Israel - Điểm sáng mới của điện ảnh thế giới

Năm 2007, Beaufort của Joseph Cedar đoạt Gấu Bạc ở Berlin. Một năm sau, tới lượt Waltz With Bashir của Ari Folman giành Địa cầu Vàng và được đề cử Oscar Phim tiếng nước ngoài xuất sắc nhất. Năm nay, đó là Lebanon của Samuel Maoz. Bất kể đây có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không, thành công của ba bộ phim này đều khẳng định một điều: Điện ảnh Israel những năm gần đây đã trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ.

Poster phim Waltz With Bashir.Poster phim Waltz With Bashir.

50 năm thăng trầm

Điện ảnh Israel là một nền điện ảnh trẻ, mới chừng 50 năm tuổi đời, một điều không lấy gì làm khó hiểu khi đất nước của người Do Thái, dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm, chỉ mới ra đời hơn nửa thế kỷ trước. Những bộ phim Do Thái đầu tiên được sản xuất từ thế kỷ 19, nhưng phải đợi đến khi nhà nước Israel chính thức thành lập vào năm 1948, một nền điện ảnh Do Thái thực thụ mới hội tụ đầy đủ điều kiện để hình thành và bắt đầu phát triển.

Ở thập niên 1950, điện ảnh Israel vẫn rất sơ khai và hầu như không có dấu ấn đáng kể nào, ngoại trừ việc những đạo luật khuyến khích phát triển điện ảnh đầu tiên được thông qua, cùng với sự xuất hiện của các studio. Bước sang những năm 1960, các chính sách hỗ trợ công nghiệp điện ảnh bắt đầu phát huy tác dụng, dẫn đến sự ra đời và định hình của những dòng phim đặc trưng Israel đầu tiên trong thập niên 1970. Đó là các dòng phim Bourekas (tên một món ăn Do Thái; “nhái lại” từ Spaghetti Western của Italia) - phản ánh mâu thuẫn giữa hai nhóm người Do Thái có nguồn gốc Trung Đông và châu Âu - và Xúc cảm Mới, chịu ảnh hưởng trào lưu Làn sóng Mới của điện ảnh Pháp những năm 1960. Những bộ phim Bourekas khá thành công về thương mại nhưng không được giới phê bình đánh giá cao. Trong khi đó, trào lưu Xúc cảm Mới đã có những thành tựu đáng kể trên phương diện nghệ thuật, tiêu biểu là The Policeman , bộ phim đầu tiên của Israel được đề cử Oscar và đoạt giải Địa cầu Vàng năm 1972. Gần bốn mươi năm sau, Waltz With Bashir mới tái lập được thành tích ấy.

Thập niên 1980 là thời kỳ phim ảnh Israel đi vào thoái trào, với sự sụt giảm đáng kể của lượng khán giả đến rạp, trong khi nền công nghiệp điện ảnh hầu như không còn nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía chính phủ.

Bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, một lần nữa, điện ảnh Israel lại vươn vai đứng dậy, giành được những thành công lớn trên cả hai mảng phim truyện và tài liệu. Hàng loạt bộ phim đã gây tiếng vang và đoạt giải thưởng tại các LHP quốc tế, trong đó, ngoài ba cái tên được nhắc đến ở trên, có thể kể tới Late Marriage, Broken WingsThe Band’s Visit.

Nhìn lại hơn năm mươi năm qua, có thể thấy yếu tố chính trị, lịch sử và xã hội đã ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc đến sự hình thành phong cách của nền điện ảnh Israel. Những năm đầu lập quốc là thời điểm người Do Thái từ khắp nơi trên thế giới tìm về hội tụ ở miền đất mới. Giai đoạn này tồn tại khá nhiều mâu thuẫn giữa những chi lưu người Do Thái khác nhau. Và chính những va chạm xã hội giữa hai nhóm Do Thái Trung Đông (Mizrahi) và châu Âu (Ashkenazi) đã khơi nguồn cảm hứng cho dòng phim Bourekas. Sau bốn mươi năm - qua hai thế hệ - xã hội Israel đã đi dần đến chỗ hòa hợp, những mâu thuẫn của thời kỳ đầu nhạt dần đi, dòng phim Bourekas bởi vậy cũng không còn được ưa chuộng nữa.

Dấu ấn của lịch sử cũng thể hiện rất rõ trong dòng phim chiến tranh và quân đội của điện ảnh Israel. 61 năm lịch sử Israel là hơn sáu thập kỷ không yên bình - hết chiến tranh A-rập - Israel năm 1967 lại đến xung đột với người Palestine trong thập kỷ 1970, mà đỉnh cao là sự kiện Munich 1972; hết chiến tranh Yom Kippur với Ai Cập và Syria năm 1973 lại tới nội chiến Liban lần thứ nhất năm 1982... Khoan nói đến chuyện đúng sai trên khía cạnh chính trị, việc một quốc gia luôn thường trực trong tình trạng chiến tranh rõ ràng sẽ có tác động sâu sắc đến nền điện ảnh. Giống như Hàn Quốc, ở Israel, nghĩa vụ quân sự là thiêng liêng và bắt buộc. Bản thân Beaufort, bộ phim về những người lính Israel cuối cùng rút khỏi pháo đài Beaufort tại Liban năm 2000, từng vấp phải sự phản đối dữ dội của dư luận trong nước vì một số diễn viên đã không thực hiện nghĩa vụ quân sự, do đó bị cho là không đủ tư cách vào vai những người lính hy sinh ở Beaufort.

Liban - vết thương và nỗi ám ảnh

Trong số những cuộc chiến mà Israel đã tham gia, có lẽ chiến tranh Liban lưu lại nhiều vết thương và nỗi ám ảnh nhất. Bởi nếu trong đa số những lần xung đột trước, Israel chủ yếu phải tự vệ hoặc phòng vệ trước sự tấn công từ các lực lượng A-rập, thì chiến tranh Liban về bản chất là một sự xâm lược, gây ra những mất mát và để lại hậu quả hết sức nặng nề với người dân sở tại. Waltz With Bashir là một nỗ lực của Ari Folman, cựu binh từ chiến tranh Liban, để nhìn nhận lại mặt trái của cuộc chiến này. Bộ phim kết hợp nhuần nhuyễn phong cách phim tài liệu với sự tương phản màu sắc dữ dội chỉ có ở phim hoạt hình để nhìn lại vụ thảm sát Sabra & Shatila trên đất Liban năm 1982 (mà Folman là nhân chứng), qua đó đi tìm một sự hòa giải với quá khứ. Trong khi đó Lebanon, với cái tên trực diện của mình, cũng là phim phản chiến, khắc họa nỗi ám ảnh chiến tranh từ một điểm nhìn rất độc đáo: bên trong một chiếc xe tăng Israel tham chiến. Mặc dù cả hai vẫn gây ra nhiều tranh cãi (Liban cho rằng đây là một sự tuyên truyền và bào chữa kín đáo cho cuộc chiến hồi năm 1982), nhưng rõ ràng đó là hệ quả tất yếu của xu thế ôn hòa tiến bộ ngày càng nổi trội ở Israel. The Band’s Visit của Eran Kolirin tuy không trực tiếp đề cập đến chiến tranh nhưng vẫn phản ánh tinh thần ấy. Đó là câu chuyện về một đội quân nhạc của cảnh sát Ai Cập lạc đường trên đất Israel và tìm thấy sự đồng cảm ở những người dân bản xứ - một kịch bản thể hiện khát khao hòa giải giữa hai dân tộc từng là kẻ thù của nhau trong quá khứ.
Đa số những tên tuổi đã gặt hái thành công cho điện ảnh Israel thời gian vừa qua đều còn khá trẻ - Samuel Maoz và Ari Folman sinh năm 1962 (cả hai đều mới 20 khi tham chiến ở Liban), Joseph Cedar năm 1968, Eran Kolirin năm 1973. Tất cả đều đã song hành với sự trưởng thành của điện ảnh Israel, và đại diện cho một thế hệ trẻ có tư tưởng tiến bộ. Lớn lên trong bầu không khí của các vụ đánh bom cảm tử và những cơn mưa rocket, hơn ai hết, họ chán ghét chiến tranh, trân trọng hòa bình và khát khao tìm kiếm nó. Không chỉ lĩnh hội những giá trị văn hóa Do Thái, họ còn mang trong mình hơi thở của thời đại toàn cầu hóa (Waltz With Bashir có hơi hướng âm nhạc đương đại châu Âu cực kỳ rõ rệt; còn The Band’s Visit nồng nàn chất jazz với Summertime, tác phẩm kinh điển của George và Ira Gershwin, hai nhà soạn nhạc người Mỹ, trùng hợp thay, gốc Do Thái). Với tuổi trẻ trong tay và tương lai trước mắt, chắc họ sẽ còn tiến xa với những tác phẩm mới của mình, và tất cả chúng ta có quyền chờ đợi điều đó.

 

Theo TTVH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác