VĨNH PHÚC - Chùa Sùng Khánh

(Cinet-DL)- Chùa Sùng Khánh do chú Phụ Đạo (Tù trưởng) Nguyễn Ẩn xây vào thời Triệu Phong (năm 1356), năm 1705 chùa được trùng tu. Năm 1989 chùa được xây dựng lại trên nền cũ.
1. Tên di sản/Di tích: Chùa Sùng Khánh.
2. Thời gian: Chùa Sùng Khánh do chú Phụ Đạo (Tù trưởng) Nguyễn Ẩn xây vào thời Triệu Phong (năm 1356), năm 1705 chùa được trùng tu. Năm 1989 chùa được xây dựng lại trên nền cũ.
3. Năm công nhận: Năm 1993, chùa Sùng Khánh được xếp hạng di tích lịch sử và đến năm 1999, chùa được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Năm 2004 Chùa Sùng Khánh đã được UBND tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng là di tích cấp tỉnh .
4. Vị trí/Địa hình: Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và miền núi phía bắc, có tọa độ: từ 21° 08’ (tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến 21°19' (tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) vĩ độ bắc; từ 105° 109’ (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105°47’ (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh độ đông. Diện tích tự nhiên, tính đến 31/12/2008 là 1.231,76 km², , khoảng giữa của miền Bắc nước Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo. Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội - Lào Cai, đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh. 
5. Thổ nhưỡng: Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồngsông Lôsông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho tàu bè.
Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội.
6. Khí hậu: Nhiệt độ trung hàng năm là 24 °C,Vùng Tam Đảo, ở độ cao 1.000 m so với mực nước biển có nhiệt độ trung bình năm là 18,4 °C. Tam Đảo có nhiệt độ hàng ngày thấp hơn vùng đồng bằng bắc bộ là 5 °C.
  • Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 mm đến 1.600 mm.
Trong đó, lượng mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du tại trạm Vĩnh Yên là 1.323,8 mm. Vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm. *Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
  • Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 đến 1.800 giờ, trong đó, tháng có nhiều giờ nắng trong năm nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm ít nhất là tháng 3.
  • Chế độ gió: Trong năm có 2 loại gió chính: Gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9; gió đông bắc: thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
Độ ẩm không khí: Độ ẩm bình quân cả năm là 83%. Nhìn chung độ ẩm không có sự chênh lệch nhiều qua các tháng trong năm giữa vùng núi với vùng trung du và vùng đồng bằng. Vùng núi độ ẩm không khí được đo tại trạm Tam Đảo, vùng trung du được đo tại trạm khí tượng Vĩnh Yên.
7. Dân cư: Dân số 1.014.488 người, gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập ThạchSông LôTam DươngBình XuyênTam ĐảoVĩnh TườngYên Lạc với 112 xã, 25 phường và thị trấn. Vĩnh Phúc nằm ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng
8. Tóm tắt nội dung: - Kiến trúc:
Như ta đã biết Chùa cũ vốn là một công trình thờ Phật từ đời Trần quí hiếm trên miền Thượng du còn sót lại, khung đỡ được làm bằng gỗ, lợp lá, dựng vào năm 1356, nhưng đã bị đổ nát từ lâu. Ngôi chùa hiện nay được nhân dân nơi đây người góp công người góp của xây dựng vào năm 1989, tọa lạc trên nền ngôi chùa cũ nhưng nhỏ và thấp hơn. Chùa có kiến trúc đơn giản, xây dựng theo hình chữ “Nhất”, chỉ gồm một gian chánh điện diện tích 26m2, cao 4.3 với một cửa chính và hai cửa phụ ở hai bên, vách gạch, lợp ngói có tường bao quanh.
Ngay cửa chính đi vào là nơi thờ Phật được xây dựng bệ để đặt một số đồ thờ. Phía trên bệ thờ treo một bức tranh có hình Phật bà Quan Âm thay cho tượng Phật. Tấm bia đá ở bên trái bệ thờ là di sản quí giá nhất của ngôi chùa, ghi công lao của những người đã có công xây dựng ngôi chùa tiêu biểu là; ông Nguyễn Ân là chú của một tù trưởng miền núi có công rất lớn trong việc tu tạo ngôi chùa, và dựng bia công đức vào tháng Giêng năm Bính Thân niên hiệu Thiệu Phong (1356). Bia cao 0.90m, rộng 0.50m, trên bia có chạm khắc hình lưỡng long chầu Phật Bà Quan Âm, văn bia do Phụng Độc Học sinh, Thứ sử trực thư Tạ Thúc Ngao soạn vào tháng 3 năm 1367. Bên phải của bệ thờ treo quả chuông đúc vào năm trùng tu chùa, thời hậu Lê (1705). Chuông cao 0.90m, đường kính miệng chuông chạm khắc nhiều hoa văn tinh xảo. Hằng năm, đến ngày 3 và 4 tết bà con dân tộc trong vùng lân cận  kéo về tụ hội vui xuân, các trò chơi được tổ chức vừa mang bản sắc dân tộc cổ truyền của dân địa phương như: ném còn, kéo co, vừa đan xen một số trò chơi thể thao hiện đại như: bóng đá, bóng chuyền.
Trong chùa Sùng Khánh hiện không có tượng Phật mà chỉ có một ban thờ ở gian giữa, 2 gian bên dựng 2 bia đá; 1 bia thời Trần, 1 bia thời Lê và treo một quả chuông đồng lớn thời Lê.
Quả chuông đồng trong chùa Sùng Khánh cao 0,90m, rộng 0,67m, được đúc vào thời Hậu Lê (1705) cùng 2 bia đá thời Trần và thời Lê ghi lại công lao của người sáng lập và trùng tu chùa. Nghệ thuật khắc trên đá, trên chuông đồng và kỹ thuật đúc chuông là một bằng chứng lịch sử phát triển thời Trần và Lê ở tận vùng biên cương Hà Giang
Bia thời Trần trong chùa Sùng Khánh được dựng trên lưng rùa (rùa có bề ngang rộng 55cm, chiều dài 95cm). Bia đá dẹt, 2 mặt được bào nhẵn, dày 10,5cm, thân cao 90cm và bề ngang là 47cm. Trán bia là hình bán nguyệt, ở giữa chạm hình Phật ngồi trên toà sen, bên cạnh có 1 đệ tử đứng chắp tay trước ngực. Hai góc trên trán bia là hai hình rồng chầu, đầu rồng vươn cao về phía toà sen. Xung quanh thân bia được trang trí đường diềm hoa dây, phía dưới chân bia là hình sóng. Trên cột dọc ở đầu văn bản có khắc 7 chữ Sùng Khánh tự bi minh tính tự. Văn bản chữ Hán khắc ở mặt trước bia gồm bài tựa và bài minh và dòng lạc khoản, mặt sau bia chỉ có 2 dòng chữ Hán xen Nôm ghi việc cúng ruộng và nô tì cho chùa.
Nội dung văn bia như sau: "... chùa Sùng Khánh ở hương Hoằng Nông, giang Thông, trường Phí Linh là do người chú của vị Phụ đạo họ Nguyễn tên là Ẩn, tự là Văn Giác sáng lập ... Ông không thích chăm lo sản nghiệp riêng mà lại ham cứu giúp người khác lúc khó khăn, lòng thì hâm mộ đạo Phật, không ăn thịt, không uống rượu, mỗi tháng ăn chay 10 ngày và đọc kinh, lấy đó làm lệ thường. Hương này vốn không có chùa, lại ở nơi hẻo lánh, núi non sầm uất, có suối trong tuôn chảy, ông thấy mến cảnh, bèn dựng chùa làm nơi hương khói sớm hôm. Chùa được dựng từ tháng riêng đến tháng tư năm Bính Thân (1356) niên hiệu Thiệu Phong thì hoàn thành, đặt tượng phật vào. Ông lại đặt tên chùa là Sùng Khánh, lại cúng vào chùa một viên (mẫu) ruộng để cấp cho người trụ trì".
Văn bản mặt sau của bia ghi " Quyền Phụ đạo Nguyễn Thiên Trượng và Văn Giác cư sĩ cúng thí ruộng ở xứ Nà Nộn 1 viên (mẫu)... Ngô Thiện cư sĩ cúng dâng hai nô tì là Thằng Đại và Mỹ Am cùng một con trâu làm của Tam bảo".
Văn bia và chuông đồng thời Lê được làm vào năm Vĩnh Thịnh thứ nhất (1705), nội dung văn bản ghi lại việc trùng tu chùa Sùng Khánh vào thế kỉ 17, đầu thế kỉ 18 do hoàng tộc nhà Mạc lánh nạn ở Cao Bằng thực hiện.
Chùa Sùng Khánh tọa lạc trên một gò cao, trong một khuôn viên rộng chừng 1000m2, thoáng, đẹp nằm cạnh con đường liên xã đi từ Tiên Lữ sang Đình Chu. Hiện nay chưa xác định được chính xác thời điểm xây chùa. Nhưng theo những gì còn ghi lại trên 02 bia đá được tạo năm 1709 và năm 1716 còn ghi công đức của nhân dân và các địa phương để dựng chùa; trên câu đầu bên trái của tòa Bái đường ghi lại lần trùng tu lớn là vào năm Tự Đức thứ 29 (tức năm 1876); Người trông giữ Chùa đều thuộc họ Nguyễn gốc Mạc ở Tiên Lữ, đến nay đã trải qua 7 thế hệ. Như vậy có thể xác định chùa Sùng Khánh được xây dựng vào khoảng những năm cuối của thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII.
 Tổng diện tích mặt bằng của chùa là 269m2 với 54 cột, 12 vì kèo liên kết với nhau theo kiểu kiến trúc chữ công. Tường xây bít đốc bằng đá ong bền chắc, mặt trước có 3 cửa chính để vào chùa. Mái lợp bằng ngói mũi hài phẳng, các đường bờ nóc thẳng, 2 tòa bái đường và thượng điện đều có cấu trúc kiểu 4 mái, vì vậy tổng thể chùa có dáng vẻ khá sinh động. Toàn bộ kết cấu bằng gỗ của chùa đều được bào trơn đóng bén, không có những chạm trổ cầu kỳ nhưng lại đảm bảo tính bền vững của một công trình kiến trúc cổ, đến nay chùa còn khá bền vững, chắc chắn. Trước chùa là một sân gạch rộng và khoảng không gian phía trước; toàn bộ khuôn viên được xây tường bao loan kín đáo, quang cảnh đẹp, tĩnh mịnh.
Tam quan chùa được phục dựng năm 1999 có kiến trúc khá quy mô, trên đỉnh có đắp lưỡng long chầu nguyệt, trên đỉnh bốn cột trụ đắp con phượng và con nghê, bên dưới là câu đối. Lầu chuông tọa lạc ngay giữa sân chùa, được trùng tu và xây dựng lại vào tháng Chạp năm Mậu Tý. Tòa Đại bái dáng khỏe, bền chắc, có không gian thoáng đẹp. Tòa Thượng điện gồm ba gian, gian chính giữa là chính điện; bài trí trên cùng sát mái phía tường hậu là ba pho tượng Tam thế được tạc bằng chất liệu gỗ mít sơn son thiếp vàng. Các pho tượng đều tọa lạc trên tòa sen, khuôn mặt bầu đượm vẻ từ bi, tai to, tóc xoăn, mắt nhìn xuống trong trạng thái tĩnh tâm hoàn toàn, cổ cao ba ngấn, hai tay dài, bàn tay dày, mình mặc áo choàng nhiều lớp, hai vạt áo buông chùng tự nhiên và vắt vào nhau ở phía dưới như cánh hoa cách điệu làm tôn lên vẻ đẹp hài hòa, cân đối một cách hoàn mỹ. Bệ gỗ và tòa sen được kết cấu kiểu giật cấp ba tầng, tạo thành khối kiến trúc nghệ thuật đẹp, nhẹ nhàng thanh thoát mà vững chãi đỡ toàn bộ pho tượng phía trên làm tăng thêm vẻ uy nghi, thâm nghiêm của ngôi chùa. Tượng Tam thế đại diện cho chư phật mười phương ở ba thời: Quá khứ - Hiện tại - Tương lai. Đây là các pho tượng đẹp, quý, đều được tạc từ thời vua Lê Trung Hưng đến nay vẫn giữ nguyên được dáng vẻ mà chưa phải trùng tu. Tiếp theo là hai pho tượng Di Đà ngồi trên tòa sen, mặt bầu đầy đặn, tai to, mắt nhìn xuống vẻ tĩnh tâm, tóc xoăn. Lớp thứ ba là tượng Quan âm thiên thủ thiên nhãn ngồi trên tòa sen, phía dưới tòa sen là con Nghê miệng há rộng, mắt lồi dữ tợn, hai bên là hai hàng lông xuôi về phía sau như bơi chèo. Tượng có 12 tay giơ về các hướng với những tư thế khác nhau và được tạc bằng gỗ mít, khuôn mặt bầu hiền từ, mắt nhìn xuống, tai to, đầu đội mũ thất phật có ba tầng trang trí hình hoa cúc và hình mặt trời tỏa sáng. Hai bên tượng Quan âm là hai pho tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ ở tư thế đứng, áo choàng nhiều lớp rủ kín thân, ống tay áo rộng, vạt áo bên phải cuốn gọn vào thân, vạt áo bên trái thả thùng.
 Ở tòa Thượng điện, ngày nay còn có hai bia đá ghi lại hai giai đoạn lịch sử quan trọng với ngôi chùa. Nội dung ghi việc xây tường bao và tu sửa lại chùa là tiểu tăng trụ trì Nguyễn Hữu Pháp, cùng tham gia hưng công xây dựng còn có hơn 30 vị khác là người trong làng. Đặc biệt ở đây còn có sự tham gia của một người Trung Quốc (Điều này cho thấy họ nhà Mạc lúc bấy giờ có mối quan hệ trực tiếp với nhà Thanh, hoàn toàn phù hợp với thực tế là nhà Mạc ở Cao Bằng luôn được sự ủng hộ của nhà Thanh). Bia thứ hai bị vỡ mất một góc phía dưới, chỉ còn một phần bên trên. Tiếp dưới là phần ống muống được xây bệ thờ tại đây được bài trí pho tượng Ngọc Hoàng Thượng đế, hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu. Phía ngoài là pho tượng Thích Ca sơ sinh đứng trên tòa sen.
Phía ngoài gian Tiền Đường có hai pho tượng cao to nổi bật, là hai pho tượng Khuyến thiện và Trừng ác. Tượng Khuyến thiện bên trái đầu đội mũ giáp trụ, mình mặc võ phục, nai nịt gọn gàng, có khuôn mặt trắng, đẹp phúc hậu, chân đi hài cong, lưng thắt đai đỏ, một tay chống vào đầu sư tử, một tay cầm viên ngọc minh châu, mắt nhìn thẳng hiền từ như kêu gọi chúng sinh một lòng hành thiện, ngồi trên lưng một con sư tử dáng vẻ dữ tợn, mắt lồi, hai hàm răng trắng, bốn chân choãi ra bám chặt xuống đất, lưng oằn xuống chịu sức nặng của vị Hộ pháp. Phía bên phải là tượng ông Trừng ác, mặt đỏ, mắt xếch, râu vểnh ngược, đầu đội mũ giáp trụ, trang phục võ tướng như tượng Khuyến Thiện, một tay chống lên đùi, một tay cầm thanh long đao, chân phải giẫm trên mình một con quỷ, tượng cưỡi trên mình con sư tử dáng vẻ dữ tợn càng tăng thêm vẻ uy nghi, oai nghiêm của vị thánh chuyên trừng trị những kẻ gây ác trong thế gian.
Hai bên phía đầu hồi tòa Tiền Đường là bộ tượng Bát Bộ Kim Cương, là những thần tướng trên trời đã quy y tam bảo và phát nguyện hộ trì phật pháp, mỗi vị đều cầm một thứ binh khí ngồi ở các tư thế khác nhau, đầu đội mũ giáp trụ, mặc võ phục oai phong lẫm liệt trấn giữ các phương.
 Đặc biệt ở gian Bái đường còn có hai cụm tượng lạ. Đó là tượng Ông và tượng Bà. Tượng Ông ở cùng phía tượng ông Trừng ác, ở tư thế ngồi, hai bên có hai thị vệ là võ sĩ. Tượng ông có dáng dấp của một võ tướng, oai nghiêm, vạm vỡ, đầu đội mũ, áo bổ tử. Tượng có dáng dấp như tượng Mạc Đăng Dung ở chùa Trà Phương (Hải Phòng). Tượng Bà ở phía tượng ông Khuyến thiện cũng ở tư thế ngồi, hai bên có hai tượng thị nữ chắp tay chầu. Tượng Bà đã được tu sửa vẽ thêm râu ria như một nam giới nhưng nhìn kỹ có thể nhận ra là tượng nữ, bởi mũi thanh, lông mày mảnh, cong, áo ngoài như áo của tăng ni nhưng có yếm, hai bên lại có hai thị vệ là nữ giới. Rõ ràng đây không phải là tượng Phật, cũng không phải là tượng Hậu mà là hai tượng Ông và tượng Bà, có thị tòng và thị nữ. Tuy không rõ hai vị này là ai, nhưng vị thế của họ rất được trân trọng. Theo tư liệu văn bia, thì chùa này do cụ Nguyễn Hữu Pháp tự Đạo Thái hiệu Huyền Ân xây dựng và trụ trì, ông là con trai cả của vua Mạc Kính Vũ. Rất có thể ông đã cho dựng tượng vua cha là Mạc Kính Vũ và phu nhân để thờ ở chùa này.
 Chùa Tiên Lữ còn có hệ thống tượng phật, bia ký lâu đời mặc dù đã trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, song những gì còn lại đã minh chứng cho một sức sống mãnh liệt của một nền văn hóa dân tộc đã trở thành một bộ phận cấu thành đời sống xã hội của dân tộc Việt Nam. Qua mô tả có thể thấy, nghệ thuật điêu khắc trên các chất liệu thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân xưa, bằng trí tưởng tượng, sự tỉ mỉ, chính xác; mỗi pho tượng đã thể hiện một nội tâm, hồn sống toát ra từ dáng vẻ bề ngoài đó chính là sự thành công của các nghệ nhân xưa, đây thực sự là những tác phẩm nghệ thuật đạt trình độ cao, xứng đáng để tồn tại với thời gian.
VĨNH PHÚC - Chùa Sùng Khánh - ảnh 1
VĨNH PHÚC - Chùa Sùng Khánh - ảnh 2
VĨNH PHÚC - Chùa Sùng Khánh - ảnh 3
Một số hình ảnh về chùa (nguồn: sưu tầm internet)

Nhân Hậu (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

 http://vinhphuc.tourism.vn; http://mactrieu.vn; http://mobile.coviet.vn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác