Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa

(Cinet) - Chính sách văn hóa Tây Ban Nha đã trải qua nhiều biến đổi từ năm 1977. Bộ Văn hóa trong thời kỳ dân chủ đã nỗ lực kết hợp với Chính phủ nhằm thúc đẩy văn hóa phù hợp với các quy tắc của chính quyền địa phương được quy định trong hiến pháp năm 1978. Năm 2012, chính sách văn hóa Tây Ban Nha đã có những thay đổi do xuất phát từ các xu hướng tái tập trung của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao mới.
Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa - ảnh 1
I.  Viễn cảnh lịch sử: Các chính sách và công cụ văn hóa
Sẽ không thể hiểu được sự phát triển của các chính sách văn hóa dân chủ ở Tây Ban Nha nếu không nhận thức được chế độ độc tài kéo dài trong giai đoạn từ giữa năm 1939 đến 1975. Chiến thắng của phe Quốc Gia trong cuộc Nội chiến từ năm 1936 đến năm 1939 đánh dấu sự khởi đầu của chế độ độc tài dưới quyền của Tướng Franco. Trong giai đoạn đầu, các học viện, tổ chức văn hóa đã bị thanh trừng, nhiều nghệ sỹ và nhà khoa học đã bị trục xuất ra nước ngoài. Luật Báo chí năm 1938 đã áp đặt quyền kiểm duyệt và kiểm soát độc quyền nhà nước về thông tin. Đảng chính trị duy nhất đã kiểm soát bộ máy báo chí và tuyên truyền có quyền lực. Văn hóa chính thức của chủ nghĩa Franco kết hợp với chủ nghĩa quốc gia sôi sục cùng với chế độ Công giáo cũng không kém phần nhiệt huyết. Sự ưa chuộng nghệ thuật thiên về các phong cách truyền thống. Lôi cuốn những người theo chủ nghĩa đế quốc của Tây Ban Nha và lý giải rất rõ về tình anh em của những người nói tiếng Tây Ban Nha.
Từ những năm 1960 trở đi, các chính sách giáo dục và báo chí cứng nhắc đã bắt đầu được nới lỏng. Luật Báo chí mới năm 1966 là nỗ lực khiêm tốn trong việc bãi bỏ quy định. Các điều khoản đã được lập về quỹ công dành cho các hoạt động văn hóa và hỗ trợ các dự án tiên phong có lựa chọn ví dụ như liên hoan phim San Sebastian, hay là việc Tây ban Nha tham gia liên hoan nghệ thuật quốc tế được tổ chức 2 năm 1 lần. Tuy nhiên, ngoài vấn đề này, những diễn biến về văn hóa, kinh tế đã tạo ra sự phân chia lớn giữa các nhu cầu của xã hội và những gì mà chế độ cần phải cung cấp. Khoảng cách lớn này bị xóa bỏ nhờ việc phục hồi truyền thống cải cách-tự do Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ 20, và cùng với cải cách này, mặc dù thường đối lập, song có một nền văn hóa mới với sự nhận thức có tính phê bình giữa việc mở rộng trường đại học và các quỹ đào tạo nghệ thuật.
Sau cái chết của tướng Franco vào năm 1975, Tây Ban Nha trở thành một đất nước hiện đại và phóng khoáng hơn so với thời ở chế độ chính trị cũ. Phát triển kinh tế, giáo dục, cùng với việc đạt được cân bằng giai cấp sau những năm 1960, giải thích cách tiếp cận phóng khoáng của người Tây Ban Nha nhằm khôi phục dân chủ và sau đó là trở thành thành viên của Cộng đồng châu Âu. Trong năm 1976–1977, các chính phủ quân chủ chuyên chế đầu tiên được phục hồi đã mở ra các cuộc cải cách mang tính quyết định đối với luật báo chí. Bộ Thông tin và Du lịch bị cấm, các tờ báo nhà nước bị đóng cửa hay bán hạ giá, và sự độc quyền của Radio Nacional về phát sóng radio chấm dứt. Hiến pháp năm 1978 và các chương về quyền tự trị khu vực được thiết lập dưới sự bảo hộ, khởi xướng giai đoạn tự do báo chí và sáng tác nghệ thuật, kết hợp với hoạt động nhà nước rộng rãi hơn trong việc phổ biến văn hóa và ghi nhận đầy đủ tính đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa của Tây Ban Nha.
Vào năm 1977, Bộ Văn hóa được thành lập, được giao trách nhiệm, trước đây được giao cho Bộ Giáo dục về di sản quốc gia và mỹ thuật. Bộ Văn hóa chịu trách nhiệm về các chính sách điện ảnh, biên kịch, âm nhạc và khiêu vũ, mãi sau này thì mới giao cho Bộ Thông tin và Du lịch. Bộ này ủng hộ các nguyên tắc trung lập của nhà nước về các vấn đề văn hóa và công nhận sự đa nguyên của xã hội dân sự. Thông qua triển lãm quốc tế, hội nghị, giải thưởng, thiết bị, nhiều di sản văn hóa bị cấm đoán dưới thời Franco đã được công khai, sản phẩm của các nghệ sỹ bị trục xuất và các trí thức đã được công nhận.   
Chế độ chính trị được đưa vào hiến pháp năm 1978 đã khích lệ rất lớn các hoạt động văn hóa của các cộng đồng tự trị và các hội đồng thành phố và khu vực. Phần lớn hoạt động văn hóa được hướng đến việc phục hồi và phát triển đặc thù khu vực, đặc biệt thông qua các sáng kiến luật nhằm bảo vệ các ngôn ngữ. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm phần lớn về chi tiêu quốc gia giành cho văn hóa.
Năm 1996, chính phủ mới được bầu thuộc phe bảo thủ-tự do của đảng Bình Dân đã sát nhập Bộ Văn hóa và Bộ Giáo dục thành Ban thư ký nhà nước về Văn hóa. Về lý thuyết, hai chiến lược khác nhau có thể hỗ trợ quyết định này: Một mặt, thành lập một ủy ban về các vấn đề văn hóa nhằm xúc tiến văn hóa như một lĩnh vực ưu tiên, mặt khác, thiết lập mối quan hệ gắn bó hơn giữa chính sách văn hóa và giáo dục. Trong nhiệm kỳ 2 (2000-2004), chính phủ bổ sung thể thao vào phạm vi trách nhiệm của Bộ. Mặc dù có những thay đổi đối với vai trò của Ban thư ký nhà nước về Văn hóa, nhưng cơ cấu tổ chức vẫn hầu như không thay đổi từ năm 1985.
Từ nửa sau những năm 1990, cách tiếp cận đối với chính sách văn hóa là đảm bảo tính trung lập văn hóa của nhà nước và công nhận sự đa dạng của nền văn hóa khu vực. Trong khi có thể có sự chú trọng hơn trong việc “chăm sóc di sản”, sáng tạo nghệ thuật không bị hệ lụy. Các đề cương mở rộng trong hành động của Bộ vẫn giữ nguyên: bảo vệ và phổ biến di sản lịch sử Tây Ban Nha; quản lý các viện bảo tàng quốc gia lớn, kho lưu trữ, thư viện và khuyến khích cũng như phổ biến điện ảnh, biên kịch, khiêu vũ và âm nhạc.
Cụ thể hơn, trong hai nhiệm kỳ của Đảng Nhân Dân (1996-2000 và 2000-2004), một kế hoạch đầu tư lớn đã hỗ trợ cải cách và nâng cấp các thính phòng, viện bảo tàng, kho lưu trữ, thư viện và tăng khả năng tiếp cận của công chúng tới nhà thờ lớn, tòa lâu đài, các tòa nhà tôn giáo, các thắng cảnh tự nhiên và kiến trúc công nghiệp.
Xu hướng bãi bỏ quy định chính quyền Đảng Nhân Dân Tây Ban Nha đã dẫn đầu nỗ lực lôi kéo sự tham gia của khối tư nhân vào các sáng kiến văn hóa lớn. Hiệu quả quản lý và tự chủ hoạt động là nhân tố chủ chốt trong việc tái tổ chức bảo tàng Prado, ban nhạc và hợp xướng quốc gia Tây Ban Nha (2003), và thiết lập các cơ quan như hai tập đoàn nhà nước về Hành động văn hóa Tây Nha Nha ở nước ngoài (SEACEX) và kỷ niệm văn hóa (SECC). Luật thuế mới được áp dụng để kích thích ngân sách tư vào các sáng kiến văn hóa.
Sau cuộc tuyển cử lại năm 2008, chính phủ cộng hòa tái cơ cấu các phòng ban của Bộ Văn hóa (Nghị định hoàng gia 1132/2008  về cơ cấu của Bộ Văn hóa), và coi các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những ưu tiên chính. Do vậy, một tổng cục mới về ngành công nghiệp văn hóa và chính sách được thành lập, thay thế Tổng Cục Hợp tác và Thông tin văn hóa. Khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ cuối năm 2007 về lĩnh vực tài chính đã tác động lên văn hóa, kết quả là phải tái cơ cấu tổ chức Bộ Văn hóa và cắt giảm ngân sách được coi là biện pháp then chốt để giảm thâm hụt ngân sách công. Tháng 11 năm 2011, các cuộc tuyển cử đã đưa đảng Nhân dân lãnh đạo chính phủ và thống nhất văn hóa trong một Bộ mới là Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao cùng với Ban thư ký nhà nước về Văn hóa.
Năm 2012, chính sách văn hóa Tây Ban Nha đã có những thay đổi do xuất phát từ các xu hướng tái tập trung của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao mới (Nghị định Hoàng gia 257/2012 về Cơ cấu của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao ).
Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa - ảnh 2
II.  Mục tiêu và nguyên tắc chung của chính sách văn hoá
1. Các đặc điểm chính của mô hình chính sách văn hóa hiện tại
Chính sách văn hóa Tây Ban Nha đã trải qua những biến đổi sâu sắc và mau lẹ từ năm 1977. Bộ Văn hóa trong thời kỳ dân chủ đã nỗ lực kết hợp với Chính phủ nhằm thúc đẩy văn hóa với sự phân cấp lớn của các công cụ quản lý hành chính, phù hợp với các quy tắc của chính quyền địa phương được quy định trong hiến pháp năm 1978. Mô hình này cũng ủng hộ việc tăng cường sự tham gia của các công ty tư nhân và xã hội dân sự trong công tác vận hành nền văn hóa của đất nước. Tuy nhiên, mô hình này đã trải qua nhiều biến đổi sâu sắc vào năm ngoái do hậu quả của khủng hoảng kinh tế và cũng xuất phát từ các xu hướng tái tập trung trong Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao mới.
Về mặt quyền lực, việc phân cấp chính sách văn hóa Tây Ban Nha hoạt động dựa trên sự cạnh tranh giữa các cấp chính quyền khác nhau. Do đó, chính quyền trung ương nắm giữ trách nhiệm độc quyền về bảo vệ tài sản văn hóa không cho xuất khẩu, thiết lập luật bảo vệ bản quyền, và giám sát các nguyên tắc cơ bản về quyền tự do ngôn luận, sáng tác và truyền thông, và quy định phương thức truyền thông (truyền thanh, truyền hình và báo chí) chỉ trong phạm vi mà quyền tự do đó bị đe dọa. Đồng thời, duy trì quyền sở hữu của các viện văn hóa lớn ,  ví dụ như các bảo tàng, kho lữu trữ và thư viện.
Các khu vực này đứng đầu trong công tác phân cấp triệt để chính sách văn hóa, trong đó có thể xác định 3 giai đoạn:
  • Giai đoạn đầu tiên kéo dài đến tận năm 1988, trong đó, cơ cấu quản lý hành chính và các kế hoạch đã sắp xếp.
  • Giai đoạn 2, bị chi phối bởi một thứ gì đó giống như “cơn sốt 1992” , như là kết quả trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động kỷ niệm của năm đó, khi mà chi tiêu giành cho văn hóa ở nhiều khu vực tăng lên ở tất cả tỷ lệ và
  • Giai đoạn 3, chính sách sáng suốt hơn nhiều và hạn chế về chi tiêu.
Mức độ phân cấp cao nhất có thể thấy trong giai đoạn giữa những năm 1990. Từ đó, các thành phố giữ phần lớn trách nhiệm khuyến khích và phổ biến văn hóa, được minh chứng bởi hai thủ đô văn hóa Châu Âu, Santiago de Compostela năm 2000, và Salamanca,năm 2002.
Nghĩa vụ theo luật định mà chính quyền thành phố phụ thuộc là việc cung cấp các thư viện ở nơi mà có số lượng dân cư hơn 5000 người. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tham gia của chính quyền địa phương vào các hoạt động văn hóa hiện nay chiếm hơn 50% toàn bộ chi tiêu từ quỹ công ở tất cả các cấp về văn hóa. Có sự khác biệt ở những thành phố lớn hơn (Madrid, Barcelona, Valencia, Valladolid, Bilbao, Seville, Oviedo, Salamanca, La Coruña, Santiago de Compostela), có khả năng tài trợ cho các hoạt động và dự án lớn, và các thị trấn nhỏ hơn hoặc có quy mô trung bình, phải cung cấp những hạ tầng cơ sở (các thư viện) và hỗ trợ các lễ hội thánh và các sự kiện địa phương nghiêm túc khác.
Trong vài năm gần đây, công tác cung cấp dành cho các hoạt động văn hóa đã trở nên chuyên nghiệp hơn, có nhiều nỗ lực đã được thực hiện để hỗ trợ nền văn hóa linh hoạt hơn, lấy từ các nguồn lực của cả 3 cấp chính quyền. Ở cấp chính trị, các nhiệm kỳ của Đảng Nhân Dân đang cầm quyền mong muốn bảo đảm lôi kéo sự tham gia nhiều hơn của doanh nghiệp tư nhân và xã hội dân sự vào việc tổ chức các sự kiện văn hóa. Về quyền lực, các nhiệm kỳ đầu tiền của Đảng Nhân dân (1996-2004) đã  nghi ngờ về mô hình hiện nay và quyết tâm tham gia quần chúng hơn vào hình thái sản xuất tập thể. Đây là bối cảnh dẫn đến những thay đổi pháp lý được ra đời trong giai đoạn đó nhằm mục đích giành được các quỹ của tư nhân dành cho các hoạt động văn hóa nhất định.
Nhiệm kỳ mới, khởi xướng từ cuối năm 2011, cũng đã quyết tâm thực hiện những thay đổi khác trong công tác định hướng các chính sách văn hóa. Một phần là được thúc đẩy bởi cuộc khủng hoảng kinh tế mạnh mẽ, chính sách của Bộ đã dẫn đến nghi vấn không chỉ ở chi tiêu từ quỹ công giành cho văn hóa mà còn nghi ngờ mô hình tổ chức bị phân cấp.
Theo truyền thống, chính sách phân cấp của Tây Ban Nha ủng hộ áp dụng các mô hình khác nhau về quản lý văn hóa, hỗ trợ và xúc tiến sáng tạo nghệ thuật. Một ví dụ quan trọng là việc thành lập cộng đồng Catalan của Hội đồng Nhà nước về văn hóa và nghệ thuật. Cơ quan độc lập, công cụ đầu tiên trong hình thái nhà nước của Tây Ban Nha, được phê duyệt thông qua Luật 6/2008 với các mục tiêu chính là đảm bảo sự phát triển của hoạt động văn hóa và hợp tác trong việc soạn thảo chính sách văn hóa, chính sách hỗ trợ và khuyến khích sáng tạo văn hóa và nghệ thuật. Tuy nhiên, chính phủ mới, ra đời từ các cuộc bầu cử tháng 11 năm 2010, đã thực hiện một số thay đổi trong cơ cấu, thành phần và quyền lực của Hội đồng. Những thay đổi này là một phần của động thái tổng thể hơn đối với việc tái cơ cấu lĩnh vực nhà nước, đã cố gắng sắp xếp hợp lý hóa công văn và các quy trình thủ tục hành chính, tạo ra sự nhanh nhẹn hơn đối với công tác quản lý hành chính và giảm chi phí. Trong trường hợp cụ thể của Hội đồng, luật đã định nghĩa cơ cấu mới và cấu trúc của tổ chức nhằm tìm cách củng cố vai trò giám sát và đánh giá các chính sách văn hóa công. Trong khi chờ sửa đổi các điều luật, những thay đổi này đã bị phản đối bởi đại bộ phận cơ quan văn hóa trong nước, họ coi đây là mối đe dọa sẽ mất quyền điều hành của Hội đồng.
Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa - ảnh 3
2. Định nghĩa văn hóa quốc gia
Trong bài phát biểu đầu tiên, tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao đã quy “văn hóa” là: “Văn hóa có tính chất giao nhau. Bao gồm các ngành sáng tạo và văn hóa, du lịch văn hóa, hành động văn hóa ở nước ngoài, sáng tạo và đổi mới, văn hóa việc làm. (Bài phát biểu ngày 8 tháng 3 năm 2012).”
Xét từ quan điểm kỹ thuật, khi tập hợp thông tin thống kê ở các lĩnh vực khác nhau của hoạt động văn hóa, Bộ cho biết, “Tiêu chuẩn châu Âu công nhận được sử dụng làm hướng dẫn về các lĩnh vực văn hóa và gồm các lĩnh vực nhỏ hơn cũng như phương thức để xác định năng lực hoạt động  bao gồm: thư viện công, kho lưu trữ công, tài sản văn hóa kiến trúc, nghệ thuật, xuất bản sách báo, nghệ thuật âm nhạc, biểu diễn và thị giác, nghệ thuật nghe nhìn và âm nhạc cổ điển".
3. Các mục tiêu chính sách văn hóa
Các mục tiêu chính của chính sách văn hóa Tây Ban Nha là bảo vệ và xúc tiến di sản văn hóa, và thứ hai là sáng tạo văn hóa cũng được hiểu là phát triển di sản văn hóa.
Nếu chúng ta phân tích những chính sách văn hóa gần đây về các nguyên tắc chính sách văn hóa được định nghĩa bởi Hội đồng châu Âu, chúng ta có thể thấy rằng thúc đẩy bản sắc dân tộc, phương tiện chủ yếu để kết nối chính sách văn hóa trong các vùng, đặc biệt là những vùng có môi trường ngôn ngữ tách riêng, đã trở nên trầm trọng hơn trong năm 2012, đặc biệt ở Catalonia, trong cuộc công kích tập trung của chính quyền bảo thủ. Do đó, việc xúc tiến bản sắc Tây Ban Nha “được chia sẻ”, ám chỉ một số khía cạnh chính sách văn hóa và giáo dục, đặc biệt về việc phổ biến chính sách văn hóa Tây Ban Nha ở nước ngoài, đã mang đến nhiệt tình trong công tác bảo vệ bản sắc của Tây Ban Nha trong năm ngoái.
Hỗ trợ sáng tạo văn hóa có truyền thống được kết nối làm mục tiêu của chính sách văn hóa theo 3 trục chính: Bảo vệ luật sở hữu trí tuệ và bản quyền; giảng dạy nghệ thuật sáng tạo; và các biện pháp cụ thể để khuyến khích công việc của bản thân các nghệ sỹ sáng tạo.
Tiếp cận văn hóa là một trong những mục tiêu của chính sách văn hóa gần đây của Tây Ban Nha. Do vậy, nó là động cơ chính lôi kéo sự tham gia của công chúng vào các vấn đề văn hóa.
III. Thẩm quyền, ra ​​quyết định và quản lý
1. Mô tả chung hệ thống
Hiến pháp năm 1978 thành lập một bộ phận quản lý hành chính theo địa bàn mới ở Tây Ban Nha, gồm 3 cấp quản lý hành chính: Chính quyền trung ương, các cộng đồng tự trị hay khu vực và các hội đồng  thành phố. 
Theo các lĩnh vực có thẩm quyền quy định trong Hiến pháp, cả 3 cấp đều có trách nhiệm chung về văn hóa. Nó cũng tách riêng các trách nhiệm từ cấp chính quyền trung ương đến trách nhiệm của chính quyền khu vực.
Cả hai bộ máy hành chính quốc gia và khu vực đều có cấu trúc gọn nhẹ. Sau cuộc bầu cử năm 2011, chính quyền trung ương nhận thấy cần phải cải cách cơ cấu của Bộ Văn hóa (1887/2011 thiết lập cơ cấu cơ bản phối hợp các phòng ban của bộ) để có thể đạt được hiệu quả và giảm chi phí tối đa. Do đó, hiện nay, Ban thư ký nhà nước về Văn hóa của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao hiện nay là cơ quan chịu trách nhiệm về các chính sách văn hóa của bộ máy quản lý hành chính trung ương. Đơn vị này được chia nhỏ thành hai tổng cục:
  • Tổng cục Mỹ thuật, Tài sản văn hóa và Lưu trữ
  • Tổng cục các ngành văn hóa và chính sách về Sách.
Ở cấp khu vực, Tây Ban Nha được chia thành mười bảy cộng đồng tự trị (và 2 thành phố có vai trò tự trị), có quyền hạn lớn về các vấn đề văn hóa. Đặc biệt, Hiến pháp cũng quy định quyền quản lý và kiểm soát mang tính quy phạm đối với các lĩnh vực mà quy định nhà nước có liên quan đến những gì thuộc về truyền thống: viện bảo tàng, thư viện, nghệ thuật biểu diễn, thủ công, vv. Các viện bảo tàng, kho lưu trữ, thư viện quốc gia đều thuộc kiểm soát nhà nước mặc dù ở hầu hết các trường hợp, trách nhiệm vận hành những lĩnh vực này được giao cho các khu vực. Việc lôi kéo sự tham gia của các chính quyền khu vực vào các vấn đề văn hóa có truyền thống thường lớn hơn các cộng đồng có ngôn ngữ và hóa riêng, đặc biệt cái gọi là “các dân tộc lịch sử”, ví dụ, những cộng đồng mà giành quyền tự chủ quản lý hành chính đầu tiên: Catalonia, Galicia và xứ Basque. Hiện nay, chỉ có Catalonia giao quyền quản lý hành chính các vấn đề văn hóa cho một Phòng ban riêng, trong khi các chính quyền khu vực khác thì vẫn giao cho các cơ quan hỗn hợp trong đó văn hóa được quản lý kết hợp với giáo dục, du lịch và thể thao.
Ở cấp thành phố, Luật chế độ địa phương năm 1985 đã trao quyền quản lý hành chính cho thành phố và các hội đồng thị trấn về di sản địa phương, các hoạt động văn hóa, và “các hoạt động giải trí”. Luật quy định các trung tâm có dân số hơn 5000 người đều bắt buộc phải có các dịch vụ thư viện và nó cho phép các thành phố này phát triển “các hoạt động bổ sung” cho các dịch vụ đó do các cơ quan chính phủ khác cung cấp và đặc biệt các hoạt động liên quan đến văn hóa.
2. Hợp tác liên bộ hoặc liên chính quyền
Ban Điều hành của chính phủ về chính sách văn hóa đã được thành lập tháng 11 năm 2011. Cơ quan này chịu trách nhiệm giám sát hợp tác liên bộ, đặc biệt, cùng với các Bộ Công Nghiệp, Năng lượng và Du lịch, Bộ Ngoại giao và Kinh tế.
Các sáng kiến hợp tác liên bộ truyền thống bao gồm các chương trình như “1% dành cho văn hóa”, được kết nối bởi một Ban liên bộ bao gồm Ban thư ký nhà nước về Văn hóa, Bộ Phát triển và Ban thư ký nhà nước về môi trường, chịu trách nhiệm phối hợp hành động xúc tiến bảo vệ và làm phong phú hơn cho di sản lịch sử Tây Ban Nha.
Theo các điều khoản của Kế hoạch quốc gia về bảo vệ di sản khảo cổ dưới nước, tháng 7 năm 2009, Bộ Quốc phòng và Bộ Văn hóa đã thảo một nghị định thư chung để phối hợp và hợp tác trong công tác bảo vệ di sản khảo cổ dưới nước.
Tháng 9 năm 2009, chính phủ đã thành lập Ủy Ban chung về việc kết nối gần 900 thư viện nhà nước. Các chức năng của Ủy ban bao gồm xây dựng 1 ban trong từng bộ, cũng như thiết lập một điểm truy vấn cho toàn bộ sưu tập thư viện.
Tháng 7 năm 2011, Bộ Văn hóa và Bộ Y tế, Bình đẳng và Chính sách Xã hội trình bày văn bản Chiến lược toàn diện về văn hóa, tìm cách cung cấp khả năng tiếp cận toàn diện tới các không gian, hoạt động và dịch vụ văn hóa do Cục Văn hóa và Di sản Quốc gia quản lý; nhằm khuyến khích những người khuyết tật sáng tạo nghệ thuật, cũng như hoạt động của họ trong vai trò các nhà điều hành văn hóa trực tiếp, và thúc đẩy nghiên cứu các công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nội dung và các không gian văn hóa.
Tháng 11 năm 2011, một cơ quan liên bộ (bao gồm diễn đàn văn hóa), được thành lập để theo dõi sáng kiến này, bao gồm cả các Bộ, cùng với Di sản Quốc gia, tổ chức lớn nhất đại diện cho những người khuyết tật, các trung tâm nhà nước, tư nhân và nhiều chuyên gia.
Tháng 12 năm 2011, để chống lại các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, một ban liên ngành về sở hữu trí tuệ được thành lập, trong đó những thành viên của cơ quan này được đề xuất bởi Tiểu ban Hành chính của các bộ Tư Pháp, Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, và Kinh tế và Cạnh tranh. Là một phần của chiến lược hợp tác văn hóa và thông tin chung giữa các viện và cơ quan, Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, cùng với Bộ Công nghiệp, Năng lượng và Du lịch, cũng tìm cách xúc tiến du lịch văn hóa trong nước.
Ngoài ra, cuối năm 2011, Ban lữu trữ của Tổng cục quản lý hành chính nhà nước được thành lập với mục đích kết nối chính sách lưu trữ của các bộ và các cơ quan nhà nước phụ thuộc vào cơ quan chính phủ. Về hợp tác liên chính phủ, hiến pháp nhà nước được quy định bắt buộc phải tổ chức thông tin văn hóa giữa các khu vực khác nhau “để phối hợp với họ”. Để làm được điều này, chính quyền trung ương thiết lập một bộ phận riêng (Tiểu – Tổng cục Thông tin với các cộng đồng tự trị, ngày nay được gọi Tiểu – Tổng cục hợp tác văn hóa với các cộng đồng tự trị) dưới sự bảo hộ của Tổng cục Các ngành Công nghiệp Văn hóa và Chính sách về Sách của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao. Nhiệm vụ của cơ quan này là hợp tác với các khu vực trong các chương trình văn hóa; để thúc đẩy thông tin liên vùng trong khu vực; phổ biến sự dồi dào và đa dạng của di sản văn hóa các khu vực; và trao đổi thông tin về các chính sách văn hóa. Cơ quan này cũng chịu trách nhiệm đảm bảo rằng sự đa dạng văn hóa của các khu vực của Tây Ban Nha hoàn toàn được đánh giá cao ở nước ngoài.
Phục hồi và bảo vệ di sản quốc gia là hành động được kết hợp bởi tất cả các cấp của chính quyền được chứng minh có hiệu quả nhất. Tây Ban Nha là quốc gia thứ hai trên thế giới có số lượng di tích lớn nhất được phân loại là “các di sản thế giới” bởi UNESCO. Từ đầu những năm 1990, đã có sự gia tăng mau lẹ các thỏa thuận hợp tác ở các cấp chính quyền chủ yếu là sự phát triển đô thị lớn kết hợp với việc xây dựng các tượng đài văn hóa có thanh thế.
Đối với các mối quan hệ giữa các khu vực, mức độ trao đổi thông tin và trao đổi kỹ thuật rất thấp, các cộng đồng lịch sử là trường hợp ngoại lệ. Hợp tác giữa xứ Catalonia và xứ Basque đã được hiện thực hóa trong những năm qua ở nhiều dự án và việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm về các chính sách văn hóa. Cuối năm 2007, các Ban văn hóa của các cộng đồng này và Galicia đồng ý thành lập một chương trình liên kết và hợp tác thường xuyên trong các lĩnh vực dưới đây: di sản văn hóa, nghệ thuật, các ngành công nghiệp văn hóa và văn hóa đại chúng. Tháng 5 năm 2010, các cộng đồng tự trị của Castile-Leon, Galicia, La Rioja, Navarra và Aragon đã ký một thỏa thuận nhằm phối hợp các hoạt động có liên quan đến trùng tu, bảo vệ, và hợp tác văn hóa và di sản, an toàn và bảo vệ những người hành hương ở 5 khu vực này có tuyến hành hương St.James’s Way đi qua. Tương tự như vậy, có rất ít tiến triển đã được thực hiện trong công tác phối hợp liên vùng và vùng-quốc gia của dự án văn hóa Tây Ban Nha trên bình diện quốc tế. Mãi gần đây, một trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là Viện Ramon Llull Institute, một cơ quan được thành lập bởi các chính quyền Catalan và Balearic, có sự hợp tác của Bộ Hợp tác và Ngoại giao, để xúc tiến ngôn ngữ Catalan và văn hóa ở nước ngoài.
Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa - ảnh 4
3. Hợp tác văn hóa quốc tế
3.1. Tổng quan cơ cấu và xu hướng chính
Tây Ban Nha tham gia hợp tác song phương về lĩnh vực trao đổi văn hóa với nhiều nước và ngày càng có nhiều thỏa thuận mới được thiết kế để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các bên ký kết. Tây Ban Nha đã ký các thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và khoa học với nhiều nước và để theo dõi tiến triển, nước này thường xuyên tổ chức các ban hỗn hợp trong đó các chương trình điều hành tương ứng được xác định. Ở Tây Ban Nha, quy hoạch và điều phối các thỏa thuận và chương trình này thuộc trách nhiệm của Bộ Hợp tác và Ngoại giao. Ban thư ký nhà nước về Văn hóa chịu trách nhiệm về nội dung văn hóa, quản lý và theo dõi. Các công cụ pháp lý được lập ra bởi các ủy ban hỗn hợp này là các chương trình điều hành hợp tác văn hóa, thường có hiệu lực trong 2 hoặc 3 năm, mặc dù vậy, có trường hợp chỉ có hiệu lực 1 năm. Những chương trình này xác định bản chất, nội dung, lịch trình hành động và trao đổi thuộc các phạm vi năng lực của Ban thư ký nhà nước về Văn hóa.
3.2. Các đơn vị nhà nước tham gia thực hiện ngoại giao văn hóa
Tổng cục Ngành công nghiệp văn hóa và chính sách về Sách, thông qua Tiểu cục Xúc tiến Văn hóa ở nước ngoài, chịu trách nhiệm xúc tiến ngôn ngữ và văn hóa Tây Ban Nha ra nước ngoài, như là một công cụ quốc tế hóa các ngành văn hóa Tây Ban Nha, và cũng chịu trách nhiệm phổ biến ngôn ngữ và văn hóa Tây Ban Nha qua các hệ thống trường học trong nước.
Các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác và tham gia vào các diễn đàn quốc tế và các cơ quan thường trực để bảo vệ và đánh giá cao di sản văn hóa được thực hiện bởi Tổng cục Mỹ thuật và Tài sản văn hóa và lưu trữ và thư viện. Những hoạt động này được tạo điều kiện trực tiếp hoặc phụ thuộc vào sự kiện, gián tiếp thông qua Viện bảo tàng Prado hoặc Trung tâm Nghệ thuật và Viện bảo tàng Reina Sofía .
Về ngành sách, Tiểu cục về Sách, Đọc và Xúc tiến Văn học nâng cao nhận thức quốc tế cho các nhà văn Tây Ban Nha bằng việc khuyến khích biên dịch các tác phẩm nhất định, mô phỏng số hóa các tài liệu do nhà nước đang cất giữ ở các kho lưu trữ nhà nước hoặc tham gia vào các cuộc triển lãm và hội chợ quốc tế.
Viện Nghệ thuật Nghe nhìn và Kỹ thuật điện ảnh quan tâm tới việc khuyến khích ngành điện ảnh Tây Ban Nha ở nước ngoài. Ngoài việc tham gia đồng sản xuất phim, Viện còn tham gia một số chương tình quốc tế/Châu Âu. Viện Nghệ thuật Biểu diễn và Âm nhạc Quốc gia, thông qua hệ thống các khoản viện trợ và viện trợ không hoàn lại, xúc tiến ngành công nghiệp văn hóa quốc gia ở nước ngoài, cũng như việc phổ biến nghệ thuật biểu diễn và sáng tác âm nhạc quốc gia.
Ngoài ra, Bộ Hợp tác và Ngoại giao chịu trách nhiệm về các hoạt động văn hóa nước ngoài thông qua Tổng cục Quan hệ Văn hóa và Khoa học, một phần của Cơ quan Hợp tác và Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID – xem chương 3.4.6). Cơ quan này thực hiện trao đổi văn hóa và khoa học, bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại và học bổng cũng như công tác kinh doanh quốc tế của Tây Ban Nha về lĩnh vực này. Nó hoạt động thông qua các Đại sứ quán và lãnh sự quán Tây Ban Nha tại nước ngoài. Viện Cervantes, cơ quan tự quản được thành lập năm 1991, dưới quyền kiểm soát của Bộ Hợp tác và Ngoại giao, được giao nhiệm vụ xúc tiến ngôn ngữ và văn hóa Tây Ban Nha ở nước ngoài, trong đó có 77 trung tâm giảng dạy ở những nước không nói tiếng Tây Ban Nha.
Kế hoạch hành động văn hóa quốc gia ở nước ngoài được khởi xướng trong tháng 4 năm 2011, kế hoạch này hợp lí hóa cơ cấu thể chế các hoạt động văn hóa của Tây Ban Nha ở nước ngoài, được phát triển bởi các Bộ cùng với Viện văn hóa Cervantes và Hành động Văn hóa Tây Ban Nha. Các mục tiêu cơ bản của kế hoạch là củng cố thương hiệu “Tây Ban Nha” thông qua quốc tế hóa nền văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa; đẩy mạnh công tác phổ biến các ngành công nghiệp văn hóa; tăng cường phổ biến ngôn ngữ Tây Ban Nha và các ngôn ngữ đồng chính thống; xuất hiện một cách có hệ thống ở hầu hết các sự kiện quan trọng; xúc tiến du lịch văn hóa như là một nhân tố chính của hợp tác phát triển; và xúc tiến du lịch văn hóa. Ngoài đề án này, sự phối hợp liên bộ, cùng với Viện Cervantes, cũng nằm trong chương trình nghệ thuật và văn hóa Tây Ban Nha, nhằm mục đích phổ biến và xúc tiến nghệ thuật và văn hóa Tây Ban Nha ở Mỹ và mở ra không gian đối thoại và hợp tác giữa các nhà lãnh đạo Mỹ và Tây Ban Nha. Các hoạt động văn hóa ở nước ngoài cũng phụ thuộc vào các tổ chức và các viện dưới đây:
  • Hành động văn hóa Tây Ban Nha, được thành lập năm 2010, để xúc tiến và phổ biến hiện thực nền văn hóa Tây Ban Nha trong và ngoài nước, kết nối các dự án của các khu vực khác nhau, các viện văn hóa trên khắp cả nước và hỗ trợ các dự án có sự tham gia của các nghệ sỹ, nhà khoa học, các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo ở nước ngoài. Hội này là kết quả của việc sát nhập ba cơ quan nhà nước: Tập đoàn Triển lãm Quốc tế nhà nước, Hội kỷ niệm Văn hóa nhà nước và Tập đoàn Hành động Văn hóa Tây Ban Nha ở nước ngoài;
  • Quỹ tài trợ Carolina, được thành lập năm 2000, để xúc tiến các mối quan hệ văn hóa (các khoản viện trợ không hoàn lại, nghiên cứu, các chương trình khách tham quan), đặc biệt là với cộng đồng các dân tộc Iberoamerican;
  •  Trung tâm văn hóa ở Madrid, được thành lập năm 1992 bởi Bộ Ngoại giao, chính quyền tự trị của Madrid và Hội đồng thành phố Madrid, đẩy mạnh trao đổi và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các thành phố Châu Mỹ La Tinh và Tây Ban Nha (khuyến khích thảo luận và nghiên cứu các lĩnh vực chính trị, kinh tế, công nghệ, khoa học, xã hội, ý thức hệ, nghệ thuật và văn hóa);
  • Quỹ nghiên cứu Châu Âu – A Rập ở Granada, được thành lập năm 1995, để tạo không gian đối thoại và hợp tác giữa các nước thuộc Liên minh Châu Âu và những nước thuộc liên minh các nước Ả Rập.
  • Viện Châu Âu khu vực Địa Trung Hải, được thành lập năm 1989 bởi chính quyền Catalonia, Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha và Hội đồng thành phố Barcelona, góp phần xúc tiến các viện Tây Ban Nha và Catalan ở khu vực Địa Trung Hải và khuyến khích và tham gia vào các dự án hợp tác phát triển;
  • Trung tâm văn hóa ở Barcelona (châu Á), được thành lập từ năm 2001 bởi Bộ Ngoại giao, chính quyền tự trị của Catalonia và Hội đồng thành phố Barcelona, được thành lập với mục tiêu ưu tiên và thực hiện các dự án và các hoạt động góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy các mối quan hệ giữa Tây Ban Nha và các quốc gia châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt ở các phạm vi văn hóa, học thuật, kinh tế, và thể chế. Vào giữa năm 2007, và sau khi thống nhất Barcelona, Casa châu Á đã mở một trụ sở mới ở Mardrid;
  • Trung tâm văn hóa  ở Las Palmas, Đảo Islands (Châu Phi) được thành lập năm 2006, lập diễn đàn nhằm đẩy mạnh sự hiểu biết lẫn nhau và tăng cường các mối liên kết giữa các tổ chức dân sự tương ứng. Nhằm mục đích trở thành trung tâm tham chiếu ở Châu Âu và Châu Phi để tổ chức các cuộc tranh luận kinh doanh và văn hóa, hội thảo, gặp gỡ và trao đổi dưới mọi hình thức;
  • Viện Ả Rập Quốc tế và nghiên cứu đạo hồi quốc tế  có các trung tâm ở Madrid và Cordoba, được thành lập năm 2006 bởi Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha, và Viện Quốc tế Ả Rập và các nghiên cứu quốc tế các vấn đề hồi giáo, Cơ quan quốc tế và hợp tác phát triển, chính quyền tự trị của Madrid và Andalusia và hội đồng thành phố của Madrid và Cordoba. Nó được thành lập với mục tiêu trở thành một công cụ chủ động trong việc tăng cường và củng cố các mối quan hệ nhiều mặt với Ả-Rập và các nước đạo Hồi và được củng cố làm hạt nhân cho việc nghiên cứu và hiểu biết lịch sử và hiện thực đương thời của các nước này;
  • Trung tâm văn hóa  ở Sefarad-Israel, được thành lập năm 2006 bởi Bộ Ngoại giao và Hợp tác, Cơ quan Hợp tác và phát triển quốc tế Tây Ban Nha, cộng đồng tự trị Madrid và thị sảnh Madrid. Các mục tiêu của nó là nhằm nghiên cứu di sản văn hóa Sephardic như là một phần của văn hóa Tây Ban Nha, thúc đẩy nhận thức cao hơn về văn hóa Do Thái và xúc tiến phát triển các mối liên kết giữa các tổ chức Tây Ban Nha và Israeli; và
  • Trung tâm văn hóa  ở Địa Trung Hải, được thành lập năm 2009, là một tổ chức nhà nước giữa Bộ Ngoại giao và Hợp tác và Cơ quan Hợp tác và Phát triển quốc tế Tây Ban Nha, hợp tác với chính quyền và các khu đô thị tự trị của Alicante, Benidorm và Javea. Nó được thành lập với mục tiêu trở thành một trung tâm thảo luận và phổ biến nghệ thuật của vùng Địa Trung Hải.
Ở cấp khu vực, các hoạt động văn hóa được triển khai ở nước ngoài bởi các chính quyền tự trị đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Cộng đồng Valencian là một trong những chính quyền chủ động nhất trong công tác xúc tiến nghệ thuật. Andalusia nhấn mạnh hợp tác văn hóa với vùng lần cận phía Nam, Morocco. Năm 1992, chính quyền Catalonia thành lập Hiệp hội Phát triển Văn hóa Đối ngoại, ngày nay là một phần của Viện các công ty văn hóa, khuyến khích sự tham gia của Catalia vào các thị trường nước ngoài.
Về lĩnh vực giáo dục và đào tạo văn hóa, Ban thư ký nhà nước về Văn hóa, thông qua Tổng cục các ngành Văn hóa và Chính sách về Sách, đã ký các thỏa thuận với các tổ chức quốc tế để xúc tiến văn hóa Tây Ban Nha ở nước ngoài. Một ví dụ về hình thức thỏa thuận này là những hoạt động được thực hiện với các trường đại học nước ngoài để xúc tiến tác phẩm của Tây Ban Nha ở nhiều nước.  
Ban thư ký nhà nước về Văn hóa, thông qua Tiểu cục Xúc tiến văn hóa ở nước ngoài, cũng quản lý nhiều chương trình đào tạo các chuyên gia văn hóa từ Iberoamerica, bao gồm thông qua các viện trợ hợp tác văn hóa hoặc thông qua học bổng ENDESA về di sản văn hóa Iberoamerica. Ngoài ra, Ban thư ký nhà nước về Văn hóa cũng cung cấp “Học bổng CULTUREX” cho đào tạo và chuyên ngành quản lý văn hóa ở các tổ chức văn hóa ở nước ngoài, cũng như “Học bổng FormArte” để đào tạo và chuyên sâu về các hoạt động và chủ đề trong phạm vi năng lực của các tổ chức văn hóa thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao và trường cao đẳng Tây Ban Nha ở Pari .
Từ góc độ ngân sách, chính sách văn hóa dành cho hợp tác văn hóa ở nước ngoài được thực hiện thông qua chương trình có tên gọi Hợp tác, Xúc tiến và Phổ biến Văn hóa ở nước ngoài, hiện nay được điều hành bởi Bộ Hợp tác và Ngoại giao và Bộ Giáo dục và Thể thao. Năm 2012, các bộ này đã phân bổ hơn 132.93 triệu EUR, chủ yếu thông qua các hoạt động của Viện Cervantes.  ¾ tổng số tiền này xuất phát từ Bộ Hợp tác và Ngoại giao.
Sự phát triển của các nguồn tài nguyên có sẵn trong giai đoạn 2005-2012 phản ánh tầm quan trọng của công tác xúc tiến văn hóa ở nước ngoài: Những nguồn tài nguyên này tăng 35% trong 7 năm qua, so với tổng tăng của ngân sách nhà nước là 29%. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khủng hoảng kinh tế và thay đổi chính quyền cũng ảnh hưởng đến chương trình chi tiêu này, làm giảm 10% so năm trước.
Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa - ảnh 5
3.3. Chương trình và đơn vị nhà nước tham gia hoạt động quốc tế
Các hoạt động văn hóa có liên quan đến các tổ chức quốc tế bao gồm từ việc tham gia các cuộc họp quốc tế được triệu tập bởi các tổ chức mà Tây Ban Nha là nước thành viên, đến công tác đánh giá và theo dõi nhiều thỏa thuận, chương trình, và hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế .
Trường hợp của Liên minh Châu Âu, trong đó Tây Ban Nha là một thành viên từ năm 1986, Tiểu cơ Ban Thư kí về Giáo dục, Văn hóa và Thể thao hiện nay đã thực hiện các nhiệm vụ sau thông qua Tiểu cục Hợp tác Quốc tế: Phối hợp và theo dõi các hành động của Bộ có liên quan đến Liên Minh Châu Âu và các cơ quan khác, các cơ quan có thẩm quyền quốc tế về văn hóa, và đặc biệt hỗ trợ Bộ trưởng trong công tác chuẩn bị cho các cuộc họp của Hội đồng Liên minh Châu Âu; phối hợp, và khi thích hợp thì quản lý các hiệp ước, hiệp định và các chương trình hợp tác quốc tế, song phương hoặc đa phương, trong những trường hợp đó ảnh hưởng đến Bộ; và tư vấn việc tham gia của Tây Ban Nha vào các tổ chức quốc tế.
Trong nửa đầu năm 2010, Tây Ban Nha đảm nhận chức vụ chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên minh Châu Âu lần thứ 4. Các tuyến hành động của chương trình văn hóa của Chủ tịch Tây ban Nha chủ yếu tập trung vào 3 ưu tiên: Đẩy mạnh tiềm năng văn hóa với việc tập trung phát triển cấp khu vực và địa phương; củng cố văn hóa như là một yếu tố tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội, phát triển và phổ biến các nội dung văn hóa kỹ thuật số.
Các chương trình châu Âu trong đó Tây Ban Nha tham gia bao gồm: lĩnh vực điện ảnh và nghe nghìn, Chương trình MEDIA Plus (2001-2006) và chương trình MEDIA 2007-2013, EURIMAGES, Đài quan sát nghe nhìn châu Âu và xúc tiến điện ảnh châu Âu; trong lĩnh vực bảo vệ di sản, dự án châu Âu HEREIN (Mạng lưới di sản châu Âu), dự án Minerva và dự án ArcheoMed.
Chính phủ Tây Ban Nha và chính phủ Pháp đã xúc tiến dự án Thương hiệu di sản châu Âu từ năm 2006. Trong dự án này, cả hai nước đã tìm cách phát huy bản sắc châu Âu vào việc tham gia của người dân vào công tác xây dựng châu Âu, cũng như đẩy mạnh di sản văn hóa châu Âu và phát triển bền vững thông qua du lịch văn hóa. Cả 2 nước, cùng với Ủy Ban châu Âu, cũng đã làm việc về việc thành lập Ban chuyên gia, ban này sẽ đề xuất hướng dẫn về việc số hóa văn hóa.
Trung tâm nguồn lực văn hóa châu Âu quốc tế (CIRCE) trong tương lai, trực thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, sẽ nhắm mục tiêu nghiên cứu và phổ biến văn hóa Châu Âu đương đại thông qua việc cung cấp thông tin cho người dân về vấn đề này. CIRCE sẽ được đặt tại La Coruña (Galicia) và sẽ thành lập mạng lưới quan hệ đối tác với các tổ chức liên minh Châu Âu tương tự khác. Về Hội đồng Châu Âu, trong đó Tây Ban Nha là nước thành viên từ năm 1977, Tiểu cục Hợp tác Quốc tế, cũng chịu trách nhiệm theo dõi và tổ chức sự tham gia của Tây Ban Nha vào những sự kiện mà Hội đồng Châu Âu tài trợ, cả trực tiếp lẫn gián tiếp.
Hợp tác văn hóa của Tây Ban Nha với UNESCO, trong đó Tây Ban Nha là thành viên từ năm 1953, tham gia thực hiện các nhiệm vụ dưới đây: phối hợp và liên hệ giữa Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, Đại sứ quán Tây Ban Nha tại UNESCO và bản thân UNESCO, về mặt phát triển các đề xuất và thỏa thuận của UNESCO; công tác chuẩn bị cho việc tham gia của Bộ vào cuộc hội thảo tổng thể , các cuộc hội thảo liên chính phủ, các ban chuyên gia và các cuộc họp khác tại UNESCO; phối hợp và liên hệ giữa Ủy ban Hợp tác Quốc Gia và UNESCO, tham gia, theo dõi và phổ biến các hoạt động của UNESCO.
Tây Ban Nha cũng là một thành viên của Trung tâm Phát triển Sách Vùng ở Châu Mỹ La Tinh và Caribê, các tổ chức liên chính phủ của Ibero-America, dưới sự bảo trợ của UNESCO, tổ chức này làm việc vì sự phát triển và tích hợp khu vực thông qua xây dựng các cộng đồng đọc sách.
3.4. Hợp tác chuyên nghiệp trực tiếp
Tây Ban Nha: Chính sách văn hóa - ảnh 6
Có nhiều dự án hợp tác quốc tế giữa các tổ chức chuyên ngành văn hóa bao gồm: Viện Biên kịch Địa Trung Hải quốc tế (IITM), được thành lập năm 1991, nhằm mục đích xúc tiến sản xuất nghệ thuật biểu diễn, các dự án văn hóa khác, phát triển và đại diện văn hóa Địa Trung Hải dưới mọi hình thức. Tổ chức này thúc đẩy trao đổi văn hóa và đoàn kết giữa các dân tộc Địa Trung Hải. Công việc mà IITM thực hiện đã dẫn đến thành lập và duy trì mạng lưới có liên quan đến 24 quốc gia: 15 nước ở Châu Âu, 6 quốc gia ở Châu Phi và 3 quốc gia ở phía Đông Địa Trung Hải. Phần việc của IITM đã được UNESCO công nhận, được kết hợp trong chương trình của Địa Trung Hải. Tổ chức này cũng đã giành được hỗ trợ bền vững của Ủy Ban Châu Âu, Các Bộ Văn hóa và Bộ Ngoại Giao về nhiều hoạt động của mình, cũng như hỗ trợ các cộng đồng tự trị của Madrid, MadridAndalusia, Valencia, Extremadura và Castile-La Mancha.
Thông qua Chương trình Hợp tác Quốc tế của chính phủ Andalusia, Cục Văn hóa Andalusian đã thực hiện nhiều dự án hợp tác có phối hợp với các cơ quan và tổ chức khác ở cấp quốc tế, để tăng cường các mối quan hệ với các lĩnh vực khác. Ví dụ, Viện Di sản Lịch sử Andalusian (IAPH) và Viện Nhân chủng học Quốc gia và Lịch sử Mehico đã thực hiện các hoạt động trao đổi và hợp tác trong phạm vi kiến thức các lĩnh vực chuyên mônkhác nhau. Thứ trưởng Bộ Văn hóa đã tham gia với Morocco ở FIPAC, một dự án đào tạo, nghiên cứu, trên máy tính về di sản văn hóa. IAPH cũng hợp tác với Cuba để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật đào tạo, kỹ thuật và tài liệu cho Trung tâm Bảo vệ, Trùng tu, và Khoa học Bảo tàng Quốc gia. Cục Văn hóa đã làm việc với Viện Sách Cuba để thành lập Trung tâm Văn hóa Dulce María Loynaz và Hội chợ Sách Havana cùng với Viện Công nghiệp và Nghệ thuật Quay phim Cuba về việc vi tính hóa Hệ thống Điện ảnh Quốc gia.
Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí Quốc gia sẽ tham gia vào một dự án Châu Âu về công nghệ tương tác thực tế (một khu vực trong thực tế ảo) được ứng dụng cho di sản văn hóa và lịch sử. Đây là một dự án đi đầu, có sự hợp tác của Pháp, Đức, Hungary, Serbia và Anh, ngoài Tây Ban Nha. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2014 và được điều hành tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí Quốc gia (Madrid), Viện Nghệ thuật và Thủ công Nghệ thuật và Thủ công Mỹ Nghệ (Paris), Quỹ tài trợ Nghệ thuật và Công ty TNHH Công nghệ Sáng tạo (Liverpool).   
Gần đây, mạng lưới Dấu vết Nghệ thuật đá thời tiền sử, trong đó Tây Ban Nha tham gia, đã được kết hợp với “tuyến văn hóa của Hội đồng Châu Âu”. Mạng lưới này có hơn 100 địa điểm nghệ thuật đá ở Pháp, Ai-len, Ý, Na-Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Thụy Điển, là tuyến văn hóa-du lịch lớn nhất thời tiền sử Châu Âu.
3.5. Hợp tác và đối thoại liên văn hóa qua biên giới
Một trong những đơn vị tham gia thực hiện quan trọng nhất trong đối thoại giữa Liên minh Châu Âu và các quốc gia Địa Trung Hải khác là Viện Địa Trung Hải Châu Âu, một kho tư duy cụ thể về các mối quan hệ Địa Trung Hải-Châu Âu.
Viện này, có trụ sở đặt tại Barcelona (Catalonia), là trung tâm phản ánh và thảo luận về các tổ chức Địa Trung Hải được lãnh đạo bởi một Ban chủ quản, có sự tham gia của chính quyền Catalonia, Bộ ngoại giao Tây Ban Nha, và Hội đồng thành phố Barcelona; một hội đồng quản trị, được hình thành bởi các công ty, các trường đại học và các viện từ tổ chức dân sự, và Hội đồng cố vấn gồm các nhân vật quan trọng của Địa Trung Hải.
Viện phát huy nhận thức thông qua nghiên cứu và học tập; thực hiện đào tạo và xúc tiến các hoạt động; khuyến khích sự tham gia của tổ chức dân sự trong mối quan hệ Địa Trung Hải (còn được gọi là quá trình Barcelona, khuôn khổ các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội chủ yếu, và các mối quan hệ hợp tác xã hội, cũng như hợp tác khu vực và đối thoại ở Địa Trung Hải.
Ba nền văn hóa Địa Trung Hải là một quỹ tài trợ phi lợi nhuận, trong những năm gần đây, Quỹ này đã trở thành chuẩn mực quốc tế về đối thoại và tôn trọng vì hòa bình và hiểu biết giữa nhân dân thế giới, nhờ vào tính chất đặc biệt của công tác bảo trợ và các hoạt động văn hóa của mình. Quỹ này được thành lập dưới sự bảo trợ của Chính quyền khu vực Andalusia và vương quốc Morocco, chính quyền này đã đề cập đến nhu cầu thành lập một diễn đàn vào năm 1998 để tập hợp những người thuộc khu vực Địa Trung Hải. Đề xuất này đã nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, với sự hỗ trợ của Trung tâm vì Hòa Bình Peres, nhà nước Palestin, nhiều tổ chức, cá nhân Israeli và Châu Âu-Địa Trung Hải đã cam kết đối thoại và hòa bình. Từ tháng 3 năm 1999, khi Quỹ tài trợ ba nền văn hóa được thành lập, ba ưu tiên chính nằm trong hoạt động thường nhật và kế hoạch văn hóa là: hợp tác với khu vực Địa Trung Hải và giữa vùng Andalusia, Morocco, Trung Đông, Liên Minh Châu Âu và các nước Địa Trung Hải.
3.6. Các vấn đề có liên quan khác
Luật số 23/1998 quy định chế độ luật pháp của chính sách Tây Ban Nha về hợp tác quốc tế để phát triển. Mục tiêu của nó bao gồm việc xúc tiến các mối quan hệ văn hóa với các nước đang phát triển. Trong luật đó, văn hóa có thể là một lĩnh vực ưu tiên hợp tác, đặc biệt liên quan đến vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa, thúc đẩy xúc tiến văn hóa và tiếp cận tự do trang thiết bị và dịch vụ văn hóa.
Nhiều hoạt động phát triển văn hóa được thực hiện thông qua một Cơ quan hợp tác và phát triển quốc tế (AECID), được thành lập năm 1988 để quản lý chính sách Tây Ban Nha về hợp tác và phát triển quốc tế. AECID là một cơ quan tự trị được liên kết với Bộ Hợp tác và Ngoại giao thông qua Ban thư Ký Nhà nước về Hợp tác quốc tế với Iberoamerica. Cơ quan này chịu trách nhiệm thiết kế, thực hiện và quản lý dự án và các chương trình hợp tác phát triển, cả về việc trực tiếp sử dụng nguồn lực của mình lẫn thông qua hợp tác với các tổ chức trong nước hay quốc tế khác và các tổ chức phát triển phi chính phủ. Để thực hiện công việc của mình, AECID có cơ cấu lớn bên ngoài, với 44 văn phòng hợp tác kỹ thuật, 15 trung tâm văn hóa và 6 trung tâm đào tạo ở các nước mà cơ quan này thực hiện các dự án hợp tác chính. Trong số các chương trình hợp tác được quan tâm đặc biệt của cơ quan này còn có chương trình phát triển di sản, Chương trình Format – nhằm mục đích phát huy các sáng kiến và các dự án hợp tác phát triển văn hóa và giáo dục – Chương trình cơ hội bình đẳng cho Phụ nữ và Nam giới, và chương trình Acerca – đặc biệt chú trọng cung cấp năng lực phát triển lĩnh vực văn hóa.
Quy hoạch tổng thể về hợp tác Tây Ban Nha 2005-2008 thể hiện bước đột phá lớn trong công tác hướng văn hóa theo chiều  hợp tác phát triển, điều này được chứng minh qua mong muốn khẳng định bản sắc và đặc thù riêng, phù hợp với bối cảnh mới của các xu hướng hiện nay về các mối quan hệ liên quan đến văn hóa, phát triển và tiến độ phát triển ý tưởng của các tổ chức ví dụ như UNDP và UNESCO. Trong khuôn khổ này, Bộ Hợp tác và Ngoại giao giới thiệu Chiến lược đầu tiên về Văn hóa và Phát triển Hợp tác Tây Ban Nha.
Quy hoạch tổng thể về Hợp tác Tây Ban Nha dưới đây phản ảnh tinh thần của dự án cũ, dự án đã góp phần quyết định vào việc tăng cường hợp tác như chính sách nhà nước. Quy hoạch tổng thể củng cố các mối quan tâm lớn của chủ đề cũ, ví dụ như văn hóa và phát triển, để phát huy cơ hội và năng lực văn hóa vật thể và phi vật thể của các cá nhân và cộng đồng như là các hợp phần quan trọng của việc phát triển con người bền vững.
Tháng 12 năm 2012, chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hợp tác Tây Ban Nha mới 2013-2016. Các ưu tiên của chính phủ cho hợp tác văn hóa trong những năm tới bao gồm: phát huy tôn trọng đa dạng văn hóa, đối thoại liên văn hóa, tự do ngôn luận và sáng tạo cũng như tham gia hiệu quả của toàn bộ cá nhân vào đời sống văn hóa. Quy hoạch là một phần của chính sách mở rộng về việc tính toán hợp lý chi phí công và tìm cách đạt được sự liên kết lớn hơn và chất lượng quản lý trong công tác hỗ trợ phát triển chính thức.
Tây Ban Nha có truyền thống di cư lâu đời. Ngày 1 tháng 1 năm 2012, số kiều bào Tây Ban Nha định cư ở nước ngoài lên đến hơn 1 800 000, tăng 24% so với năm 2009. Để phục vụ các nhu cầu của nhóm này, Tây Ban Nha có một mạng lưới gồm các văn phòng lãnh sự quán trực thuộc Bộ Hợp tác và Ngoại giao, với gần 200 văn phòng lãnh sự và các phòng lãnh sự Đại sứ quán, và khoảng 500 các văn phòng lãnh sự danh dự và phó lãnh sự.  Năm 2006, chính phủ phê duyệt “luật công dân Tây Ban Nha ở nước ngoài” (Luật 40/2006, 14 tháng 12 năm 2006) nhằm mục đích đảm bảo tự do thực hiện pháp quyền và nghĩa vụ giữa các công dân Tây Ban Nha sinh sống tại nước ngoài, có vai trò bình đẳng như công dân Tây Ban Nha, tăng cường mối quan hệ xã hội, văn hóa, kinh tế và ngôn ngữ với Tây Ban Nha và với các cộng đồng nơi cư trú và quốc gia của người di cư.
IV. Các vấn đề về phát triển chính sách văn hóa
1. Các vấn đề chính sách văn hóa và các ưu tiên chính
Hành động của chính quyền trung ương trong giai đoạn 2004-2011 tập trung vào 3 mục tiêu trọng tâm: thừa nhận đa văn hóa, tăng cường hợp tác và xem xét văn hóa làm công cụ để phát triển kinh tế và xã hội.
Hoạt động văn hóa trong giai đoạn này được định hướng để thực hiện: các cải cách quy trình và cấu trúc trong các thể chế văn hóa chủ yếu của đất nước nhằm mục đích nâng cao quản lý và đối mặt với các hậu quả của khủng hoảng kinh tế; thực hiện các sáng kiến để cải thiện mối quan hệ với chính quyền địa phương và khu vực; xúc tiến quốc tế văn hóa Tây Ban Nha, cùng với việc thông qua các sáng kiến ví dụ như Kế hoạch quốc gia về  hành động văn hóa ở nước ngoài và Kế hoạch xúc tiến quốc tế về du lịch văn hóa 2010-2012;
Chiến thắng của Đảng Nhân dân trong cuộc bầu cử 2011 dẫn đến việc bổ nhiệm duy nhất một Bộ trưởng cho các lĩnh vực của văn hóa, giáo dục và thể thao. Quy tắc hành động cơ bản đối với thời kỳ hiện nay là quy hoạch chiến lược tổng thể 2012-2015. Có 5 mục tiêu tổng thể cho quy tắc hành động này:
•           Khớp nối chính sách nhà nước để bảo đảm quyền tiếp cận đối với văn hóa và góp phần củng cố quyền công dân và gắn kết xã hội ;
•           Tăng cường các công cụ truyền thông và hợp tác văn hóa giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác để thúc đẩy sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực văn hóa;
•           Xúc tiến văn hóa làm công cụ quan trọng để phổ biến “thương hiệu” Tây Ban Nha ra nước ngoài;
•           Khuyến khích sự tham gia và vai trò của tổ chức dân sự vào công tác hỗ trợ và xúc tiến văn hóa; và
•           Tạo điều kiện cho việc thúc đẩy văn hóa trên Internet, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
2. Xác định các vấn đề chính sách và các cuộc tranh luận gần đây
2.1. Các vấn đề khái niệm chính sách dành cho nghệ thuật
Xúc tiến văn hóa thông qua khuyến khích sáng tạo nghệ thuật là một trong những mục tiêu chiến lược của chính phủ xuyên suốt thời kỳ dân chủ.
Âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn là lĩnh vực nghệ thuật hưởng lợi nhiều nhất từ các chính quyền khu vực và trung ương, và kế tiếp là di sản văn hóa, một trong những lĩnh vực chính của việc can thiệp văn hóa.
Ở cấp nhà nước, Viện Âm nhạc và Nghệ thuật Biểu diễn Quốc gia (INAEM) chịu trách nhiệm hỗ trợ âm nhạc và biểu diễn nghệ thuật và Viện này thành lập các khu vực can thiệp chiến lược.
Các ưu tiên chính cho giai đoạn 2012-2015  bao gồm: gia tăng nhu cầu, đặc biệt là chiến lược ở giai đoạn hiện nay; tăng cường hợp tác, tham gia của các tổ chức và ngành văn hóa; thực hiện mô hình quản lý mơi theo từng lãnh thổ.
Mục đích của việc gia tăng nhu cầu, cũng là ưu tiên của chính quyền trước đây, cho đến nay vẫn không có kết quả đáng chú ý. Trong số các sáng kiến mà chính quyền mới có mục tiêu thực hiện là: tăng cường xuất hiện trên phương tiện truyền thông đại chúng, internet và các mạng lưới xã hội; nâng cao giáo dục nghệ thuật trong các chương trình giảng dạy ở trường; khuyến khích hợp tác giữa các trường đại học và các trung tâm văn hóa lớn; thành lập các kế hoạch để xúc tiến nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc giữa trẻ em và thanh niên và việc sử dụng cơ chế ngân sách trắng ví dụ như tài trợ và xúc tiến hợp tác công-tư.
Tăng cường hợp tác thể chế liên quan đến việc trao đổi sản xuất trong các khu vực, cũng như đẩy mạnh đối thoại với các khu đô thị tự trị, để toàn bộ các cấp chính quyền sẽ hợp tác nhằm đáp ứng cam kết tài chính đối với các công ty trong lĩnh vực này.
Cuối cùng, chính phủ sẽ xúc tiến một mạng lưới lưu thông vào thị trường nhà hát, rạp xiếc, âm nhạc và khiêu vũ, với dự định là các công ty văn hóa có thể biểu diễn các sản phẩm ngoài khu vực bản địa, điều chỉnh mất cân bằng lãnh thổ và cung cấp các chương trình văn hóa chất lượng hơn ở tất cả các cấp của chính quyền.
Về các vấn đề tổ chức, việc thành lập Hội đồng nhà nước về Âm nhạc và Nghệ thuật Biểu diễn (Nghị định Hoàng gia 497/2010) là một trong những thay đổi chính trong cấu trúc hỗ trợ nghệ thuật. Cơ quan mới này hiểu rằng trong phương thức thể chế và chính thống, các yêu cầu và đề xuất từ các lĩnh vực khác nhau như âm nhạc, nhà hát, khiêu vũ và xiếc, cũng như từ các chính quyền địa phương và khu vực, và góp phần thiết lập các ưu tiên đối với chính sách văn hóa trong khu vực này. Chính quyền mới coi Hội đồng này là các công cụ cơ bản để đạt được thông tin liên lạc và hợp tác văn hóa giữa các đối tượng tham gia khác nhau.
Gần đây, Viện Âm nhạc và Nghệ thuật Biểu diễn Quốc gia cũng đã hỗ trợ phát triển các kế hoạch hành động toàn diện, ví dụ như Quy hoạch tổng thể về rạp hát 2007 và chỉnh sửa năm 2011, Quy hoạch tổng thể về Khiêu vũ giai đoạn 2010-2014 được phê duyệt tháng 11 năm 2009, và Quy hoạch tổng thể về Rạp xiếc giai đoạn 2012-2015, được phê duyệt vào tháng 11 năm 2011. Toàn bộ quy hoạch là kết quả của sự phản ánh và tham gia vào lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn trong việc phân tích tình huống, đánh giá các nhu cầu và thành lập chiến lược cho chính sách công cộng.
Về việc thúc đẩy sáng tạo và tiêu thụ nghệ thuật, Viện Âm nhạc và Nghệ thuật Biểu diễn Quốc gia (INAEM) đã ban hành năm 2010 cuốn sách đầu tiên về chuyến tham quan khiêu vũ trên sân khấu và, năm 2011, chương trình GPS - Turn by Halls, nhằm mục đích cung cấp cho nghệ sỹ có cách tiếp cận các chuyến tham quan  hòa nhạc ngoài khu vực. Chính quyền tìm cách mở rộng chương trình này ra nước ngoài trong thời kỳ hiện nay.
Cũng trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, Viện Âm nhạc và Nghệ thuật Biểu diễn Quốc gia đã phê duyệt các quy chế mới của công ty khiêu vũ quốc gia (Sắc lệnh CUL/1993/2010), múa ba lê quốc gia (Sắc lệnh CUL/3065/2010), Công ty rạp hát cổ điển quốc gia (Sắc lệnh CUL/3355/2010), Nhà hát Zarzuela (Sắc lệnh CUL/451/2011), Trung tâm kịch quốc gia (Sắc lệnh CUL/3359/2011). Toàn bộ sắc lệnh thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong các lĩnh vực âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn. Trong số các mục tiêu của các hiến pháp mới là thúc đẩy các sáng tạo giáo dục tạo điều kiện cho sự hiểu biết các chiến dịch phát triển và chương trình nhằm mục đích thu hút nhiều khán giả mới.
2.2. Các vấn đề di sản và chính sách
Ở cấp nhà nước, Tiểu cục Bảo vệ di sản văn hóa lịch sử và Viện Di sản văn hóa Tây Ban Nha là các tổ chức chịu trách nhiệm về các chính sách di sản. Cả 2 cơ quan này chịu trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa, làm phong phú thêm các bộ sưu tập thuộc sở hữu nhà nước, xúc tiến quan hệ hợp tác về di sản và các công việc trùng tu nghệ thuật và các vật thể khảo cổ thuộc sở hữu nhà nước, các cơ quan quản lý hành chính công khác hoặc nhà thờ, thông qua nhiều quy hoạch, ví dụ như quy hoạch của nhà thờ quốc gia, quy hoạch di sản công nghiệp quốc gia, quy hoạch của lâu đài quốc gia, quy hoạch di sản quốc gia. Các chiến lược đối mặt với chính sách di sản văn hóa hiện hành là:
•           Cập nhật các chính sách quốc gia, khu vực và địa phương ; và
•           Phát triển các quy hoạch để đẩy mạnh sự hiểu biết và xác nhận giá trị của các địa điểm di sản văn hóa và tài sản làm công cụ để thúc đẩy bản sắc văn hóa địa phương.
Hai vấn đề khác có liên quan đến cuộc thảo luận hiện nay về di sản văn hóa của Tây ban Nha là sự đa dạng và các giới hạn phạm vi. Đây là một phần của cuộc thảo luận đang diễn ra về di sản văn hóa định kỳ đang được mở rộng ra các lĩnh vực mới ví dụ như lịch sử đương thời, tài sản công nghiệp và di sản văn hóa phi vật thể.
Một trong những mục tiêu chính của Bộ Văn hóa trong những năm qua, và  Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao nhằm cải thiện quản lý di sản lịch sử, cho phép tích hợp với nhận thức xã hội. Ứng dụng công nghệ số nhằm đưa các hạng mụcc di sản văn hóa tới công chúng qua internet, theo Bộ trưởng, đây là phương thức tiết kiệm và dân chủ nhất để phổ biến văn hóa. Với mục tiêu này, có nhiều sáng kiến đã diễn ra trong những năm gần đây.
Trong năm 2007, Bộ Văn hóa Tây Ban Nha đã làm việc để phát triển Cổng thông tin chính của các kho lưu trữ Tây Ban Nha,  cơ sở dữ liệu dựa trên trang web về công tác phổ biến di sản dữ liệu lịch sử quốc gia và thư viện ảo về di sản và di sản nghiên cứu lịch sử và việc xuất bản sách cho phép người sử dụng tư vấn một loạt các tài liệu trực tuyến làm thành một phần của di sản nghiên cứu lịch sử và xuất bản sách cho Tây Ban Nha. Thư viện ảo của các tờ báo lịch sử là một dự án số hóa lớn khác, tham gia vào các dự án ở Châu Âu và địa phương của Châu Âu, và cùng với dự án khác (ví dụ như  Galicia, thư viện của Galicia, hoặc Bivaldi, Thư viện số Valencia, là một trong số khác) đã có sẵn trên internet .
Tháng 11 năm 2009, Mạng lưới thư viện bảo tàng được khởi xướng và cùng với nó là các cuộc đối thoại của các thư viện đến từ 19 viện bảo tàng sở hữu nhà nước. Năm 2010, Bộ Văn hóa  Tây Ban Nha đã ban hành 2 dự án:
Tây Ban Nha mang đến các bộ sưu tập số hóa các kho lưu trữ và viện bảo tàng theo Khởi xướng Kho lữu trữ mở được xúc tiến bởi Liên Minh Châu Âu và CERES, đối thoại trực tuyến và mạng lưới số hóa các bộ sưu tập của 74 viện bảo tàng được đặt tại 11 cộng đồng tự trị, cung cấp, lần đầu tiên tiếp cận hợp nhất các tài sản văn hóa của các viện bảo tàng Tây Ban Nha .
Tháng 10 năm 2012, thư viện quốc gia, hợp tác với Telefónica, đã trình bày một dự án các cuốn sách tương tác nhằm mục đích làm cho văn hóa dễ dàng tiếp cận tới mọi người. Ngoài số hóa di sản văn hóa, chính quyền đã thực hiện các sáng kiến khác trong khu vực.
Trước đó, năm 2007, Bộ Văn hóa đã ban hành quy hoạch quốc gia về bảo vệ di sản khảo cổ dưới nước, quy hoạch này phác thảo các hướng dẫn cơ bản cho chính sách bảo vệ hiệu quả.
Tháng 11 năm 2008, Viện bảo tàng Khảo cổ quốc gia (ARQUA) mở cửa ở Cartagena (Murcia). Đây là một Viện quan trọng trong quy hoạch và tìm cách để trở thành mốc chuẩn mực quốc tế cho việc làm mới khoa học bảo tàng khảo cổ học dưới nước.
Năm 2009, Viện di sản văn hóa Tây Ban Nha, trực thuộc Tổng cục Mỹ thuật và Tài sản Văn hóa của Bộ Văn hóa, đã xuất bản tờ báo Di sản văn hóa của Tây Ban Nha. Đây là không gian phản ánh và thảo luận về nhiều dự án nghiên cứu, gìn giữ và tôn tạo. Bộ này cũng ban hành Mạng lưới kỹ thuật các viện và trung tâm gìn giữ và trùng tu, tập hợp tất cả các viện thuộc loại hình này tồn tại ở Tây Ban Nha. Trong cùng năm này, Bộ văn hóa cũng thiết lập giải thưởng báo chí để công nhận đóng góp của các nhà báo chuyên nghiệp và các Viện xúc tiến các hoạt động văn hóa và  làm phong phú di sản văn hóa  Tây Ban Nha.
Năm 2010, Trung tâm Di sản Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha đã mở  cửa với mục đích trở thành nơi tham chiếu cho công tác bảo vệ, gìn giữ, nghiên cứu và xúc tiến di sản văn hóa Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha. Căn cứ vào việc trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và xây dựng các dự án liên kết, trung tâm đã đặc biết chú ý đến di sản các khu vực trên biên giới với Bồ Đào Nha, và xúc tiến mạng lưới qua biên giới các trung tâm. 
Tháng 6 năm 2010, Tây Ban Nha được bầu làm thành viên của Ban di sản thế giới UNESCO. 6 tổ chức phi chính phủ Tây Ban Nha cũng được bầu làm các tổ chức được công nhận để tư vấn về Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Trung tâm Navarra UNESCO, Trung tâm Catalonia UNESCO, Trung tâm San Sebastian UNESCO (xứ Basque), Trung tâm của thành phố tự trị của Melilla UNESCO, Quỹ nghị viện Địa Trung Hải và Trung tâm nghiên cứu Borjanos của viện "Fernando el Católico".
Cũng trong năm 2010, các Bộ Văn hóa, Công nghiệp, Du lịch và Thương Mại, và Ngoại giao và Hợp tác đã phát triển một đề án xúc tiến quốc tế du lịch văn hóa 2010-2012. Mục tiêu của đề án này là xúc tiến điểm đến “Văn hóa Tây Ban Nha” , xúc tiến các tuyến văn hóa theo chủ đề và xúc tiến du lịch ngôn ngữ.
Đầu năm 2011, Chính phủ đã ban hành đề án gìn giữ bảo vệ quốc gia và đề án di sản công nghiệp quốc gia. Cả 2 đề án nhằm mục đích đổi mới công cụ để ứng dụng hiệu quả phương thức tiếp cận tích hợp cho công tác quản lý di sản, nghiên cứu, gìn giữ và phổ biến.
2.3. Các ngành văn hóa và sáng tạo : Chính sách và chương trình
Đề án xúc tiến các ngành văn hóa và sáng tạo, được phê duyệt năm 2001 và vẫn còn hiệu lực. Theo việc phân loại có trong Báo cáo mới của liên minh Châu Âu: Mở rộng tiềm năng các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, đề án mới bổ sung các lĩnh vực truyền thống của điện ảnh, nghệ thuật thị giác, truyền hình, truyền thanh, âm nhạc, sách báo, các lĩnh vực mới có liên quan mật thiết đến đổi mới và sáng tạo như: thiết kế, thời trang, kiến trúc, quảng cáo, truyền thông đại chúng mới, trò chơi video và nghệ thuật tương tác.
Tháng 12 năm 2008, Tây Ban Nha đã thành lập một Tổng cục các ngành công nghiệp văn hóa và chính sách mới với 3 mục đích chính: cải thiện đào tạo và xúc tiến sáng tạo; hỗ trợ số hóa nội dung văn hóa và vì sự phát triển, củng cố và quốc tế hóa các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo; và hỗ trợ các tổ chức phi lợi nhuận.
Vi phạm bản quyền ngày càng tăng, nên tháng 10 năm 2009, Chính phủ đã thành lập một Ủy ban liên bộ bao gồm 8 bộ ( Phó tổng thống và Bộ Chủ tịch nước, Phó Tổng thống và Bộ Kinh tế và Tài chính, Bộ Ngoại giao và Hợp tác, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục, Bộ Công nghiệp, Du lịch và Thương Mại, và Bộ Văn hóa) với các nhiệm vụ chính là chống lại vi phạm quyền sở hữu trí tuệ  qua Internet. Phần việc của Ủy ban này trước tiên là hướng dẫn Luật Phác thảo và tiếp theo, Luật kinh tế bền vững.
Trong những năm gần đây, có nhiều chương trình giáo dục cao hơn cho các chuyên gia làm việc trong các ngành công nghiệp văn hóa. Catalonia là một trong những cộng đồng hàng đầu cung cấp lĩnh vực này. Điển hình là, Trường đại học Pompeu Fabra đã cung cấp chương trình của thạc sỹ về việc xuất bản và một vài chứng chỉ sau đại học: quản lý doanh nghiệp về công nghiệp âm nhạc; quản lý nội dung; quản lý các viện văn hóa, các công ty và nền tảng, và xuất bản. Trường đại học Barcelona có chương trình thạc sỹ trong các viện và các công ty văn hóa và chương trình sau đại học về quản lý và sản xuất trình diễn.
Tháng 6 năm 2011, chính quyền đã phát động chiêu bài (văn hóa Tích cực),một sáng kiến nhằm hỗ trợ cung cấp pháp lý nội dung văn hóa trên trên interrnet .
Năm 2012, Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao đã quyết định:
•           Tạo ra một dòng tín dụng cho các ngành công nghiệp văn hóa, hợp tác với Viện tín dụng cùng với các tỉ lệ trợ giá, để hỗ trợ thành lập các hoạt động kinh doanh chuyên nghiệp và kinh doanh mới .
•          "Giải thưởng CreArte " cho chương trình xúc tiến sáng tạo và đổi mới ở các trường công; Học bổng FormArte" cho công tác đào tạo và chuyên sâu trong các hoạt động và chủ đề thuộc phạm vi năng lực của các viện văn hóa trực thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao và trường Cao đẳng Tây Ban Nha ở Pari.
•           "Học bổng CULTUREX" cho công tác đào tạo và chuyên sâu lĩnh vực quản lý văn hóa ở các viện văn hóa ở nước ngoài;
•           Các khoản viện trợ  cho hành động và xúc tiến văn hóa, có liên quan chủ yếu đến các quỹ tài trợ và hiệp hội;
"Chương trình đào tạo Kinh doanh văn hóa và sáng tạo” được phát triển bởi Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể Thao, viện INCYDE (Viện Sáng tạo và phát triển doanh nghiệp Cameral), và quỹ tài trợ của Phòng Thương mại. Sáng kiến này, nhằm mục đích xúc tiến doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, hỗ trợ tài chính của ngân quỹ Xã hội Châu Âu trong chương trình “Khả năng thích nghi và Việc làm”; và
•           Hỗ trợ xúc tiến du lịch.
Từ góc nhìn toàn cầu, có 4 chiến lược chính đối với các ngành công nghiệp văn hóa ở Tây Ban Nha cần vượt qua:
•           Tìm cách  cân bằng giữa khả năng đứng vững tài chính của các ngành công nghiệp văn hóa tại cùng một thời điểm để giữ vững các điều lệ ngăn chặn các độc quyền văn hóa hoặc kinh tế trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện;
•           Tái khẳng định độc lập các ngành công nghiệp như xuất bản sách, điện ảnh và nghệ thuật nghe nhìn nói chung;
•           Sửa đổi cách tiếp cận để trợ giá cho các ngành công nghiệp văn hóa (ví dụ thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại, vốn vay rẻ, giảm thuế) để chú trọng hơn vào mặt sáng tạo vận hành; và
•           Thuyết phục người dân chấp nhận coi các ngành công nghiệp văn hóa như nguồn gốc phát triển kinh tế cũng như phương thức tiếp cận đối với văn hóa. Một khả năng để đạt được mục tiêu này sẽ là thúc đẩy “các cụm đa phương tiện” cũng như thành lập ứng dụng các công nghệ mới đối vối văn hóa như một trong những cột mốc của công tác phát triển khu vực.
2.4. Đa dạng văn hóa và các chính sách
Là một quốc gia có số lượng nhập cư khá đông. Theo báo cáo quý của Đài quan sát nhập cư thường trực (Bộ việc làm và an sinh xã hội), ngày 30 tháng 12 năm 2012, số lượng cư dân nước ngoài ở Tây Ban Nha, tăng 3.3% so với  năm nước. Nhóm nhập cư đến từ các nước thành viên liên minh Châu Âu (40.7%), Mỹ la Tinh (27.3%), tiếp theo là Châu Phi (21.1%), Châu Á (6.8%), phần còn lại của Châu Âu (2.8%), Bắc Mỹ (0.7%), AELC-EFTA (0.5%) và Châu đại dương (0.0%). Romania (913 405 người), Morocco (859 105), Ecuador (391 231), Colombia (271 596) và Anh (246 533). So với năm trước, số lượng tăng lên nhiều hơn tương tự như Nicaragua (từ 6 748 lên 8 587), Honduras (từ 15 372 lên 18 578 người), Cyprus (từ 273 lên 391) và Paraguay (từ 39 984 lên 46 795).
Tháng 3 năm 2012, chính quyền mới nổi lên từ cuộc bầu cử năm 2011 tuyên bố ban hành đề án hành động quốc gia mới về hội nhập xã hội 2012-2015. Với mục đích tổng thể là xúc tiến hội nhập xã hội .
Tháng 9 năm 2011, chính phủ phê duyệt kế hoạch chiến lược về quyền công dân và hội nhập (2011-2014), thay thế kế hoạch chiến lược năm 2007. Quan tâm đến toàn bộ dân số, bản địa và nhập cư, đề án cũng công nhận quyền công bằng và nhiệm vụ của tất cả mọi người, công bằng về các cơ hội và tôn trọng sự đa dạng. Đề án cũng muốn củng cố nhận thức thuộc về cộng đồng Tây Ban Nha giữa những người nhập cư. Với ý nghĩa này, đề án nhằm mục đích thúc đẩy sự hiểu biết nhiều hơn nữa giữa những người nhập cư và tôn trọng các giá trị chung của Liên minh Châu Âu, các quyền và nghĩa vụ của người dân ở Tây Ban Nha, các ngôn ngữ chính thức được sử dụng ở các cộng đồng khác nhau và các quy tắc xã hội của xã hội Tây Ban Nha. Trong mối quan hệ với đề án cũ, đề án mới xem xét các biện pháp mới nhằm đáp ứng những thách thức mới ví dụ như phương thức để quản lý sự đa dạng, tăng cường nguồn nhân lực và đảm bảo các cơ hội công bằng nhằm đảm bảo sự gắn kết xã hội.
Trong lĩnh vực văn hóa, một trong những dự án được thực hiện bởi chính phủ là thành lập Quỹ tài trợ Viện Văn hóa Roma, một quỹ tài trợ công do nhà nước sở hữu kết hợp với Bộ Văn hóa, hiện nay là Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao.
Mục đích chính của Viện Văn hóa là nhằm góp phần thúc đẩy các mối quan hệ hài hòa giữa nhiều nhóm và các nền văn hóa trong nền văn hóa Tây Ban Nha, chú trọng đặc biệt vào bình đẳng về cơ hội và đấu tranh chống phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính hay chủng tộc. Viện cũng hỗ trợ phát triển và xúc tiến lịch sử Gypsy, văn hóa và ngôn ngữ trong tất cả các sự kiện, và góp phần phổ biến thông qua nghiên cứu, xuất bản và tổ chức các sự kiện văn hóa và học thuật. Gần đây, Chính phủ đã phê duyệt một đề án cụ thể cho việc phát triển cộng đồng Roma được triển khai trong giai đoạn 2010-2012. Đề án bao gồm một loạt các hành động nhằm xúc tiến công tác tham gia xã hội của cộng đồng Gypsy, và thực hiện các quyền của mình và tiếp cận hàng hóa và dịch vụ.
Một dự án văn hóa khác trong lĩnh vực này là mạng lưới thành phố Tây Ban Nha của những người Do Thái, một hiệp hội nhà nước phi lợi nhuận với mục tiêu bảo vệ toàn bộ khía cạnh của di sản Sephardi ở Tây Ban Nha, các thành viên của tổ chức này xúc tiến các dự án học thuật và văn hóa, chia sẻ kinh nghiệm và tổ chức các sự kiện ở Tây Ban Nha và ở nước ngoài và thiết kế các chính sách du lịch văn hóa bền vững trong các thành phố của mình.
Ở Tây Ban Nha, có nhiều hành động xúc tiến sáng tạo văn hóa và nghệ thuật như một “công cụ” cho công tác hội nhập xã hội của các cộng đồng những người nhập cư và các dân tộc thiểu số văn hóa, và như là một “chiếc cầu nối” giữa các nhóm này và dân số nước chủ nhà. Dưới đây là những mục tiêu xúc tiến sáng tạo quan trọng nhất:
•           Xúc tiến văn hóa đọc giữa những người nhập cư sống ở Tây Ban Nha: cuộc thi viết xung quanh chủ đề Nhập cư, đa văn hóa và cùng tồn tại  hòa bình trong khuôn khổ thỏa thuận chung được ký bởi Quỹ CEPAIM (Hiệp hội các tổ chức hành động chung với những người nhập cư) và Bộ Văn hóa để xúc tiến văn hóa đọc giữa bộ phận dân số nhập cư;
•           Nâng cao hình ảnh thông qua các lễ kỷ niệm và các sự kiện nhà nước: lễ hội Mercia thường niên: 3 nền văn hóa (Ả rập, Do Thái, và Ki-tô-giáo) được tổ chức bởi hội đồng thành phố Murcia; Venague, được tổ chức từ năm 1991 bởi Hiệp hội Columbare ở Beniajan (Murcia);
•           Nâng cao  hình ảnh thông qua truyền thông đại chúng: Hiệp hội Migra Media ở Barcelona sản xuất tư liệu và tài liệu nghe nhìn; Hiệp hội Columbares đã thực hiện nhiều dự án truyền hình và điện ảnh, và Ban điều phối của các tổ chức xuất nhập cảnh có cột báo hàng tuần;
•           Tăng các kỹ năng của các cộng đồng thiểu số: Hiệp hội ETANE là một nhóm làm việc từ các nước Châu Phi vùng cận Sahara mà từ năm 1991, đã tổ chức các chương trình giảng dạy cho giáo viên và học sinh ở Barcelona (Tây Ban Nha); từ năm 2002, "La formiga", môt tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức trường học ngôn ngữ”, thực hiện đào tạo giảng dạy ngôn ngữ nước sở tại cho những người nhập cư mới;
•           Tăng cường các mối liên lạc giữa các hiệp hội và các tổ chức phi chính phủ: Quỹ tài trợ CEPAIM (Hiệp hội các tổ chức hành động chung với những người di cư);
•           Tăng cường các hoạt động trao đổi văn hóa cho các trường học: từ năm 1997, hiệp hội Columbares ở Murcia tổ chức dự án Nhận thức ở trường học; và
•           Xúc tiến cùng tồn tại đa văn hóa và tôn trọng lẫn nhau của tất cả các nền văn hóa: Từ năm 1992, hiệp hội văn hóa-xã hội về Hợp tác và Phát triển ở Colombia và Mỹ La Tinh, điều phối các dự án văn hóa khác nhau (ví dụ như các lễ hội, hội thảo, và triển lãm nghệ thuật, vv) cho phép tương tác giữa những người bản địa và người nhập cư; và Quỹ tài trợ Tot Raval (Barcelona) từ năm 2003.
 2.5. Các vấn đề và chính sách ngôn ngữ
Vấn đề ngôn ngữ là một vấn đề quan trọng ở Tây Ban Nha do được công nhận cả ở trong hiến pháp năm 1978 và trong các chương khu vực của 6 cộng đồng: Catalonia, xứ Basque, Galicia, Balearics, Valencia và Navarre. Trong những khu vực này, ngôn ngữ địa phương và Castalia cùng tồn tại như các ngôn ngữ chính thức và thực hiện hệ thống giáo dục song ngữ. Sự công nhận này là nền tảng của sự đa dạng văn hóa của Tây Ban Nha.
Những thách thức đã trải qua từ việc ghi nhận ban đầu của “các ngôn ngữ Tây Ban Nha khác” (Điều 3.2 của Hiến pháp Tây Ban Nha 1978) được chia thành 3 loại lớn. Loại thứ nhất là trong việc xác định ranh giới giữa chính sách ngôn ngữ và văn hóa, đặc biệt đối với sự can thiệp của các cơ quan có thẩm quyền trong các ngành công nghiệp văn hóa của các cộng đồng song ngữ. Vấn đề thứ hai nảy sinh từ những dòng người nhập cư, trong việc quyết định ngôn ngữ nào nên được sử dụng để hội nhập xã hội trong nước chủ nhà. Vấn đề thứ 3 liên quan đến các nền văn hóa khác nhau trong nước và biên giới mỏng manh giữa công tác bảo vệ ngôn ngữ khu vực bởi các cơ quan khu vực có thẩm quyền và sự can thiệp có hại cho ngôn ngữ quốc gia chính thức. Về điểm cuối này, ý định của Đảng Nhân dân là  mở rộng tiếng Castilia làm ngôn ngữ trung gian trong hệ thống giáo dục Catalan, cũng như ban hành luật phác thảo về Giáo dục, trong đó các ngôn ngữ đồng chính thức đều được xem là các đề tài “đặc trưng”, mất đi đặc tính “cốt lõi”, đã chạm phải sự phản đối mạnh mẽ của chính quyền và xã hội Catalan. Thay vào đó, họ bảo vệ hệ thống ngôn ngữ trung gian được thực hiện ở các trường học Catalan và do đó, hình thành tính trung lập của ngôn ngữ Catalan và văn học trong chương trình học.
Một sáng kiến đi đầu ở Tây Ban Nha là thành lập một ban chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau (giáo dục, ngành công nghiệp nghe nhìn, văn hóa, chính trị, người tiêu dùng và sử dụng, thông tin liên lạc xã hội, vv.) năm 2011. Ban này có nhiệm vụ tư vấn cho chính phủ về các biện pháp xúc tiến phiên bản gốc ở cả rạp chiếu phim và trên truyền hình. Trong thời gian này, Thượng viện đã thông qua các biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền tiếp cận nội dung nghe nhìn bằng ngôn ngữ gốc. Sự ra đời của Ban này nhằm thúc đẩy đa dạng văn hóa, phổ biến các ngôn ngữ, vận động kêu gọi chính phủ thông qua các biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền tiếp cận nội dung nghe nhìn  bằng ngôn ngữ gốc.
2.6. Đa nguyên phương tiện truyền thông đại chúng và đa dạng nội dung
Kể từ năm 1977, khi Bộ Thông tin và Du lịch được thay bằng Bộ Văn hóa, trách nhiệm của chính phủ đối với phương tiện truyền thông đại chúng được tách khỏi trách nhiệm đối với văn hóa. năm 2000, phương tiện truyền thông đại chúng đi kèm theo trách nhiệm của Ban thư ký Viễn thông và xã hội thông tin của Bộ Công nghiệp, Năng lượng và Du lịch hiện hành. Tuy nhiên, Viện nghệ thuật điện ảnh quốc gia và nghệ thuật nghe nhìn của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao hiện nay tiếp tục phát huy các chiến lược thúc đẩy các ngành công nghiệp nghe nhìn và điện ảnh thông qua trợ giá các chi phí sản xuất nhất định và các chi phí phân phối, cũng như xây dựng và cải tạo các rạp chiếu phim.
            Luật 4/1980 cho phép các cộng đồng tự trị thiết lập vận hành đài phát thanh truyền hình công khai riêng, ví dụ như:
•           Euskal Irrati Telebista (1982);
•           Tổng công ty truyền hình Catalan (1983);
•           Công ty phát thanh Galicia (1984);
•           Cơ quan phát thanh Valencia (1984);
•           Cơ quan truyền thanh và truyền hình của Madrid (1984);
•           Cơ quan truyền thanh và truyền hình của đảo Canary (được thành lập năm 1984 và bắt đầu hoạt động vào năm 1999);
•           Cơ quan truyền thành và truyền hình của đảo Balearic (được tạo ra từ năm 1984, nhưng không được thiết lập như vậy đến tận năm 2004);
•           Tổng công ty truyền hình Aragon (1987);
•           Cơ quan thông tin doanh nghiệp của đài phát thanh và truyền hình (1987);
•           Cơ quan phát thanh và truyền hình Castile-La Mancha (2000);
•           Cơ quan phát thanh và truyền hình Asturias (2003); và
•           Cơ quan phát thanh và truyền hình Murcia (2004).
Cùng thời điểm, kênh truyền hình thứ 2 của Tổng công ty truyền hình và phát thanh Tây Ban Nha (RTVE) phát sóng một số chương trình bằng ngôn ngữ của các khu vực có hai thứ tiếng khác nhau. Các đài phát thanh và truyền hình sở hữu và cấp vốn bởi các khu vực tự trị, mặc dù không phải lúc nào cũng có cấu trúc kết nối với các phòng ban khu vực nói hai thứ tiếng. Số người nhập cư gia tăng, đặc biệt từ đầu những năm 2000, đã dẫn đến phương tiện truyền thông đại chúng tìm kiếm các công thức mới thông qua đó để phản ánh hiện thực xã hội mới lên  đài phát thành truyền hình và nhằm tạo điều kiện cho hội nhập.
 
Truyền hình Catalan do nhà nước tài trợ là đài phát thành truyền hình đầu tiên của Tây Ban Nha thành lập Ban Đa dạng. Mục đích chính của ban này bao gồm phụ đề đa ngôn ngữ trên các chương trình biểu tượng, sự thích nghi của ngôn ngữ phát thanh truyền hình, tin tức về đời sống thường nhật của các công dân mới trên các kênh Catalan và các chương trình phát thanh truyền hình đặc biệt hấp dẫn với công dân mới.
Từ đầu những năm 1990, truyền hình phát thanh khu vực và quốc gia do nhà nước tài trợ cùng tồn tại với truyền hình tư nhân. Sự gia tăng của các kênh truyền hình nhà nước và tư nhân, ở cấp quốc gia và khu vực, và gần đây là cấp địa phương, đã làm tăng sự cạnh tranh khốc liệt đối với doanh thu quảng cáo sẵn có. Các khoản thâm hụt khổng lồ tích lũy bởi chính phủ và cộng đồng tự trị - kiểm soát phát sóng, cùng với sự suy thoái nội dung văn hóa, đã dấy lên một cuộc tranh luận tiếp diễn về phương thức truyền hình nhà nước được cấp vốn và về việc cổ phần hóa công tác quản lý.
Năm 2011, chính quyền của đảng Nhân Dân đã ban hành một loạt các biện pháp nhằm mục đích đạt được hiểu quả lớn hơn và tiết kiệm chi phí cho cơ quan này. Những biện pháp này bao gồm giảm số lượng thành viên của Ban Quản trị, cũng như chế độ tiền lương. Từ quan điểm nội dung, phương tiện truyền thông đại chúng, được sở hữu và vận hành bởi chính phủ, được coi là dịch vụ công cộng có nghĩa vụ tôn trọng “đa dạng chính trị, tôn giáo, xã hội, văn hóa và ngôn ngữ của Tây Ban Nha".
Tháng 4 năm 2009, RTVE phát hành Kênh văn hóa để phổ biến văn hóa Tây Ban Nha ở Tây Ban Nha và trên thế giới. Cắt giảm ngân sách dẫn tới việc mất kênh văn hóa, mặc dù nội dung của nó được tích hợp vào chương trình của RTVE kênh thứ 2, hiện nay, kênh này trở thành kênh văn hóa.
 
2.7. Đối thoại trao đổi văn hóa: Những người tham gia thực hiện, các chiến lược và các chương trình
Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, đã xúc tiến đối thoại trao đổi văn hóa và bảo vệ đa dạng ở nhiều diễn đàn quốc tế. Tháng 4 năm 2006, Bộ Văn hóa đã tổ chức cuộc họp “Châu Âu đối thoại giữa các nền văn hóa”, cùng các đại diện của 30 nước, với mục đích làm cho đối thoại trao đổi văn hóa trở thành quá trình lâu dài ở Châu Âu và là yếu tố đại diện tất cả các cấp hành động của Liên minh Châu Âu. Cuộc họp này theo tinh thần của liên minh các nền văn hóa được kết luận bằng Tuyên bố của chủ tịch hội đồng, trình bày các điểm thao chiếu cần ghi nhớ trong quá trình lâu dài của đối thoại trao đổi văn hóa, cần phải có sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội dân sự và tập trung linh hoạt để có thể đáp ứng các nhu cầu của các thành phố đang ngày càng trở nên không đồng nhất. Tây Ban Nha dẫn đầu quá trình này với kế hoạch quốc gia I về liên minh các nền văn hóa được phê duyệt vào tháng 1 năm 2008.
Từ kinh nghiệm của đề án này, kế hoạch quốc gia II về liên minh các nền văn hóa giai đoạn 2010-2014 tiếp tục nhiệm vụ theo hướng phát triển các dự án và hành động nhằm mục đích ủng hộ hiểu biết lẫn nhau và tôn trọng đa dạng văn hóa, phát huy hiểu biết và tiếp cận các giá trị công dân và của nền văn hóa hòa bình.
Các mục tiêu của kế hoạch II được thực hiện ở các lĩnh vực ưu tiên dưới đây: giáo dục, tuổi trẻ, di cư và phương tiện truyền thông đại chúng. Ngoài ra, kế hoạch thúc đẩy dự án và các hành động theo định hướng bình đẳng toàn diện giữa phụ nữ và nam giới.
Trong các điều khoản văn hóa, kế hoạch tìm cách tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa khác nhau, tái khẳng định mô hình tôn trọng lẫn nhau và công nhận lẫn nhau giữa các nền văn hóa, và tạo điều kiện lôi kéo sự tham gia của các ngành công nghiệp văn hóa trong việc đạt được các mục tiêu của liên minh các nền văn hóa.
Cam kết của chính phủ đối với các nguyên tắc của liên minh được phản ánh trong thỏa thuận đào tạo và trường đại học, các dự án bảo tồn di sản văn hóa, xúc tiến đối thoại trao đổi văn hóa, và các quan hệ đối tác với các các tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy đa dạng văn hóa.
Với mục đích chuẩn bị Năm Châu Âu của đối thoại trao đổi văn hóa (ICD) 2008, vào tháng 3 năm 2007 chính quyền trung ương đã phê duyệt thành lập Ủy Ban quốc gia về việc xúc tiến đối thoại trao đổi văn hóa (Nghị định hoàng gia 367/2007). Cuối tháng 1 năm 2008, Ủy ban Quốc gia về xúc tiến đối thoại trao đổi văn hóa đã thông qua chương trình các hoạt động kỷ niệm trong năm Châu Âu 2008 của ICD). Nhiều hoạt động diễn ra trong nước bao gồm: “Dự án đối thoại – nghiên cứu lịch sử và xuất bản sách ở Châu Âu” hợp tác với quỹ tài trợ ba nền văn hóa; liên hoan “những người sáng tạo” hợp tác với Tổ chức phụ nữ; “liên hoan quốc tế về sự đa dạng và đối thoại trao đổi văn hóa” phối hợp với quỹ Interarts; …
Ở cấp địa phương, Barcelona (Catalonia) tổ chức diễn đàn toàn cầu về các nền văn hóa năm 2004. Sự kiện quốc tế rộng lớn này, được phối hợp tổ chức bởi Hội đồng thành phố Barcelona, chính quyền tự trị của Catalonia và chính quyền Tây Ban Nha, được cơ cấu xung quanh 3 chủ đề trọng tâm được UNESCO phê duyệt: đa dạng văn hóa, phát triển bền vững và các điều kiện vì hòa bình. Để đáp ứng các mục tiêu này, diễn đàn kéo dài hơn 141 ngày, một loạt các sự kiện lớn được trình bày để minh họa các chủ đề của diễn đàn: các cuộc đối thoại, triển lãm, các vở kịch, âm nhạc, khiêu vũ, pocket opera, múa rối, trò múa hát vui trong các quán rượu, diễu hành đường phố, rạp xiếc và phim truyện.
Trong lĩnh vực tư nhân phi lợi nhuận, Liên minh các hiệp hội văn hóa Tây Ban Nha về đa dạng văn hóa được thành lập năm 2004. Hiệp hội này được thành lập với mục đích bảo vệ và xúc tiến đa dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các nền văn hóa và các nền văn minh, củng cố quan hệ hợp tác và đoàn kết quốc tế, và khyến khích thể hiện đa dạng văn hóa và chú trọng đến giá trị ở cấp quốc gia và toàn cầu. Trong số các thành viên sáng lập, có tổ chức các tác giả, nhà biên soạn và xuất bản Tây ban Nha (SGAE), liên đoàn các hiệp hội của các nhà sản xuất nghe nhìn Tây Ban Nha và liên đoàn các nghệ sỹ ở Tây Ban Nha (FAEE). Để đạt được các mục tiêu này, hiệp hội thực hiện các hoạt động dưới đây:
•           Hỗ trợ thành lập hay củng cố sản xuất văn hóa trên toàn lãnh thổ Tây Ban Nha;
•           Xúc tiến sự xuất hiện của các thị trường trong nước và khu vực đối với các sản phẩm và dịch vụ văn hóa;
•           Hỗ trợ hàng hóa và dịch vụ Tây Ban Nha để có thể tiếp cận vào các mạch phân phối;
•           Ủng hộ tự do lưu thông và những người sáng tạo;
•           Quy định các ưu đãi cho các liên minh công và tư trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa;
•           Xúc tiến các chính sách văn hóa để thu hút sự chú ý của công chúng về đa dạng các nền văn hóa;
•           Xúc tiến chuyển giao công nghệ và trao đổi kinh nghiệm;
•           Bảo đảm tôn trọng đa dạng văn hóa;
•           Tổ chức các hoạt động đào tạo, cả trong nước và nước ngoài, để đẩy mạnh các ngành công nghiệp văn hóa; và
•           Hỗ trợ đề xuất của UNESCO cho công ước quốc tế về bảo vệ và xúc tiến đa dạng thể hiện văn hóa.
2.8. Gắn kết xã hội và các chính sách văn hóa
Xem xét văn hóa như một công cụ gắn kết xã hội, là một trong những mục tiêu trọng tâm của chính phủ xã hội chủ nghĩa và cũng là của chính phủ hiện hành dẫn đầu bởi đảng Nhân dân.
Năm 2012, Tổng thư ký về văn hóa đã thành lập quy hoạch chiến lược tổng thể 2012-2015 và chính sách nhà nước để đảm bảo quyền tiếp cận với văn hóa và củng cố quyền công dân và gắn kết xã hội như một trong 5 mục tiêu trong 4 năm tiếp theo.
Về sau này, quy hoạch chiến lược tổng thể 2012-2015 của Tổng thư ký về văn hóa bao gồm việc thành lập chính sách nhà nước để đảm bảo quyền tiếp cận với văn hóa và củng cố quyền công dân và gắn kết xã hội như một trong 5 mục tiêu trong 4 năm tiếp theo. Mặc dù các dự án công cộng được phát động trong khu vực này nhưng cho đến nay chủ yếu được giải quyết ở các nhóm dân tộc thiểu số văn hóa, chính quyền mới trong chiến lược hợp tác và hợp tác văn hóa với các đối tượng tham gia thực hiện công và tư, đặc biệt đối với các cộng đồng tự trị, tìm cách tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển văn hóa xuất sắc đóng góp cho công cuộc gắn kết lãnh thổ và xã hội.
Do gần gũi hơn với người dân, nên các chính quyền địa phương vận hành hầu hết các chương trình nhằm mục đích thúc đẩy hòa nhập xã hội của các nhóm nhập cư: nâng cao công tác tiếp cận với các thư viện hoặc các trung tâm dân sự; tổ chức các thế vận hội, hội thảo văn hóa, vv…hoặc tham gia nghệ thuật truyền thống và dân gian.
2.9. Bình đẳng giới và các chính sách văn hóa
Vấn đề bình đẳng giới rõ ràng là thách thức chính đối với xã hội Tây Ban Nha, được giải quyết trong luật 3/2007 về công tác bình đẳng hiệu quả giữa nam và nữ. Thiết lập các đề xuất đặc biệt đối với công tác hoạch định chính sách văn hóa trong việc nhận biết nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền đối với công tác thực hiện quyền tạo sự bình đẳng và các cơ hội đối với phụ nữ và nam giới trong toàn bộ khía cạnh có liên quan đến sáng tạo nghệ thuật. Luật cũng cung cấp đầy đủ công tác thực hiện các chính sách chủ động, chuyển dịch thành các ưu đãi kinh tế, và xúc tiến tham gia cân bằng giữa phụ nữ và nam giới trong việc mang đến cho công chúng văn hóa và nghệ thuật.
Tổ chức Phụ nữ được thành lập trong khoảng thời gian năm 2010 và 2011, một dòng ngân sách mới cụ thể nhằm mục đích xúc tiến cơ hội bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật.
Chính phủ đã tìm cách mang đến cho người dân cơ hội tiếp cận công bằng tới nền văn hóa và thiết lập các hành động tích cực để nâng cao nhận thức công chúng, làm cho hình ảnh phụ nữ có vai trò rõ nét hơn và sửa chữa những hiện tượng bất bình đẳng trong sản xuất và sáng tạo nghệ thuật của phụ nữ.
Gần đây, Viện Nghệ thuật điện ảnh và nghe nhìn đã đưa ra các biện pháp phân biệt đối xử tích cực đối với các sản phẩm của phụ nữ tạo ra. Do đó, các dự án có tác giả hay giám đốc là phụ nữ thì sẽ nhận được nhiều điểm hơn trong quá trình đánh giá.
Năm 2007, Bộ Văn hóa đã thành lập Cổng thông tin Phụ nữ về văn hóa, bao gồm các nguồn lực liên quan đến các hoạt động, xuất bản, các khoản viện trợ không hoàn lại, các giải thưởng, học bổng, vv. do phụ nữ đứng đầu. Trong năm 2012,  Bộ Y tế, Dịch vụ xã hội và Bình đẳng đã đưa ra phiên bản thứ 8 của đại hội "Ellas Crean" (Những người sáng tạo). Với sự xuất hiện của đại hội liên hoan này, tiềm năng sáng tạo của phụ nữ trở nên rõ nét hơn, số lượng người tham gia sáng tác và công chúng ngày càng tăng lên hàng năm.
Đại hội liên hoan đã vượt qua biên giới Tây Ban Nha thông qua Viện Cervantes, phát triển các hoạt động ra 30 thành phố của 5 châu lục. Tháng 3 năm 2010, Bộ Văn hóa đã đưa ra sáng kiến trong lĩnh vực văn hóa và gia đình. Tháng 10 năm 2011, Granada (Andalusia) Đại hội phụ nữ Gypsy quốc tế đầu tiên được tổ chức bởi Viện văn hóa Roma, một quỹ tài trợ công trực thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, và Hội đồng Châu Âu.
Theo niên giám thống kê Văn hóa, năm 2012, 41.2% số người làm việc trong lĩnh vực văn hóa ở Tây Ban Nha là phụ nữ. Trong hoạt động kinh tế, phụ nữ chiếm ưu thế  trong các thư viện, lưu trữ, viện bảo tàng và các tổ chức văn hóa khác (chiếm 56.8% trong tổng số). Đây là một xu hướng lâu dài, là kết quả tham gia của phụ nữ trong công tác đào tạo nghệ thuật và đào tạo cụ thể về quản lý văn hóa. Các rào cản giới tính đối với việc tham gia văn hóa dường như không xuất hiện với cường độ tương tự trong các lĩnh vực khác.
2.10. Các công nghệ mới và số hóa nghệ thuật và văn hóa
Để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế Tây Ban Nha, Chính phủ xã hội chủ nghĩa đã thực hiện chương trình cải cách quốc gia 2011 như một phần của chiến lược tăng trưởng mới của Liên Minh Châu Âu cho tầm nhìn 2020.
Nội dung chương trình cải cách của chính phủ năm 2011 bao gồm việc xúc tiến Chiến lược 2011-2015 của kế hoạch Avanza 2, được thông qua tháng 7 năm 2010. Kế hoạch Avanza 2 tìm cách đưa Tây Ban Nha vào vị trí lãnh đạo trong việc phát triển và sử dụng sản phẩm và dịch vụ công nghệ tiên tiến. Luật mới sẽ nhằm tăng cường phối hợp giữa các cấp khác nhau của chính phủ, khuyến khích sử dụng linh hoạt và hiệu quả hơn hình ảnh radio và nâng cao việc bảo vệ người sử dụng.
Theo cuộc Khảo sát về Thiết bị và sử dụng thông tin và các công nghệ Thông tin liên lạc trong các hộ gia đình có 2012, 67.9% các hộ gia đình Tây Ban Nha sử dụng Internet, so với 63.9% năm 2011. 10.5 triệu hộ gia đình đã sử dụng internet, chứng tỏ tăng hơn 600 000 hộ trong 1 năm. Kết nối Internet băng thông rộng có sẵn trong 66.7% hộ gia đình (gần 10.4 triệu hộ gia đình), tăng gần 700.000 hộ so với năm trước. Madrid (78.0%) và Đảo Balearic (73.9%) có phần trăm các hộ gia đình sử dụng internet cao nhất. Những người sử dụng thường xuyên (những người kết nối mạng hàng ngày hoặc ít nhất một lần 1 tuần) chiếm gần 65% bộ phận dân số, có nghĩa là tốc độ gia tăng từ năm nọ qua năm kia là 4.9%. Ngoài ra, vẫn tồn tại một số thách thức cần giải quyết:
•           Đạt được phát triển cân bằng địa lý tốt hơn  bằng việc sử dụng các kế hoạch cụ thể, phù hợp với các kế hoạch  Hội đồng Châu Âu thông qua ở Lisbon vào tháng 3 năm 2000;
•           Tăng cấp độ nội dung văn hóa trong các ứng dụng mới, cần có hỗ trợ chiến lược bổ sung; và
•           Nâng cao sự phối hợp giữa các chiến lược quốc gia.
Gần đây, Chính phủ đã cho ra một phiên bản mới của Cổng thông tin Filmotech.com, như một mô hình mới để thương mại hóa các sản phẩm văn hóa. Với sáng kiến này, chính phủ tìm cách tận dụng tối đa lợi ích của các thực tế kỹ thuật số trong việc tạo ra các mô hình kinh tế xã hội mới và phổ biến các sản phẩm văn hóa.
            Các sáng kiến quan trọng cho các nghệ sỹ làm việc với các công nghệ mới:
•           Canarias Mediafest là một liên hoan nghệ thuật và văn hóa kỹ thuật số quốc tế về video, phim hoạt hình, phim tài tiệu nghệ thuật, truyền thông đa phương tiện, âm nhạc và nhiếp ảnh. Ý tưởng đằng sau liên hoan này là để làm nổi bật mối quan hệ giữa sáng tạo nghệ thuật và các công nghệ mới. Vừa là đơn vị tiên phong và là đơn vị thiết lập xu hướng của loại hình sự kiện này ở Tây Ban Nha, Canarias Mediafest được thành lập năm 1988 và được tổ chức 2 năm một lần;
•           ArtFutura, Liên hoan văn hóa và sáng tạo văn hóa được thành lập năm 1990. Liên hoan này trở thành điểm tham khảo ở Tây Ban Nha về nghệ thuật, công nghệ, và văn hóa kỹ thuật số, và cung cấp chương trình mở rộng các hoạt động trong các viện bảo tàng và các trung tâm văn hóa cho hơn 12 thành phố Tây Ban Nha. Mỗi năm, ArtFutura trình bày các dự án quốc tế nổi bật và đổi mới của 12 tháng trước đó về nghệ thuật kỹ thuật số, thiết kế tương tác, phim hoạt hình vi tính và video game;
•           OFFF xuất hiện ở Barcelona năm 2001 như một liên hoan văn hóa kỹ thuật số, và ngày nay kết hợp nghệ thuật, thiết kế và công nghệ thông qua các hoạt động khác nhau ví dụ như các cuộc hội thảo, hội nghị và triển lãm;
•           Trung Tâm nghệ thuật Santa Monica, Trực thuộc Sở văn hóa của chính phủ Catalan, là một không gian hội tụ và trao đổi các nguyên tắc khác nhau của khoa học và sáng tạo nghệ thuật đương đại, tư tưởng và thông tin liên lạc. Làm việc có phối hợp với các trường đại học và các học viện, và các trung tâm sản xuất và trình bày nghệ thuật, Trung tâm nghệ thuật Santa Monica tạo ra các ý tưởng, dự án, nghiên cứu và các tư liệu khuyến khích đối thoại giữa quy mô địa phương và toàn cầu của tổ chức ngày nay  và
•           Kêu gọi tài trợ từ Bộ Giáo dục, Văn hóa, và Thể thao, nhằm mục đích nhận thức rõ các sản phẩm nghe nhìn có sử dụng công nghệ mới và phổ biến các phương  tiện khác hơn là các rạp chiếu phim, truyền hình hoặc video gia đình, ví dụ như thông qua Internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị mới như sách điện tử.
•           Thành lập Trung tâm Hangar (trung tâm sản xuất và nghiên cứu nghệ thuật), được thành lập bởi Hiệp Hội Nghệ thuật thị giác Catalonia (AAVC) năm 1997. Trung tâm này hỗ trợ trang thiết bị cho nghệ sỹ và những nhà thiết kế và cung cấp các dịch vụ phù hợp với các nhu cầu sản xuất kết nối với thế giới nghệ thuật.
•           Trung Tâm Sáng tạo công nghiệp và Nghệ thuật, khai trương năm 2007 ở Gijón (Asturias) như một trung tâm triển lãm nghệ thuật, khoa học, công nghệ và các ngành công nghiệp thị giác tiên tiến. Tuy nhiên, trung tâm này cũng là một địa điểm sản xuất công nghệ và nghệ thuật, điều tra nghiên cứu và đào tạo; và phổ biến các loại hình mới của sáng tạo nghệ thuật và công nghiệp.
V. Các quy định pháp luật trong lĩnh vực văn hóa
1. Hiến pháp
Văn hóa được đề cập trong Hiến pháp năm 1978 được coi như một trong những lĩnh vực hành động chính của chính phủ.
Hiến pháp quy định rằng văn hóa là quyền của mọi công dân và là một phần của các nguyên tắc chủ đạo của chính sách kinh tế xã hội. Hiến pháp giao nhiệm vụ cho các cơ quan có thẩm quyền nhà nước các nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực văn hóa. Ngoài ra, Hiến pháp cũng đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa (Điều 9 và 44), dân chủ văn hóa, tự do sáng tạo và thể hiện (Điều 20), và bảo vệ di sản lịch sử, văn hóa và nghệ thuật (Điều 46).
Đa nguyên văn hóa và ngôn ngữ được bảo vệ rõ ràng trong Hiến pháp, cả ở phần mở đầu và trong các điều khoản (Điều 3.2).
2. Phân chia quyền hạn
Hiến pháp 1978 đã thông qua mô hình phân cấp quản lý nhà nước nhưng không phải ở cấp khu vực hay liên bang mà hỗn hợp cả hai. Hiến pháp phác thảo “nhà nước của các chính quyền tự trị”, và thành lập 17 cộng đồng tự trị (cộng thêm hai thành phố có vai trò tự trị (Ceuta and Melilla)) như các thực thể chính trị lãnh thổ trung gian trong đó hiến pháp trao quyền lực lớn cho chính phủ tự trị.
Văn hóa được mô tả là một nhân tố quyết định chính có tầm quan trọng trong việc cơ cấu phân chia lãnh thổ của nhà nước. Các cộng đồng tự trị được xác định là các tỉnh kế cận chia sẻ “các đặc điểm kinh tế, văn hóa và lịch sử chung” (Điều 143). Theo định nghĩa này, văn hóa tạo nên các hạt nhân quyền lực của các chính quyền tự trị. Tuy nhiên, nhà nước “sẽ xem xét xúc tiến văn hóa như một nhiệm vụ và chức năng thiết yếu và tạo điều kiện thông tin văn hóa giữa các cộng đồng tự trị, hợp tác với họ”. (Điều 149.2). Chính quyền địa phương được coi là thực thể lãnh thổ được chi phối bởi nguyên tắc các mục tiêu chung (điều 137).
Phân bổ vai trò và trách nhiệm đối với văn hóa giữa các cơ quan nhà nước giữa địa bàn khác nhau dựa trên nguyên tắc đơn lẻ, có nghĩa là nó bao gồm các nguyên tắc khác nhau sẽ thay đổi tùy thuộc vào nguyên tắc thể chế được áp dụng đối với từng khu vực đó.
Tòa án hiến pháp đã chỉ rất rõ trong một phán quyết (STC 49) năm 1984:"...bất kỳ sự xem xét văn hóa nào cũng dẫn chúng ta đến kết luận rằng nó thuộc năng lực của cả chính quyền trung ương và khu vực và có thể ở các cấp khác; bất kỳ nơi nào có một cộng đồng tồn tại, nó có một nền văn hóa mà cơ quan đại diện công có thể thực thi quyền hạn của họ đối với các vấn đề quản lý kỹ thuật thuần túy để thiết lập phạm vi mở rộng thúc đẩy văn hóa”.
Nghị định Hoàng gia (1151/2011) được phê duyệt tháng 7 năm 2011, Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể chịu trách nhiệm cho các hoạt động đấu bò, trước kia thuộc trách nhiệm của Bộ Nội vụ.
3. Phân bổ các ngân sách công
Không có luật phân bổ các ngân sách công cho văn hóa. Đây là một vấn đề được quyết định bởi Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao hiện nay. Nghị định hoàng gia 257/2012 thiết lập Tiểu ban thư ký Giáo dục, Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm sản xuất, và xử lý báo cáo phác thảo thường niên của ngân sách từ Sở, xác định cơ cấu của các chương trình và tiểu chương trình nêu cụ thể các hoạt động của Sở, phối hợp chuẩn bị các ngân sách của các tổ chức công cộng và thống nhất với ngân sách của Sở, phân tích và xử lý các thay đổi và giám sát ngân sách.
Luật 6/1997 quy định Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm về việc phân bổ hiệu quả và sử dụng các nguồn lực công và kiểm soát quản lý và các kết quả.
4. Các khuôn khổ an sinh xã hội
Ban đầu, các nghệ sỹ và những người lao động sáng tạo đã được phân loại theo một phạm trù đặc biệt vì các mục đích an sinh xã hội (Nghị định 2133/1975). Mười năm sau, thông qua Nghị định 26/1985, họ đã giành các quyền và nghĩa vụ tương tự như tất cả các lao động khác. Các nghệ sỹ biểu diễn và những người đấu bò được phân nhóm cùng nhau với một tiêu đề đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội tổng thể.
Một Nghị định Hoàng gia khác (2621/1986) đã lập các điều khoản cụ thể cho việc lấy trung bình thu nhập về các biến động đáng kể hàng tháng trong thu nhập của nghệ sỹ cũng như điều khoản về khả năng về hưu sớm đối với các nghệ sỹ biểu diễn để nỗ lực bồi thường cho họ khi họ đến tuổi mà không thể biểu diễn.
Toàn bộ các điều khoản riêng này nằm trong Luật 40/2007 quy định rằng trong một năm chính phủ sẽ cập nhật các điều khoản quản lý mối quan hệ việc làm đặc biệt của các nghệ sỹ trong các chương trình biểu diễn công cộng. Ngoài ra, sẽ sửa đổi hệ thống an sinh xã hội đối với những nghệ sỹ này, để tạo điều kiện cho các kế hoạch đóng góp có thể hạn chế thất bại ít nhất và để cho các quy định này thích nghi với các loại hình mới về cung cấp dịch vụ.
Chiến lược cho các tác giả thì khác do họ được coi là lực lượng lao động tự do (Nghị định Hoàng gia 2621/1986).  Một lần nữa, các nỗ lực được thực hiện để thành lập cơ chế bảo hiểm hợp lí cho người khuyết tật và kế hoạch về hưu, xem xét các biến động trong thu nhập hàng năm của nhóm này. Chế độ lao động tự do (Luật 20/2007) chỉ ra rằng các đơn vị hành chính công có năng lực có thể ký các thỏa thuận với an sinh xã hội để giảm đóng góp của các cá nhân là những người lao động tự do trong các lĩnh vực thủ công hoặc nghệ thuật .
5. Luật thuế
Phần luật này thiết lập khoản miễn giảm chi tiết đối với thuế địa phương và thuế quốc gia bao gồm các tỉ lệ, thuế địa phương đánh vào các thương vụ, và thuế thành phố đánh vào các thu nhập từ việc bán bất động sản đô thị (Đoạn này đề cập đến các tổ chức phi chính phủ). Các cá nhân và các công ty có thể xin miễn thuế thu nhập về số tiền ủng hộ cho các tổ chức nhất định ví dụ như các tổ chức đề cập ở trên (Đoạn này đề cập đến các cá nhân và công ty đầu tư và quyên góp cho các tổ chức phi chính phủ). Các tổ chức văn hóa khu vực, các trường đại học công, cao đẳng, viện Cervantes, viện Ramon Llull và các cơ quan khác được thành lập để xúc tiến các ngôn ngữ khu vực có các khoản miễn giảm thuế tương tự và có thể hưởng lợi từ các khoản hiến tặng.
Trong lĩnh vực văn hóa, Luật điện ảnh (Luật 55/2007) quy định miễn thuế tạm thời 18% đối với lĩnh vực sản xuất phim. Sự thành công của biện pháp này, cùng với cải tiến lĩnh vực công nghiệp, đã hướng chính phủ tới việc mở rộng nó sau tháng 12 năm 2011.
Luật di sản lịch sử (Luật 16/1985) thiết lập một số loại hình miễn giảm thuế đối với việc nhập khẩu tạm thời những sản phẩm văn hóa nhất định, đặc biệt là các tài sản có thể di chuyển.
Do cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, tháng 7 năm 2012, Tây Ban Nha đã thiết lập một loạt các biện pháp đảm bảo sự ổn định ngân sách và xúc tiến cạnh tranh (Luật hoàng gia 20/2012 sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng 37/1992).
Một trong số các biện pháp là việc gia tăng “nói chung” và “giảm” tỉ lệ thuế VAT, từ 18% và 8% đến 21% và 10% tương ứng. Do đó, hàng hóa văn hóa ví dụ như đĩa nhạc CD và phim DVD thu thuế chung 21%, trong khi vé tới thư viện, kho lưu trữ, trung tâm dữ liệu và viện bảo tàng, phòng trưng bày nghệ thuật tiếp tục bị đánh thuế ở tỉ lệ “giảm” (10%). Viêc tăng các tỷ lệ này đã đi kèm với các biện pháp bổ sung, qua đó một số sản phẩm và dịch vụ văn hóa nhất định phải chi trả mức thế khác. Ví dụ như trường hợp mua vé vào các nhà hát, rạp xiếc và các triển lãm khác, các dịch vụ được tạo ra bởi cá nhân các nghệ sỹ, các dịch vụ truyền hình kỹ thuật số và mua lại các tác phẩm nghệ thuật hiện nay trả tỉ lệ thuế VAT là 21% (trước đây là 8%). Hàng hóa ví dụ như sách, báo và tạp chí tiếp tục thanh toán mức tỉ lệ “siêu giảm” là 4%, trong khi các dịch vụ của các nhà văn, biên soạn hoặc các nghệ sỹ thị giác, được liên kết với quyền tác giả, tiếp tục được miễn thuế VAT. Toàn bộ biện pháp này cản trở việc tiêu thụ văn hóa đã được sản xuất cùng với sự phản đối mạnh mẽ từ lĩnh vực văn hóa đã bị ảnh hưởng mạnh do việc cắt giảm ngân sách công.
Những cải cách này không ảnh hưởng đến các nghệ sỹ, những người sẽ tiếp tục hưởng lợi từ việc miễn thuế đối với các giải thưởng khoa học hoặc văn học quan trọng (Điều 7.1 của Luật thuế thu nhập 35/2006 và điều 3 của Nghị định 439/2007 phê duyệt các quy định thuế thu nhập).
6. Các điều khoản về quyền tác giả
Các quy tắc quản lý sở hữu trí tuệ ở Tây Ban Nha trong nhiều năm đã dựa trên Luật 1879, và luật học nó tạo ra hơn 100 năm sau. Năm 1987, nó đã được thay thế bởi một luật mới 22/1987, được thiết kế để cập nhật luật bản quyền, cải thiện các quyền  kiểm soát và bịt các kẽ hở của điều luật thế kỷ 19, đặc biệt những khó khăn phát sinh từ việc thiếu tham chiếu tới các quyền sở hữu tài sản đang diễn ra của một tác giả đối với tác phẩm gốc. Mười năm sau, Nghị định lập pháp đã trải qua nhiều sửa đổi để phù hợp với luật Liên minh Châu Âu.
Nghị định 1996 đã tập hợp toàn bộ quy định hiện hành về sở hữu trí tuệ, gắn liền với các tác phẩm nghệ thuật và khoa học và bao gồm các quyền kinh tế của các tác giả, quyền nhân thân của tác giả và tác phẩm gốc. Tình hình kinh tế xã hội mới và đặc biệt là thách thức trong việc bảo vệ hiệu quả hơn những người sáng tạo, cho phép phổ biến hòa bình những sáng tạo của mình bằng các ngành công nghiệp văn hóa, và đảm bảo toàn xã hội có thể tiếp cận dịch vụ văn hóa đa nguyên, dẫn đến việc phê duyệt Luật 23/2006, luật này sửa đổi văn bản của Luật Sở hữu trí tuệ 1996.
Trong số các mục tiêu của Luật 23/2006 có cả việc đơn giản hóa và làm rõ nghĩa vụ của người phải thi hành để sử dụng các sáng tác; nâng cao sự minh bạch trong việc quản lý các quyền này; giới thiệu các cơ chế linh hoạt trong việc giải quyết các mâu thuẫn; và xác định lại vai trò của nhiều cấp bậc của chính phủ cùng với năng lực trong lĩnh vực này.
Sự khó chịu của các nghệ sỹ, tác giả và các nhà xuất bản ngày càng tăng khi các tỉ lệ vi phạm bản quyền Internet cao dẫn đến việc chính phủ, sau cuộc thảo luận chính trị và xã hội mở rộng, đã thông qua Luật 2/2011 về kinh tế bền vững. Điều khoản cuối cùng thứ 43 của Luật thiết lập sửa đổi Luật về các dịch vụ xã hội thông tin và luật sở hữu trí tuệ.
Thứ nhất, bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ trở thành nguyên tắc bào chữa cho việc thu hồi nội dung bất hợp pháp của một số dịch vụ nhất định cung cấp bởi các trang web. Thứ 2 liên quan đến Ủy Ban sở hữu trí tuệ, trực thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, như một cơ quan có chức năng trung gian, trọng tài và bảo vệ sở hữu trí tuệ. Trong số các biện pháp đã được thông qua bởi Hội đồng bộ trưởng là việc thành lập quy trình kết hợp, hành chính và pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên Internet (xem chương 4.2.3).
Tháng 7 năm 2011, Nghị định Hoàng gia 1889/2011 quy định chức năng của Ủy ban sở hữu trí tuệ được phê duyệt, và tháng 3 năm 2012, Ủy Ban đi vào hoạt động. Nhìn chung, văn bản nâng cao đã được đàm phán, giải pháp tự nguyện và ngoại tụng đối với các xung đột cũng như các quyền cho cả người sáng tạo và công dân có nguồn cung cấp hợp pháp, đa dạng và có khả năng thanh toán các sản phẩm văn hóa. Hiện nay, chính quyền đang tiếp tục làm việc về cải cách từng phần của Luật sở hữu trí tuệ được hướng dẫn theo 3 nguyên tắc cơ bản: thứ nhất, theo định hướng kỹ thuật số và thứ hai, phát triển khuôn khổ bảo vệ pháp lý của các quyền sở hữu trí tuệ cũng như hỗ trợ tài năng và tự do sáng tạo.
Một vấn đề gây tranh cãi khác của Luật sở hữu trí tuệ cho đến nay là việc thiết lập thanh toán trọn gói về hỗ trợ kỹ thuật số, đầu tiên và tương tự, sau đó, thay mặt cho chủ thể quyền. Phí này dự kiến để bù đắp cho các tác giả sao chép cá nhân tác phẩm đã bị tiết lộ. Cuộc tranh luận sôi nổi về tiêu chuẩn kỹ thuật số Tây Ban Nha kết thúc, vào tháng 12 năm 2011, nó được bãi bỏ bởi chính phủ (Luật nghị định hoàng gia 20/2011). Một năm sau, chính quyền đã thông qua nghị định Hoàng Gia 1657/2012 quy định quy trình thanh toán đền bù công bằng  cho chủ thể quyền trong việc sao chép cá nhân từ ngân sách nhà nước. Do đó, chính phủ xem xét việc các công dân có thể hưởng lợi từ giới hạn sao chép cá nhân như khoản đền bù cho phần mà các khoản thuế phải thỏa mãn.
Tháng 11 năm 2012, với sự hợp tác của các công ty tư nhân, các hiệp hội công nghiệp và các tổ chức công, Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao đã khai trương Nhạc viện quốc tế về sở hữu trí tuệ để tìm ra các điểm hội tụ trong  vấn đề của các doanh nghiệp  các ngành công nghiệp văn hóa, nội dung và sáng tạo, cũng như tìm kiếm các giải pháp cho các xung đột và phát triển quy định trong nước và quốc tế. Cơ quan này cũng hợp tác trong việc nghiên cứu chung để tìm ra các giải pháp hiệu quả chống lại các cuộc tấn công về sở hữu công nghiệp và trí tuệ.
7. Luật bảo vệ dữ liệu
Bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện được quy định bởi Luật bảo vệ dữ liệu 15/1999, đã được sửa đổi một phần bởi Luật 2/2011 về Kinh tế bền vững. Cơ quan bảo vệ dữ liệu Tây Ban Nha được thành lập năm 1993 để đảm bảo công dân có quyền biết ai có thể tiếp cận dữ liệu cá nhân của họ và vì mục đích gì và cung cấp nền tảng thực hiện các quyền tiếp cận, thay đổi, hủy bỏ và phản đối.
Các cơ quan bảo vệ dữ liệu khu vực cho Madrid, Catalonia và xứ Basque được thành lập năm 1997,2002 và 2003 tương ứng, và hợp tác thể chế hiện nay diễn ra giữa việc đăng ký bảo vệ dữ liệu chung và đăng ký khu vực. Các quy định có liên quan đến bảo vệ dữ liệu có ảnh hưởng rõ rệt đối với phương thức mà các dịch vụ văn hóa (thư viện, viện bảo tàng, nhà hát, vv ) tiếp thị bản thân tới các khách hàng tiềm năng/khán giả thông qua các dữ liệu được yêu cầu cho thành viên hoặc thông tin về các hoạt động, v v v.
8. Luật ngôn ngữ
Những nỗ lực quy định đa ngôn ngữ ở Tây Ban Nha đã tạo ra nhiều quy tắc và quy định trong cấp chính quyền khu vực và đôi khi là chính quyền trung ương. Nền tảng của toàn bộ cơ cấu nằm trong tuyên bố chính thức của hiến pháp 1978 (Điều 3.1) rằng Castilian là ngôn ngữ chính thức của nhà nước nhưng “các ngôn ngữ Tây Ban Nha khác” chia sẻ vị trí chính thức tương tự trong các cộng đồng tương ứng, như đã được đề cập trong các chương (Điều 3.2).
Việc xây dựng luật này được thiết kế dựa trên ý tưởng là sự đa dạng ngôn ngữ của Tây Ban Nha là một biểu hiện của “sự giàu có” và một hạng mục của “di sản văn hóa” như một giá trị  trong tổng thể.
Điều này có nghĩa là Hiến pháp 1978 được thiết kế để tôn trọng và bảo vệ đa dạng toàn bộ hệ thống, không chỉ đơn thuần là các bộ phận cấu thành nó.
Ngôn ngữ trong Hiến pháp 1978 và nhiều chương khu vực đã mở cánh cửa cho luật ngôn ngữ khu vực, bao gồm của xứ Basque (Luật 10/1982), Galicia (Luật  3/1983), Valencia (Luật 1/1983), Catalonia (Luật 1/1998),Navarre (Luật 18/1998), Asturias (Luật 1/1998) và Aragon (Luật 10/2009). Tuy nhiên, việc này không bị cản trở bởi chính quyền trung ương, trong việc thực thi các quyền lực, từ quy định về  vai trò đồng chính thức của các ngôn ngữ khu vực được triển khai ra sao trong các phạm vi thực tế ví dụ như giáo dục và trường học, tiếp cận các dịch vụ công cộng, quản lý hành chính địa phương, tòa án, cơ quan y tế và biển báo đường bộ.
9. Các lĩnh vực khác
Một trong những xu hướng mới nhất trong luật văn hóa có liên quan đến mối quan tâm ngày càng tăng về “bảo vệ văn hóa khỏi tội phạm”. Điều này xuất phát từ Hiến pháp năm 1978, trong đó nêu rằng (điều 46), “những vi phạm đã cam kết chống lại di sản [lịch sử, văn hóa và nghệ thuật] sẽ bị xử phạt theo Luật Hình sự". Luật hình sự của Tây Ban Nha được phê duyệt năm 1995, quy định chống lại các vụ phạm tội đã cam kết đối với di sản văn hóa quốc gia (Điều 321 tới 324) cũng như những vi phạm đối với Luật sở hữu trí tuệ ( Điều 270 đến 272). Nó cũng quy định rằng bất kỳ sự hủy hoại bừa bãi hay nguyên nhân của sự phá hoại tài sản có giá trị văn hóa xã hội đều bị coi là phạm tội (Điều 289).
Gần đây, Luật mới 14/2011 về Khoa học đã công nhận vai trò trung tâm của các tổ chức của Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao hiện hành trong việc phổ biến khoa học. Điều này cho phép họ tham gia vào các dự án nghiên cứu tài trợ bởi ngân sách nhà nước, tìm cách xúc tiến hoạt động khoa học. Luật này cũng đóng vai trò chính cho các cơ sở trong “thông tin khoa học công chúng” .
VI. Các tổ chức công về cơ sở hạ tầng văn hóa
1. Cơ sở hạ tầng văn hóa: các xu hướng và chiến lược
Trong những năm gần đây, hợp đồng thuê ngoài của các dịch vụ công đã mở rộng theo định hướng và quản lý của các tổ chức văn hóa. Do vậy quản lý cả dịch vụ văn hóa mới và dịch vụ văn hóa hiện có từng dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chính phủ nay được chuyển sang các công ty/tập đoàn bên ngoài.
Quá trình  dần chuyển đổi này là xu hướng ngày càng phổ biến về việc trao quyền quản lý công các dịch vụ cho các tổ chức bên ngoài. Quá trình này bắt đầu bằng việc thành lập các nhà thầu công (các quỹ tài trợ hoặc ủy ban văn hóa công, cũng như các công ty công) để thúc đẩy các quá trình quản lý và tạo độ linh hoạt lớn hơn trong việc ký hợp đồng và quản lý thu nhập. Đồng thời, nhiều dịch vụ thứ yếu cùng với mức độ ảnh hưởng văn hóa nhỏ được thuê ngoài (phục vụ, an ninh, vệ sinh và thậm chí tiếp thị sản phẩm hay dịch vụ).
Do các hạn chế đặt lên chi phí nhân viên, lãi suất đạt được từ các dịch vụ cụ thể ở tỉ lệ cạnh tranh, hoặc do sự xói mòn cơ cấu nội bộ liên kết quyền sở hữu công và quản lý công và ngày càng có nhiều dịch vụ hơn trong việc hình thành một phần quản lý hành chính văn hóa được thuê bên ngoài. Trong giai đoạn đầu của quá trình này, các tổ chức văn hóa sở hữu nhà nước ký hợp đồng phụ về các dịch vụ thứ yếu với các tổ chức bên ngoài với mức cao (hầu như toàn bộ các viện bảo tàng và trung tâm triển lãm hiện có các dịch vụ giám sát và giáo dục bên ngoài). Việc này sẽ kéo theo công tác chuyển giao cụ thể toàn bộ nhiệm vụ quản lý. Quá trình này hiện nay được mở rộng tới nhiều trung tâm cộng đồng, trung tâm nghệ thuật thành phố, phòng trưng bày và triển lãm, các địa điểm khảo cổ học, rạp hát và thậm chí viện bảo tàng .
2. Dữ liệu về các tổ chức văn hóa công
Dữ liệu về các tổ chức văn hóa công được lấy trong “Niên giám thống kê văn hóa”  Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao phát hành. Xu hướng chung trong những năm gần đây là có sự gia tăng ở các tổ chức văn hóa công. Mức tăng trưởng lớn nhất là đối với các sản phẩm văn hóa có thể di chuyển, tăng 160.2% trong giai đoạn 2004-2011 (từ 4066 lên đến 10 580). Tiếp theo là các trường múa tăng 84.3% (từ 102 tới 188) và hòa nhạc tăng 81.6% (từ 201 lên đến 365), trong cùng kỳ.
Ở mức thấp hơn, các thư viện có mức tăng nhẹ, 0.3%, giữa năm 2004 và 2010, mặc dù trong những năm trước đó, đã có sự mở rộng nhanh chóng trang thiết bị trong lãnh thổ; nhưng các công ty biên kịch chỉ tăng 2.3% trong giai đoạn 2004-2011 (từ 3544 lên đến 3626) và cuối cùng, các trường âm nhạc công lập, với mức tăng 7.6% (từ 944 tới 1016).
3. Vai trò và các mối quan hệ của các tổ chức văn hóa công
Từ góc nhìn lịch sử, các tổ chức văn hóa hàng đầu của Tây Ban Nha có thể được phân  thành 3 nhóm phụ thuộc vào nguồn gốc: các tổ chức quốc gia, các tổ chức được thiết lập bởi xã hội dân sự và các tổ chức được sát nhập trong giai đoạn phục hồi dân chủ. Các tổ chức quốc gia được kết nối với nhà nước ngay từ đầu. Loại thứ hai thường xuất phát từ nguyện vọng văn hóa của giai cấp tư sản tại các thời điểm lịch sử cụ thể, đặc biệt là ở những thành phố có nền công nghiệp vững mạnh. Cuối cùng, có nhiều sáng kiến được thực hiện trong 20 năm qua ở các cấp chính quyền ví dụ như việc xây dựng một vài không gian văn hóa lớn, phần lớn bên ngoài Madrid.
Các tổ chức quốc gia phụ thuộc hoàn toàn chính quyền trung ương về ngân sách, mặc dù Ban quản trị được phép trì hoãn ra quyết định, phần lớn các tổ chức văn hóa khác trong nước được tài trợ và tự quản lý theo các thỏa thuận giữa các cấp chính quyền khác nhau. Hợp tác liên thể chế giúp phát huy sự gắn kết trong các chiến lược phát triển khu vực và gián tiếp khuyến khích công tác tự quản lý trong công tác vận hành hàng ngày của các tổ chức.
Các trường hợp điển hình về hợp tác giữa các tổ chức văn hóa lớn là các dự án đồng hợp tác. Ngoài các sáng kiến cụ thể, một trong những ưu tiên của Bộ trong điều kiện hiện tại là tăng cường khả năng quản lý và chiến lược của lĩnh vực công cộng trong các tổ chức văn hóa. Cuối cùng, chính phủ lập kế hoạch trao đổi văn hóa và chuyên môn cũng như việc sử dụng cơ sở hạ tầng và các nguồn lực được chia sẻ.
Trong những năm gần đây, có nhiều tổ chức quốc gia và khu vực đã thực hiện thay đổi quy trình bổ nhiệm giám đốc.Với những thay đổi này, Chính phủ hy vọng có thể nâng cao tính khách quan, sự chuyên nghiệp và minh bạch về việc lựa chọn ứng viên. Ở cấp trung ương, kinh nghiệm thí điểm của Viện bảo tàng Prado đã được mở rộng ra các tổ chức khác.
Hiện tại, Chính phủ đang thảo một luật mới về tính tự chủ của Thư viện quốc gia, để trong tương lai gần, thư viện này sẽ có vai trò tương tự như các tổ chức văn hóa lớn khác của nhà nước.
Công tác gây quỹ, được kết nối với quyền tự chủ nhiều hơn của các tổ chức văn hóa, cũng khuyến khích mức độ hợp tác nhiều hơn với giới doanh nghiệp địa phương, và giúp ban quản lý hành chính địa phương học được kinh nghiệm về kỹ thuật quản lý hiện đại và đổi mới. Về vai trò của “ngành thứ 3”, theo truyền thống ở Tây Ban Nha, có sự đồng thuận  rằng việc tham gia của khối thứ ba vào công tác viện trợ ngân sách cho nền văn hóa và các hoạt động văn hóa sẽ ngày càng tăng. Ý tưởng này, đã giành được mối quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế, điều này được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Chính phủ.
Nói tóm lại, ở Tây Ban Nha có nền tảng chung trong việc mở rộng sự đồng thuận của các đơn vị khai thác vận hành nhà nước và tư nhân.
4. Cân đối ngân sách văn hóa công
Khủng hoảng kinh tế, đặc biệt nghiêm trọng ở Tây Ban Nha, dẫn đến việc thông qua một loạt các biện pháp để giảm thâm hụt công. Những biện pháp này bao gồm việc phê duyệt một thỏa thuận về công tác hợp lý hóa các cơ cấu quản lý hành chính trong chính quyền trung ương, cùng với việc giảm bớt số lượng cán bộ cấp cao và tái cơ cấu các công ty nhà nước. Kết quả của cuộc cải cách này chức vụ của Tổng Giám đốc của Thư viện quốc gia được thay chức vụ Phó Tổng Giám đốc. Cuộc khủng hoảng này cũng làm giảm nghiêm trọng các nguồn lực mà nhiều cơ quan quản lý hành chính công đã chuyển vào các tổ chức văn hóa lớn, hầu hết trong số này đều được điều hành bởi một tổ chức liên danh nhà nước. Các khó khăn về ngân sách này đe dọa khả năng đứng vững của các dự án lớn, ví dụ như, Nhà Hát lớn Liceu ở Barcelona. Để đối phó với tình hình này, Bộ đã đề xuất các tổ chức văn hóa có trách nhiệm phối hợp, cho phép có thể chia sẻ lưu thông nội dung và phân chia nỗ lực trong các dự án.
Một chiến lược khác để hạn chế chi phí công cho văn hóa là việc thành lập Trung tâm Tuyên truyền Âm nhạc Quốc gia (CNDM), được ra mắt tháng 7 năm 2010. CNDM chịu trách nhiệm lập kế hoạch và quản lý phòng hòa nhạc quốc gia, trung tâm tuyên truyền âm nhạc đương đại và trung tâm Nghệ thuật biểu diễn và Âm nhạc lịch sử của Leon (Castile-Leon), cùng với các tổ chức nhà nước và tư nhân. Việc này đòi hỏi phải hợp lý hóa chính sách của INAEM trong các lĩnh vực xúc tiến và phổ biến âm nhạc, tích hợp các nguồn nhân lực của từng trung tâm trong tổ chức CNDM mới, và hợp nhất các nguồn ngân sách nghệ thuật hiện tại được phân bổ cho từng trung tâm.
Việc thực hiện những cải cách này, cùng với việc giảm ngân sách được phân bổ cho văn hóa năm 2011 và chấm dứt các sáng kiến pháp lý cụ thể, trong các lĩnh vực cụ thể như âm nhạc, nhà hát, kho lưu trữ hoặc di sản, khiến cho Đảng Nhân dân (đảng đối lập chính) cần phải thay đổi văn hóa trong chính sách của chính phủ. Nhằm mục đích tạo điều kiện ưu tiên cho văn hóa trong hành động của chính phủ, tháng 5 năm 2010, Đảng Nhân dân đã trình bày một đề xuất làm nền tảng cho mô hình mới trong chính sách văn hóa. Các tuyến hành động đã được thiết lập gọi là Thông báo của Cartagena. Các cuộc bầu cử tháng 11 năm 2011 đã khiến Đảng Nhân dân tăng thêm quyền lực và giảm 15% ngân sách văn hóa.
Tháng 11 năm 2010, tình hình kinh tế Tây Ban Nha đã dẫn đến việc phê duyệt Hội thảo khu vực văn hóa của nhóm làm việc về mô hình mới về quản lý trang thiết bị văn hóa.
Kết quả là Bộ đã xây dựng một báo cáo đầu tiên (tháng 3 năm 2011) về việc phản ánh và thảo luận tính bền vững của các chương trình và hợp lý hóa các trang thiết bị văn hóa.
VII. Phát huy sáng tạo và tham gia vào lĩnh vực văn hóa
1. Tổng quan các chiến lược, chương trình và các hình thức hỗ trợ
Nghệ thuật thị giác có truyền thống từng là một trong những đối tượng chính hưởng lợi từ các biện pháp cụ thể để hỗ trợ sáng tạo.
Các nguồn lực có sẵn để trưng bày và mua lại các tác phẩm nghệ thuật thông qua các quỹ sẵn có dành cho các viện bảo tàng công. Chính quyền địa phương và khu vực đã tổ chức các cuộc thi và cấp tiền thưởng, và giữ lại quyền sở hữu đối với các tác phẩm đạt giải. Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, hợp tác với Bộ Ngoại giao và Hợp tác, cũng phát triển nhiều chương trình được thiết kế để phát huy nghệ thuật đương đại Tây Ban Nha và các tác phẩm nghệ thuật của họ trên thế giới . Ví dụ như, hỗ trợ các nghệ sỹ tiềm năng tham gia các sự kiện quốc tế lớn được tổ chức hai năm một lần.
Năm 2012, trong khuôn khổ của Đề án chiến lược tổng thể 2012-2015, Ban thư ký nhà nước mới về văn hóa đã phát động một chương trình về các quỹ tài trợ cho chính quyền địa phương dành cho các hoạt động xúc tiến thông tin văn hóa. Đặc biệt, các khoản trợ cấp nhằm mục đích cấp vốn cho các dự án văn hóa nhằm tạo điều kiện di chuyển cho các nghệ sỹ và các đơn vị khai thác vận hành văn hóa ngoài khu vực tự trị, cũng như lưu thông các tác phẩm nghệ thuật trên khắp lãnh thổ quốc gia; cải thiện cân bằng lãnh thổ trong kế hoạch văn hóa, đặc biệt xúc tiến các khu vực nông thôn; hỗ trợ các dự án góp phần thúc đẩy sự bền vững của hạ tầng văn hóa; xúc tiến đa dạng văn hóa và cùng chung sống; góp phần tham gia của xã hội dân sự trong các kế hoạch văn hóa; thúc đẩy các dự án đổi mới nhằm mục đích kết nối văn hóa với xã hội; tạo dựng và củng cố các khán giả mới và khuyến khích hành động nhận thức về giá trị của di sản văn hóa Tây Ban Nha.
Ngoài Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, các tổ chức chức chính quyền trung ương khác đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nghệ sỹ thị giác mới nổi và lực lượng lao động sáng tạo. Ở cấp quốc gia và khu vực, hỗ trợ các nghệ sỹ đến từ các phòng ban văn hóa của các chính quyền khu vực, các cơ quan cấp tỉnh hay hội đồng thành phố. Trong những khu vực song ngữ, hỗ trợ cho nghệ sỹ được coi là một bộ phận tích hợp xúc tiến ngôn ngữ khu vực. Các chương trình văn hóa của các cộng đồng tự trị này thường căn cứ vào các chính sách chung nhằm khuyến khích các ngành văn hóa địa phương.
2. Các khoản viện trợ không hoàn lại, phần thưởng và học bổng
Công cụ phổ biến nhất để hỗ trợ cho các nghệ sỹ và người sáng tạo ở Tây Ban Nha là các giải thưởng và các khoản viện trợ không hoàn lại. Ở cấp quốc gia, cơ quan chính chịu trách nhiệm đối với các giải thưởng này là Bộ Giáo dục, Văn hóa và Thể thao, thông qua Tổng cục mỹ thuật và Tài sản văn hóa và Lưu trữ và Thư viện, Tổng cục các ngành công nghiệp văn hóa và chính sách về sách và các viện Nghệ thuật biểu diễn, Âm nhạc, nghệ thuật điện ảnh và Nghệ thuật nghe nhìn.
Về các giải thưởng, trong những năm gần đây, Bộ Văn hóa đã xây dựng một chính sách hợp lý hơn về việc trao giải ở tất cả các lĩnh vực sáng tạo: Các giải thưởng quốc gia (ví dụ như văn học, nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc, di sản lịch sử, các ngành công nghiệp văn hóa và đấu bò) nhằm mục đích ghi nhận công việc của các nghệ sỹ Tây Ban Nha trong một năm; Các huy chương vàng về công lao trong làng Mỹ Thuật để công nhận những người có sự nghiệp nổi bật; Huân chương nghệ thuật và văn học, công nhận những người có đóng góp quan trọng cho công tác phổ biến văn hóa Tây Ban Nha trên thế giới; Giải thưởng Miguel de Cervantes dành cho văn học trong ngôn ngữ Castilian là việc công nhận cao nhất đối với các nhà văn Tây ban Nha và Châu Mỹ La Tinh, những người có đóng góp nổi bật trong việc làm phong phú di sản văn học của ngôn ngữ Tây Ban Nha; hoặc Giải Nghệ thuật thị giác Velázquez trao tặng bằng khen đối với người sáng tạo có tác phẩm nổi trội và có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật nghe nhìn.
Ngoài ra, Ban thư ký nhà nước về Văn hóa cũng trao các giải thưởng khác trong các lĩnh vực Xúc tiến Nghệ thuật, Sách, Đọc và Văn học và Nghệ thuật biểu diễn và Âm nhạc .
Về học bổng, ngoài những học bổng truyền thống hiện có nhằm mở rộng kinh nghiệm chuyên môn. Năm 2010, Bộ Văn hóa đã tham gia mạng lưới Halma, một mạng lưới các tổ chức văn học Châu Âu nhằm hỗ trợ kết nối hình tượng văn học và văn hóa châu Âu. Mục đích là mở rộng Văn học Tây Ban Nha ra nước ngoài và hỗ trợ các nhà văn Tây Ban Nha, Bộ đã cung cấp chỗ ở trong vòng 2 tháng trong các trung tâm văn học Châu Âu cho các nhà văn Tây Ban Nha.
 
Thu Hiền lược dịch (Nguồn: culturalpolicies.net)


 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác