài trợ từ thiện quốc tế Vladimir Spivakov hoặc Quỹ công từ thiện liên vùng) để tăng tiền hỗ trợ phát triển chuyên môn trở thành các tổ chức quan trọng trong đời sống văn hóa đương đại.
6.1.3. Các khoản viện trợ không hoàn lại, giải thưởng và học bổng
Từ những năm 1990, học bổng và các khoản viện trợ không hoàn lại dài hạn cho trẻ em tài năng hoặc những người trẻ tuổi có nguồn gốc từ các nguồn công và tư đều có sẵn. Có các khoản viện trợ không hoàn lại công đặc biệt cho những người mới bắt đầu  học và viết kịch.
Các khoản viện trợ không hoàn và các giải thưởng nhà nước được trao cho các viện có tên tuổi. Năm 2010, Bộ Văn hóa của Liên Bang Nga đến thời hạn trả 1.879 triệu Eur cho các khoản viện trợ không hoàn lại quốc gia, năm 2011 phải trả  1.790 Rub và 1.534 Rub vào năm 2012. Chính phủ Nga đưa ra:
  • 15 giải thưởng chính phủ Liên bang Nga về văn hóa (1 triệu Rub cho mỗi giải, từ năm 2005);
  • 15 giải thưởng tâm hồn Nga cho các nghệ sỹ dân gian không chuyên ( 100 nghìn Rub cho mỗi giải, từ năm 2007);
  • 10 giải thưởng chính phủ Liên Bang Nga cho truyền thông in ấn ( 1 triệu Rub cho mỗi giảe, từ năm 2005);
  • 8 khoản viện trợ không hoàn lại cho các dàn nhạc giao hưởng và các dàn hợp xướng của trường đại học (445.7 triệu Rub hàng năm trong cá năm 2007-2009 và
  • 14 khoản viện trợ không hoàn lại cho nghệ thuật âm nhạc (600.9 triệu Rub hàng năm trong các năm 2009-2011).
Một vài khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nga cũng được thành lập bao gồm: 
  • Các công ty chuyên môn về âm nhạc và khiêu vũ dân gian (16.3 triệu Rub hàng năm cho 6 công ty trong các năm 2008-2010),
  • Nghệ thuật kịch nghệ sân khấu (347 triệu Rub hàng năm cho 6 rạp hát,và 5 trường nghệ thuật kịch nghệ sau đại học trong các năm 2006-2008);
  • Âm nhạc (810 triệu Rub hàng năm cho 2 rạp hát opera, 2 trường đại học và 3 dàn nhạc giao hưởng trong các năm 2006-2007, năm 2008 tổng cộng lên tới 1 215 triệu), và
  • Rạp hát quân đội Nga (51.11 triệu Rub hàng năm trong các năm 2007-2009)
Và hàng trăm khoản viện trợ không hoàn lại nhỏ hơn của tổng thống (200-250 nghìn Rub) cho các dự án cụ thể hoàn thành danh sách 47 các khoản viện trợ không hoàn lại “lớn hơn” được liệt kê ở trên.
6.1.4. Hỗ trợ liên minh hoặc hiệp hội các nghệ sỹ chuyên nghiệp
Năm 2010, Ngân sách Bộ Văn hóa trợ cấp để hỗ trợ các liên minh nghệ sỹ tương đương với 40 triệu Rub, tỷ lệ này được tính toán dựa trên thuế lợi nhuận được trả bởi các đơn vị sản xuất (các phân xưởng hoặc doanh nghiệp).
Có khoảng 70 000 thành viên của các liên minh nghệ sỹ chuyên nghiệp (tất cả họ đều có các chi nhánh khu vực), các chi nhánh này cũng có các hình thức hỗ trợ phù hợp. Nhiệm vụ chính của họ là nhằm kết nối các chuyên gia và vận động hành lang về các lợi ích chuyên môn, xúc tiến nghệ thuật và hỗ trợ những người trẻ tuổi và những thành viên lớn tuổi hơn. Các liên minh này nhận quỹ tài trợ nhà nước thông qua Bộ Văn hóa và quản lý các cuộc thi có uy tín, lễ hội và các sự kiện nghệ thuật. Những người đứng đầu có thể được tham gia vào công tác tổ chức các lễ hội công và các chiến dịch chính trị khen thưởng cao, cũng như giới thiệu các giải thưởng cho các hoạt động chuyên nghiệp. Ví dụ, Ngân sách của Bộ Văn hóa cho năm 2010 bao gồm 150 triệu Rub cho việc phát triển nghệ thuật kịch nghệ sân khấu được hướng đến liên minh tương ứng.
6.2. Tiêu thụ và tham gia văn hóa
6.2.1. Xu hướng tiêu thụ văn hóa
Ở Nga, tiêu thụ văn hóa chênh lệch khá lớn ở các thành phố lớn và các khu vực nông thông nơi mà cơ sở hạ tầng văn hóa yếu kém. Gần đây được công nhận như một vấn đề chính trị nói chung trong việc cung cấp tiếp cận văn hóa bình đẳng và cân bằng việc tham gia văn hóa. Phương tiện đề xuất để hỗ trợ giải quyết các vấn đề này là cung cấp Internet và phát triển cơ sở hạ tầng di động thư viện trên xe hoặc các rạp chiếu phim di động, vv).
6.2.2. Các chính sách và chương trình
Do khan hiếm nguồn lực (cả về người dân và nhà nước), việc xúc tiến tham gia văn hóa bị hạn chế ở các điểm cụ thể trong một vài chương trình được lựa chọn cho các nhóm xã hội kém may mắn (trẻ em, người khuyết tật và về hưu), cũng như các cộng đồng dân tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, việc tham gia văn hóa, đặc biệt ở các khu vực nông thôn, thấp hơn bởi sự thất vọng và tan rã xã hội tổng thể. Hình thành các sáng kiến văn hóa địa phương phải đối mặt với các kỳ vọng thuộc cộng đồng địa phương từ các nhà lãnh đạo bên ngoài, các tổ chức và nguồn lực.
Hỗ trợ tham gia là phát hiện thành công nhất trong bối cảnh các chương trình được công nhận toàn cầu (ví dụ các lễ kỷ niệm), các lễ hội quan trọng (kịch, phim, âm nhạc, vv), các dự án khu vực và các sự kiện đặc biệt. Mặc dù không có chính sách rõ ràng kết nối sự tham gia trong đời sống văn hóa tới các vấn đề lớn hơn về phát triển xã hội, người ta có thể thấy  các mối liên kết ví dụ các lễ hội hàng năm “ngày của thành phố” mà gần đây trở nên phổ biến trên khắp cả nước và trong suốt thời gian đó, các nhà chức trách địa phương và khu vực tổ chức các chương trình văn hóa phong phú xúc tiến giá trị và thành tựu địa phương.
Có các chương trình nhằm mục đích phát triển các loại hình cụ thể của các hoạt động văn hóa hoặc ngăn chặn sự xuống đốc. Cơ quan liên bang về In ấn và Thông tin liên lạc quần chúng, cùng với liên minh Sách Nga, đề xuất chương trình hỗ trợ và phát triển đọc sách quốc gia, nhằm mục đích nâng cao năng lực của người đọc và tái thiết lập việc đọc sách như một hoạt động chủ đạo, đặc biệt  đối với thế hệ trẻ. Chương trình đề xuất phân tích các thị hiếu đọc sách, xúc tiến đọc sách trên phương tiện truyền thông đại chúng, cuộc thi, lễ hội được tổ chức trên khắp cả nước.
Các chương trình màn ảnh đặc biệt dành cho phim lịch sử khá phổ biến hơn các thành phố lớn, nơi có các rạp chiếu phim đặc biệt hợp tác với các kho lưu trữ. Ở Matxicova, rạp chiếu phim “illusion” trưng này các bộ sưu tập của Quỹ điện ảnh nha fnuowcs của liên bang Nga tổ chức các lễ hội hàng năm của các phim lưu trữ. Dự án có liên quan cũng được phát triển trong các khu vực, ví dụ dự án giáo dục-xã hội truyền thông “điện ảnh Perm” (xem trên website http://permcinema.ru) nhằm mục đích làm cho khán giả thành phố Perm hiểu được các kiệt tác của điện ảnh thế giới và lịch sử của nó, và để sử dụng điện ảnh như một công cụ giáo dục. Dự án được phát động bởi Trung tâm phim truyện nhà nước “Permkino” và cung cấp tiếp cận rộng rãi cho điện ảnh thế giới và làm phong phú nền văn hóa khu vực. Các nhà tổ chức tin tưởng rằng nó cũng có thể hỗ trợ đối thoại giữa các nền văn hóa và cải thiện môi trường văn hóa và xã hội bao gồm ngăn chặn những xung đột dân tộc và văn hóa. Những mục tiêu này có thể đạt được thông qua “các chương trình điện ảnh đại sứ quán”, hội nghị bàn tròn về “thế giới phần Lan và Ugric”, “Thế giới Turk” và các chương trình khác.
6.3. Giáo dục nghệ thuật và văn hóa
6.3.1. Tổng quan thể chế
Có 2 hình thức chính của giáo dục trẻ em và thanh niên trong lĩnh vực nghệ thuật ở Nga. Hình thức chính thống là “hình thức nghệ thuật” trong hệ thống giáo dục nói chung, được quy định bởi các tiêu chuẩn và chương trình quốc gia, tương đối đồng đều và miễn phí. Giáo dục bổ sung hay không chính thống có thể được lựa chọn theo sở thích và khả năng của sinh vieenl thường là miễn phí và có sự khác biệt giữa các tổ chức và nội dung. Các hệ thống giáo dục không chính thống quốc gia, ví dụ các trường âm nhạc, múa, nghệ thuật thiếu nhi, có chức năng làm điểm trọng tâm phất triển nghệ thuật tổng thể và trước tiên, giai đoạn bắt buộc của nghề nghệ thuật thị giác, âm nhạc và múa ba-lê. Việc tiếp cận giáo dục ban đầu về âm nhạc, mỹ thuật, kịch nghệ sân khấu và nghệ thuật bố trí điệu múa ba-lê được liệt trong danh sách các ưu tiên chính trị, tuy nhiên, vấn đề về phí cần phải được điều chỉnh. Hiện nay, việc thiết lập đào tạo của trẻ đang mở ra các cảnh cửa cho người lớn. Hệ thống giáo dục nghệ thuật đa cấp của Bộ Văn hóa (5 477 trường học, 260 trường cao đẳng chuyên ngành, và 68 trường đại học văn hóa và nghệ thuật năm 2009); Bộ Giáo dục và Khoa học giám sát 600 viện có liên quan (xem bảng 13). Sau cải cách chính phủ năm 2004, trách nhiệm đối với các viện đào tạo chuyên ngành và các viện nghiên cứu trở thành điểm thảo luận giữa hai bộ nêu trên. Bộ Văn hóa vận động hành lang thành công về công tác bảo tồn các viện nghệ thuật đại học trong lĩnh vực văn hóa, nhận định rằng hệ thống đào tạo hiệu quả quốc gia duy nhất, bắt đầu từ bé cho tới khi trưởng thành, và dựa vào sự lựa chọn thế hệ trẻ tài năng nhất, có thể bị phá hủy bởi việc cho ra đời các tiêu chuẩn giáo dục tổng thể cao hơn hoặc tham gia quá trình Bologna.
Các hệ thống giáo dục nhà nước hầu hết được tài trợ bởi chính quyền khu vực hoặc các cơ quan quản lý địa phương, trong khi Bộ Giáo dục và Khoa học thường có khả năng tài chính hạn chế và không thể cung cấp chức năng và thiết bị được công nhận. Các chuyên gia dự báo rằng việc khấu hao trang thiết bị cơ sở hạ tầng và tài sản của các trường nghệ thuật thiếu nhi không dưới 80%. Chương trình mục tiêu liên bang trẻ em Nga hỗ trợ giáo dục trong lĩnh vực nghệ thuật  dành cho cả người khuyết tật và thiên tài bao gồm mua công cụ âm nhạc, tiền lương, giải thưởng, trợ cấp, tổ chức các lễ hội, cuộc thi, vv.
Báo cáo phân tích về giáo dục nghệ thuật ở Nga được chuẩn bị gần đây trong quỹ liên kết liên chính phủ và UNESCO dành cho dự án hợp tác giáo dục, hoa học và văn hóa ( IFESCO) về giáo dục nghệ thuật ở các nước CIS: Phát triển tiềm năng sáng tạo thế kỷ 21 (2010).
6.3.2. Nghệ thuật trong trường học
Giáo dục nghệ thuật nói chung cung cấp đề tài nghệ thuật ở tất cả các cấp của hệ thống giáo dục Liên bang Nga, bao gồm trường mầm non, các trường trung học, đại học.  Bắt buộc và dự kiến làm quen với những điểm căn bản của âm nhạc, nghệ thuật thị giác và múa ở các trường mầm non, sau đó học tập và thực hành các hoạt động cơ bản trong nghệ thuật thị giác, âm nhạc và nền văn hóa nghệ thuật thế giới ở trường học. Các nguyên tắc của nó tuân theo khái niệm giáo dục nghệ thuật ở Liên Bang Nga (2001) và bao gồm:
  • Bắt đầu đào tạo từ lúc còn nhỏ;
  • Cách tiếp cận đa văn hóa trong môn học nghệ thuật, cung cấp giảng dạy trong phạm vi rộng của các phong cách nghệ thuật, và các truyền thống nghệ thuật quốc tế trong khi chú trọng nền văn hóa quốc gia;
  • Tuân theo các đặc điểm cơ bản của các nền tảng văn hóa dân tộc và địa phương trong khi hình thành môn học nghệ thuật, và
  • Cách tiếp cận đa phương diện đối với công tác giảng dạy các nguyên tắc nghệ thuật dựa trên các tương tác của nhiều loại hình nghệ thuật;
Trong hệ thống giáo dục tổng thể, tiêu chuẩn nhà nước về giáo dục tổng thể (2004) quy định giảng dạy nghệ thuật ở tất cả các cấp; Đổi mới tiêu chuẩn mang dẫn đến việc rút ngắn các khóa học nghệ thuật tổng quát. Ở các trường tiểu học ( lớp 1-4), nghệ thuật được thể hiện ở việc đọc văn học, âm nhạc và mỹ thuật. học sinh ở trường phổ thông học văn học (lớp 5-9), âm nhạc và vẽ (lớp 5-7), và nghệ thuật (lớp 8-9). Trong giai đoạn cuối cùng của giáo dục trung học ( lớp 10-11), văn học vẫn là môn học bắt buộc và nền văn hóa nghệ thuật thế giới được giảng dạy theo môn học riêng (trong khoa học xã hội và nghệ thuật tự do); triết học; nghệ thuật và mỹ thuật; tổng quát hoặc không cụ thể).
6.3.3. Giáo dục liên văn hóa
Học thuyết giáo dục quốc gia của Liên bang Nga (2000) liệt kê các nhiệm vụ sau:
  • Hài hòa các mối quan hệ liên dân tộc;
  • Bảo tồn và hỗ trợ bản sắc dân tộc và quốc gia của các dân tộc Nga;
  • Bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của tất cả các dân tộc;
  • Phát triển giáo dục và văn hóa của các dân tộc bản địa của phương Bắc, Siberia và vùng viễn đông; và
  • Bảo tồn và phát triển vai trò của ngôn ngữ tiếng Nga trong việc hợp nhất nhà nước đa văn hóa.
Các diễn biến gần đây về giáo dục bị ảnh hưởng bởi hiện tượng di cư gia tăng và bởi sự tự ý thức dân tộc ngày càng lớn dần. Một mặt, theo luật về tự trị văn hóa quốc gia, nhiều trường học dựa trên các nguyên tắc dân tộc được thiết lập, thực tế việc này dẫn đến việc cô lập trẻ em và các tiêu chuẩn đào tạo thấp hơn. Mặt khác, ở Matxicova, các tiếp cận tích hợp được thí điểm; một môn học riêng dành cho trẻ em di cư đã được ra đời, theo đó, trong một năm, các em học tiếng Nga và tiếp nhận kiến thức văn hóa cơ bản về phương thức hòa nhập xã hội trong môi trường mới; sau khi đào tạo, họ được nhận vào các trường chính. Các chương trình tương tự được hình thành ở các vùng khác.
Một số sáng kiến của lao động văn hóa cũng được công nhận, ví dụ dự án của giáo viên viện bảo tàng về đa dạng văn hóa của các dân tộc trên thế giới cho các trường tiểu học, đây là một hình thức mở rộng dự án quốc tế. Tuy nhiên, những sáng kiến này, mặc dù khá nhiều về số lượng, nhưng chủ yếu dựa vào đầu vào cá nhân của lực lượng lao động văn hóa và thiếu các tiếp cận có tính hệ thống. Phổ biến hơn, nhấn mạnh vào đào tạo nghệ thuật/văn hóa vì người ta tin rằng đây là việc làm quan trọng để xây dựng các hệ thống giá trị các nhân và bản sắc, cho việc phục hồi, tham gia và các hoạt động văn hóa và xã hội.
Năm 2009, các cuộc thảo luận về việc cho ra đời một khóa học về nền văn hóa tôn giáo trong hệ thống giáo dục tổng thể dẫn đến tài trợ của tổng thống dành cho 5 khóa học thí điểm (trên cơ sở của của các nền văn hóa Do Thái, Tin lành, Hồi giáo, Phật giáo, và đạo Do Thái và các nền văn hóa tôn giáo trên thế giới và các dân tộc cổ) ở các trường học thuộc 19 khu vực.
6.3.4. Giáo dục nghệ thuật bậc cao và đào tạo chuyên sâu
Đào tạo chuyên ngành trong lĩnh vực nghệ thuật dựa trên các nguyên tắc cơ bản của việc phát hiện trẻ em tài năng, đào tạo liên tục và chuyên nghiệp ngay từ đầu. Khái niệm đào tạo nghệ thuật ở Liên Bang Nga (2001) và Phát triển giáo dục nghệ thuật ở Liên bang Nga năm 2008-2015 (2008) được định hướng cho công tác bảo tồn các hệ thống đào tạo chuyên ngành đa cấp hiện nay và nâng cao vai trò học tập nghệ thuật, tiếp cận và hỗ trợ thế hệ trẻ tài năng.
Hệ thống đào tạo nghệ thuật ở Nga (và Liên minh Xô Viết) từng là thuộc tính chất học thuật. Mạng lưới các tổ chức đào tạo đại học, học viện, và viện âm nhạc, múa ba-lê, và mỹ thuật quốc gia được bảo tồn mặc dù ít nguồn lực ngân sách, và lương cho những người đào tạo thấp. Thực tế, có hiện tượng “chảy máu chất xám bộ phận và lão hóa do nhu cầu lớn ở nước ngoài, đặc biệt đối với các giáo viên âm nhạc và múa ba-lê. Nhưng năm 2002, số lượng sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học quốc gia về văn hóa và nghệ thuật vượt trội so với năm 1990 và sự cạnh tranh cho những thí sinh muốn đăng ký cao hơn mức trung bình.
Các khóa học mới và các chuyên ngành đang được giới thiệu đào tạo chuyên môn, ví dụ bao gồm điều khiển các công nghệ nghe nhìn và truyền thông mới, quản lý và sản xuất. Các sáng kiến tư nhấn làm cho giáo dục nghệ thuật cả về đa dạng và khả năng tiếp cận không chỉ cho các sinh viên có năng khiếu nhất; tuy nhiên, việc đào tạo này khá tốn kém.
Mục đích hình thành nhiều kỹ năng dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao việc tự đánh giá của cá nhân, đạt được tự biểu hiện sáng tạo và kết hợp các cá nhân vào các cộng đồng được thực hiện trong các hoạt động của Viện nghệ thuật chuyên môn quốc gia ở Matxicova, đây là một viện đại học duy nhất được thành lập giành cho đào tạo chuyên ngành trong lĩnh vực nghệ thuật của những người trẻ tuổi bị khuyết tật về thể chất. Có nhiều nguyên tắc nghệ thuật ở Viện và sinh viên của viện và các sinh viên tốt nghiệp tham gia vào nhiều lễ hội và sự kiện trong và ngoài nước, đặc biệt những sự kiện được tổ chức trong chương trình “nghệ thuật vô cùng đặc biệt”.
Đối với cấp đào tạo nghề và giáo dục  phổ thông hơn là trong lĩnh vực nghệ thuật hoặc khoa học nhân văn, đào tạo tổng thể về văn hóa (một khóa học về “Văn hóa học”) là bắt buộc và có thể lựa chọn trong lĩnh vực nghệ thuật. Đào tạo nghệ thuật có thể được giới thiệu thành môn học dưới hình thức nhiều khóa học tự nguyện ví dụ như Nghệ thuật và lịch sử văn hóa hay Nghệ thuât đương đại và thiết kế, vv.
6.3.5. Nghệ thuật cơ bản ngoài trường học và giáo dục văn hóa
Đào tạo nghệ thuật không chính thống bao gồm việc lôi kéo sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động nghệ thuật thực tiễn dựa theo sự lựa chọn cá nhân. Hình thức này được cung cấp thông qua mạng lưới các viện giáo dục rộng lớn.
Trong phạm vi các hệ thống giáo dục không chính thống đa dạng, có các trung tâm sáng tạo cho cho trẻ em và thanh thiếu niên, các câu lạc bộ theo sở thích trong các trung tâm văn hóa, các trung tâm cộng đồng, các câu lạc bộ dân tộc, các trung tâm thẩm mỹ ở các viện bảo tàng, trung tâm giáo dục ở rất nhiều viện văn hóa, các trường học ngày chủ nhật, studio và  các đoàn thể nói chung ở các trường học và các viện giáo dục mầm non, các trung tâm giải trí cho trẻ em, thanh thiếu niên và những người khác.
Các trung tâm làng nghề thủ công và nghệ thuật dân gian, các xưởng nghệ thuật và các thực thể khác xúc tiến định hướng chuyên môn từ đầu cũng rất phổ biến hiện nay. Loại hình đào tạo đó trong lĩnh vực nghệ thuật hỗ trợ các truyền thống gia đình, góp phần duy trì lâu dài nền văn hóa dân gian của Miền Bắc nước Nga (xem website http://remeslodo.ru/) được phát triển bởi trường học nghề thủ công dân gian cho trẻ em ở Archanger, hợp tác với trường đại học quốc gia Lomonosov Pomorsky. Các nghề thủ công được học là một dạng sở thích trong khi đào tạo được thực hiện thông qua gửi thư điện tử các tài liệu đào tạo, thông tin liên lạc tương tác và chia sẻ hình ảnh.
Các hoạt động giáo dục cho trẻ em và thanh thiếu niên cũng được thiết lập tốt ở các viện bảo tàng, nhiều hoạt động trong số đó chỉ ra các chương trình mục tiêu cho khán giả trẻ em và người lớn, thiết lập các trung tâm giáo dục, tổ chức các buổi triển lãm, sô diễn cho các gia đình và trẻ em, vv. Trung tâm “Museon” để phát triển thẩm mỹ cho trẻ em và thanh thiếu niên ở viện bảo tàng mỹ thuật quốc gia Pushkin (Matxicova) nổi tiếng về các chương trình giáo dục, cũng như viện bảo tàng quốc gia Nga ở St.Petersburg. Sau này có có trung tâm chuyên ngành, Phòng Sư phạm bảo tàng và phòng thể chất được thành lập năm 1989.
Các mục tiêu chính của giáo dục nghệ thuật cho trẻ em và thanh thiếu niên bị khuyết tật quen với các giá trị văn hóa, đạo đức và tinh thần, cũng như đảm bảo sự phát triển hài hòa của họ trong thế giới văn hóa và nghệ thuật. Nắm vững nghệ thuật hình thành nhiều kỹ năng dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao khả năng tự đánh giá của cá nhân, đạt được khả năng tự biểu hiện sáng tạo và kết nối cá nhân vào các cộng đồng.
6.4. Các hiệp hội văn hóa và nghệ thuật không chuyên và các sáng kiến dân sự
6.4.1. Văn hóa dân gian và nghệ thuật nghiệp dư
Bộ Văn hóa Liên bang Nga hỗ trợ các hình thức truyền thống của nghệ thuật và thủ công dân gian và nghệ thuật không chuyên để công nhận các quyền văn hóa cơ bản để tham gia và sáng tạo và bảo vệ không gian văn hóa chung của Nga. Ở cấp liên bang, hỗ trợ được dành cho các lễ hội, cuộc thi và triển lãm có liên quan để tăng số lượng nghệ sỹ không chuyên và trình diện trước công chúng rộng rãi hơn. Năm 2010-2012, Bộ  phân phổ tương ứng 34.4, 34.0 và 29.1 triệu Rub từ ngân sách của Bộ cho các sự kiện này. Bộ thành lập  Trung tâm sáng tạo dân gian quốc gia Nga ở Matxicova  và các trung tâm khu vực nhằm cung cấp hỗ trợ phương pháp cho các nghệ sỹ không chuyên, tổ chức các sự kiện có liên quan và đào tạo, bảo vệ các bộ sưu tập về các tác phẩm nghệ thuật không chuyên.
Tái thiết lập việc tiếp cận miễn phí đối với khả năng sáng tạo không chuyên (và thể thao) cho thế hệ trẻ được coi là nhiệm vụ quan trọng của các nhà chức trách địa phương và khu vực. Các cuộc thi được thực hiện ở các cấp này cho những người tham gia khả năng sáng tạo khuyến khích nghệ sỹ và nghệ thuật không chuyên. Các lễ hội dân gian đặc biệt, nhất là ở các khu vực, được tổ chức như những sự kiện phát triển văn hóa, xúc tiến bản sắc và đa dạng và xúc tiến đối thoại liên văn hóa.
Nghệ thuật không chuyên nằm trong số những hoạt động phổ biến nhất, thường diễn ra ở các nhà văn hóa. Tỷ lệ tham gia dao động trong các năm từ 6.7 triệu nghệ sỹ không chuyên năm 1985, lên 2.5 triệu năm 1997 và tăng lên 3.47 năm 2009  sau khi có sự giảm sút lớn xuống còn 1.2 triệu năm 1990. Các hoạt động không chuyên được tổ chức dành cho trẻ em và người lớn. Trong thời kỳ Liên Xô cụ, các hoạt động  này hoàn toàn miễn phí, còn hiện nay thu phí vì các hoạt đồng này đòi hỏi cần đào tạo và trang phục đẹp.
6.4.2. Nhà văn hóa, và các câu lạc bộ văn hóa cộng đồng
Các hoạt động văn hóa và nghệ thuật không chuyên tập trung ở các tổ chức  gọi là nhà văn hóa hoặc câu lạc bộ, mạng lưới của nó được thiết lập ở thời Xô Viết và bao quát toàn bộ đất nước. Các tổ chức đó thuộc quyền sở hữu của Bộ Văn hóa, các tổ chức công đoàn, và doanh nghiệp. Sau này cả hai giảm bớt mạnh mẽ việc tham gia của họ vào các vấn đề văn hóa và năm 2007, 98% các tổ chức này  nằm trong trách nhiệm của Bộ Văn hóa. Con số này vẫn tiếp tục giảm: có 54. 836 nhà văn hóa vào năm 2000 và 49. 542 vào năm 2007; Số lượng các nhà văn hóa mới được xây mới khá nhỏ (từ những nhà văn hóa có sức chứa về chỗ ngồi là 56. 300 được xây dựng vào năm 1990 đến các nhà văn hóa với sức chứa chỗ ngồi được xây dựng năm 2008; các thông số có liên quan ở các khu vực nông thôn là 45. 400 và 4. 800).
6.4.3. Các hiệp hội công dân, các nhóm ủng hộ, tổ chức phi chính phủ và các ban cố vấn
Các nhà chức trách hỗ trợ nghệ thuật không chuyên truyền thống, đặc biệt nghệ thuật và thủ công dân gian. Tuy nhiên, từ những năm 1990, nhiều hoạt động văn hóa không chuyên mới được mở rộng, ví dụ: nghệ thuật chiến đấu của Người Nga cổ xưa hoặc cướp biển và sản xuất các vũ khí có liên quan, các lễ kỷ niệm kỳ lạ (ví dụ lễ kỷ niệm ra Quân đội Nhật Bản và các nghi lễ khác. Những người có liên quan thiết lập (ví dụ lịch sử quân đội) và các hiệp hội không chính thống tiếp cận các tổ chức văn hóa (viện bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ) và Internet.
Thu Hiền lược dịch. Nguồn: Culturalpolicies.
 
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác