|
1. CẤU TRÚC LIÊN BANG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ

Không ở đâu cấu trúc liên bang của Cộng hoà Liên bang Đức lại thể
hiện rơ như trong lĩnh vực văn hoá. Đời sống văn hoá riêng của các
bang ở nước Đức đă tạo nên những trung tâm văn hoá lớn, nhỏ với
những dáng vẻ khác nhau. Văn hoá và khoa học tự phát triển ở cả các
thị trấn và cộng đồng cư dân nhỏ.
Sự đa dạng thể hiện ngay ở sự phân bố theo khu vực của các tổ chức
văn hoá và hoạt động văn hoá khác nhau ở Đức. Thư viện Đức (Deutsche
Bibliothek), một cơ quan Liên bang, có các cơ sở ở Frankfurt am
Main, Leipzig và Berlin. Cục lưu trữ Liên bang đặt cơ sở ở Koblenz,
có các chi nhánh ở nhiều thành phố, trong đó có Bayreuth, Berlin,
Freiburgim Breisgau và Potsdam. Hamburg có ngành truyền thông tập
trung đông nhất; trong khi Kôln, Dũsseldorf và Kassel chỉ là ba ví
dụ trong số các trung tâm nghệ thuật hiện đại. Berlin có nhiều nhà
hát nhất. Viện Hàn lâm khoa học có cơ sở ở Berlin, Dusseldorf,
Gơttingen, Heidelberg, Leipzig, Mainz và Mũnchen. Những bảo tàng nổi
tiếng nhất nằm ở Berlin, kơln, Frankfurt am Main, Hildesheim,
Mũnchen, Nũrnberg và Stuttgart. Hai viện lưu trữ tác phẩm văn học
quan trọng nhất nẳm ở Marbach và Weimar.
Việc thành lập và duy tŕ phần lớn các cơ sở văn hoá ở Đức là trách
nhiệm của chính quyền các bang và các thành thị. Việc ban hành các
pháp chế về văn hoá là đặc quyền của các bang -trừ một vài ngoại lệ.
V́ vậy, Cộng hoà Liên bang Đức chưa từng có một bộ văn hoá cấp liên
bang. Tuy nhiên, Chính phủ Đức đă bổ nhiệm một thành viên mang hàm
Bộ trưởng Liên bang phụ trách các vấn đề văn hoá và truyển thông
trong phủ thủ tướng. Trong khi thẩm quyền văn hoá của các bang vẫn
được bảo đảm, vị bộ trưởng này điều phối các quyền hạn về chính sách
văn hoá của Liên bang - trước đây do các bộ khác nhau nắm.
Hội đồng văn hoá ở Đức
Hội đồng văn hoá Đức thành lập năm 1982, là một hội đồng độc lập về
chính trị của các tổ chức và cơ quan có tầm quan trọng quốc gia về
chính sách văn hoá và truyền thông. Từ tháng 9 -1995, Hội đồng văn
hoá Đức là một hiệp hội đă được đăng kư. Hội đồng là tổ chức đứng
đầu các hội nghệ thuật Liên bang. Hội đồng là đối tác liên hệ của
giới chính trị và quản lư Liên bang , Liên minh châu Âu cũng như các
bang và địa phwong trong mọi vấn đề liên quan đến chính sáhc văn
hoá. Nhiệm vụ của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau vào các cuộc thảo
luận về chính sách văn hoá ở tất cả các cấp trên toàn quốc. Hội đông
văn hoá Đức có tám bộ phận chuyên ngành - bao trùm hơn 190 hiệp hội
và cơ quan độc lập - là: Hội đồng âm nhạc Đức, Hội đồng nghệ thuật
biểu diễn, Hội văn học, Hội đồng nghệ thuật, Hội đồng kiến trúc, Hội
tạo h́nh, Hội điện ảnh/nghe nh́n và Hội văn hoá xă hội.
Các tổ chức trung gian về văn hoá tại Đức
Hợp tác và trao đổi văn hoá quốc tế trong lĩnh vực hoạt động trong
khuôn khổ các hiệp định văn hoá phần lớn được tiến hành bởi các tổ
chức trung gian độc lập về pháp lư, trên nghuyên tắc tự chịu trách
nhiệm. Là một phần của chính sách văn hoá đối ngoại, các cơ quan này
được cung cấp tài chính từ ngân sách của Vộ ngoại giao Đức. Những tổ
chức quan trọng nhất là Viện Goethe, Cơ quan Trao đổi hàn lâm Đức,
Quỹ Alexander von Humboldt, Viện quan hệ quốc tế, và Internationes.

2.ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ

Nước Đức là một vùng rộng lớn, đa dạng về khu vực, phong cảnh, thổ
ngữ và thực phẩm. Có rất nhiều di tích lịch sử. Những trung tâm kinh
tế cực kỳ hiện đại và sau cùng là con người.
Nước Đức toạ lạc tại trung tâm của châu Âu, tiếp giáp với 9 nước
láng giềng và là quốc gia chuyển tiếp quan trọng nhất châu Âu. Với
khoảng 82 triệu người sinh sống, bao gồm 7,3 triệu người từ khắp nơi
trên thế giới, đó là những người đóng vai tṛ quyết định trong việc
tạo nên một bộ mặt nước Đức hôm nay.
Đời sống văn hoá và kinh tế Đức không chỉ tập trung vào 1 trung tâm
mà được trải đều khắp từng địa phương và khu vực. Điều này đảm bảo
cuộc sống văn hóa và kinh tế rộng lớn, đa dạng không chỉ tồn tại một
cách nguyên vẹn mà c̣n tiếp tục phát triển và phồn vinh. Và cũng
chứng minh cấu trúc liên bang luôn tồn tại trong đời sống văn hoá ở
nước Đức.
Sự rộng lớn đa dạng trong mọi khía cạnh của đời sống người dân Đức
cũng được phản ánh trong lĩnh vực văn hoá. Hiện nay có hơn 2 triệu
sinh viên khắp nơi trên thế giới đang học tập ở 400 chuyên ngành
khác nhau tại hơn 300 trường đại học Đức.
Văn hoá sinh viên có một truyền thống lâu đời. V́ vậy, khi tới các
trường đại học trong thành phố, bạn sẽ dễ dàng nhận ra sự đồng nhất,
một hương vị cuộc sống không ǵ so sánh được. Dựa trên cơ sở hoàn
chỉnh, ăn sâu vào những hoạt động văn hoá và nhiều h́nh thức giải
trí.

3. CÁC LỌAI H̀NH NGHỆ THUẬT
Văn học Đức

Văn học tiếng Đức có từ thời kỳ Trung cổ với các tác giả như Walther
von der Vogelweide và Wolfram von Eschenbach. Bài ca Nibelung (tác
giả vô danh) cũng là một đóng góp quan trọng trong văn học Đức.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, văn học Đức đă cố gắng để có một
sự khởi đầu mới. Sự khởi đầu mới, đối với nhiều nhà văn, là cố gắng
diễn tả cho được những trải nghiệm gây sốc và vô cảm - theo đúng
nghĩa của từ này - từ chiến tranh và sự tàn phá, thường bằng cách
quay lại nhưng khuôn mẫu của các nhà văn nước ngoài hay nhờ ào lối
tư duy của chủ nghĩa hiện sinh hoặc của truyền thống Thiên chúa
giáo. Vở kịch Bên ngoài cánh cửa (1947) của Wolfgang Borchert,
truyện ngắn của Heinrich Bơll (Chuyến tàu đúng giờ,1949 ) và Arno
Schmidt (Thuỷ quái, 1949), thơ trữ t́nh của Paul Celan (Cây thuốc
phiện và kư ức,1952), Gũnter Eich và Peter Huchel là những ví dụ rơ
nhất về xu hướng tránh né không đề cập trực tiếp và cụ thể đến các
đề tài chính trị, mà phản ánh tội lỗi và thất bại của nước Đức qua
những ẩn dụ tôn giáo hay triết học. Các tác giả thường kế tục tính
hiện đại trong văn chương đă bị tẩy chay trong 12 năm trước đó.
Giữa phê phán xă hội và thơ ca h́nh thức.
Trong văn học những năm 1950 và 1960 đă h́nh thành rơ ràng một xu
hướng văn học lấy chủ đề là cách xử lư của con người với quá khứ vừa
qua. Trong nhiều tác phẩm xuất hiện thời kỳ này, sự phê phán "phép
màu kinh tế" của thời kỳ sau chiến tranh được kết hợp với nỗ lực
nh́n nhận quá khứ. Mối bận tâm với việc mau chóng đạt được sự thịnh
vượng vật chất mới thường được lư giải như sự lảng tránh trách
nhiệm đối với những ǵ đă xảy ra dưới trời Quốc xă. Có thể kể ra ví
dụ các vở diễn và tác phẩm văn xuôi của tác giả gốc Thụy Sĩ
Friedrich Dũrrenmatt (Cuộc viếng thăm của một bà già,1956; Những nhà
vật lư, 1961) và Max Frisch (Stiller, 1954; Homo Faber, 1957;
Biedermann và những kẻ đốt nhà,1958; Andorra, 1961). Những tác phẩm
đáng kể nhất của các tác giả Đức được viết bởi Wolfgang Koeppen (Nhà
kính,1953; Bánh ḿ của những năm xưa, 1955; Văn bi-a lúc chín giờ
rưỡi, 1959), Seigfried Lenz (Giờ học tiếng Đức, 1968) và Gũnter
Grass (Cái trống thiếc, 1959; Mèo và Chuột, 1961; Những năm chó,
1963). Đóng vai tṛ trung tâm là "Nhóm 47", một nhóm không ổn định
của các nhà văn tiếng Đức do Hans Werner Richter sáng lập, mà các
cuộc họp hàng năm của họ (kéo dài đến năm 1967) vừa là sự kiện văn
chương vừa ngày càng mang đậm màu sắc chính trị. Một số thành viên
của nhóm, trong đó có nhiều tác giả nổi tiếng thời bấy giờ tự coi
ḿnh là toà án đạo đức. Đại diện nổi tiếng nhất của họ - nhà văn
Heinrich Bơll - đă được giải thưởng Nobel về văn học năm 1972.
Bên cạnh các nhà văn này, c̣n một số nhà văn khác ít quan tâm đến
việc giải thích thực tại xă hội, thay vào đó, họ t́m cách thể hiện
một bức tranh (có vẻ) vô tư về xă hội. Trong số này trước tiên là
Jũrgen Becker (Những cánh đồng, 1964; Những đường viền, 1968), Rolf
Dieter Brinkmann (Không ai biết ǵ hơn, 1968), Alexander Kluge
(Những cuộc đời, 1962) và Dieter Wellershoff (Một ngày đẹp trời,
1966).
Đối lập lại ḍng văn này là thể loại thơ ca h́nh thức (Max Bense,
Eugen Gomringer, Helmut Heissenbũttel, Franz Mon), trong đó các tác
giả cố gắng hoàn toàn không thể hiện phần nội dung: Ở đây, bản thân
ngôn ngữ trở thành văn học.
Giữa những năm 1960 bắt đầu một thời kỳ thay đổi cơ bản trong xă
hội, không chỉ ở Cộng hoà Liên bang Đức mà ở tất cả các nước phương
Tây khác. "Những cuộc bạo động sinh viên" năm 1968 cho thấy việc phê
phán "sự im lặng của những người cha" trước tội ác của chủ nghĩa
Quốc xă đă trở nên quá khích rơ ràng. Những xu hướng thẩm mỹ hoá
trong văn học bị quy thành những cố gắng nhằm che đậy nguyên nhân
kinh tế và xă hội của cơ cấu kinh tế vốn bị coi là bất công. Nhiều
tác giả tích cực hoạt động chính trị và xă hội - tuy đồng thừ vẫn
không cho phép ḿnh bị lợi dụng vào các mục đích chính trị . Biểu
hiện của xu hướng này là quyết định của nhiều nhà văn phản đối cuộc
chiến tranh ở Việt Nam và ủng hộ chính sách mới về phương Đông -
chính sáhc nhằm vượt qua sự đối đầu Đông - Tây. không kém tiêu biểu
là sự t́m ṭi vai tṛ và h́nh thức mới của văn học. Luận đề Cái chết
của văn học (Hans Magnus Enzensberger) và Mỹ học của sự phản kháng
của Peter Weiss thể hiện mạnh mẽ những suy ngẫm mới này.
Thuộc nền văn học chính trị này c̣n có kịch tư liệu (Rolf Hochhuth:
Người đại diện, 1963; Heinar klipphardt: Trong vụ việc J.Robert
Oppenheimer,1964), mà về nội dung và ư đồ được gắn với thể loại
phóng sự mang tính đảng phái (Gũnter Wallraff: Các người ở trên -
chúng tôi ở dưới, 1973) và văn học của những người lao động.
Bên cạnh những xu hướng kể trên, một vài nhà văn đi theo con đường
riêng đă tự khẳng định là những nhà văn xuất sắc của thời đại ḿnh.
Những tác phẩm quan trọng nhất của Arno Schmidt là Cuộc đời một kẻ
phóng đăng, 1953; Trái tim đá, 1956; Những con ḅ cái trở tang,
1964; Giấc mơ của Zettel, 1970; Và buổi chiều vàng, 1975. Nổi bật
trong những sáng tác của nhà văn Áo Thomas Bernhard là: Sương giá,
1963; Làm cho rối loạn, 1967; Tác phẩm băng vôi, 1970; Nguyên nhân,
1975; Những nghệ nhân già, 1985; Dập tắt. Một sự tan ră, 1986. Các
tác phẩm của hai nhà văn này miêu tả một cách nghiêm túc pha lẫn mỉa
mặi tồn tại của người nghệ sĩ - "con người trí tuệ" trong một thế
giới thờ ơ và nghèo nàn về tinh thần. Thái độ hoài nghi được lĩnh
hội ở Schopenhauer của họ mài sắc thêm sự quan sát cái bi và cái hài
trong sự tồn tại của mỗi con người.
Trong khi những năm 1960 vẫn c̣n chứa đầy những sự khởi đầu, sự thúc
đẩy và xuất phát mới mẻ, những năm tiếp theo ngày càng có vẻ được
đánh dấu bởi t́nh trạng cạn kiệt tiềm năng và thủ pháp nghệ thuật.
Các tiểu thuyết và truyện ngắn của các tác giả đă thành công vào đàu
những năm 1950 và 1960 thường thiếu sự độc đáo và nét sắc bén đặc
trưng của những tác phẩm trước; c̣n thế hệ những người "68" th́ rất
nhanh chóng im tiếng trên văn đàn hoặc t́m cách thể hiện ḿnh ở
những môi trường nghệ thuật khác (kịch, âm nhạc, điện ảnh).
Đối với văn học Cộng hoà Dân chủ Đức (DDR).
Giống như năm 1945. những năm 1989/1990 - những năm kết thúc của
"chủ nghĩa xă hội tồn tại thật sự" ở Cộng hoà Dân chủ Đức và Liên Xô
(1991) - đă đánh dấu một bước ngoặt sâu sắc không chỉ trong lịch sử
chính trị , mà cả trong lĩnh vực văn hoá. Sự kiện này đặc biệt tác
động đến các tác giả sống ở Cộng hoà Dân chủ Đức và vẫn công khai
tuyên bố sự tin tưởng của họ rằng nhà nước này - bất chấp tất cả
những khiếm khuyết của nó - vẫn là quốc gia ưu việt hơn trên đất
Đức. Ngay từ đầu, văn học ở Cộng hoà Dân chủ Đức đă đi theo một
hướng phát triển khác với ở phương Tây. Tự do thông tin lẫn tự do
ngôn luận, và cơ hội tự do trao đổi ư tưởng , tác phẩm và con người
đều rất hạn chế. Trong cả nước chỉ truyền bá nguyên tắc thẩm mỹ văn
học xô viết "Chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa".Những người không
muốn phục tùng t́m cách xa lánh; khả năng này đă chấm dứt vào năm
1961, năm xây Bức tường Berlin, (trong số họ có Uwe Johnson: Những
suy đoán về Jacob, 1959; Cuốn sách thứ ba về Achim, 1961; Hai quan
điểm, 1965; Những lễ kỷ niệm hàng năm, 1970-83).
Bởi vậy, những tác phẩm sản sinh ở Cộng hoà Dân chủ Đức trong những
năm 1950 và 1960, chủ yếu là văn học "xây dựng" tuân theo một thứ
triết lư lịch sử đánh dấu bởi chủ nghĩa lạc quan tẻ nhạt, thiếu
những sự đổi mới h́nh thức hay sự đối đầu có tính phê phán với các
nhà văn tiên phong của thế kỷ XX. Ngoài ra, việc hầu hết các trào
lưu triết học đương đại đều không được phép tiếp nhận ở Cộng hoà Dân
chủ Đức đă làm nảy sinh một môi trường hạn chế về tư duy và đồng
dạng về tư tưởng ; chỉ có những ngoại lệ đáng kể trong lĩnh vực văn
học là những tác phẩm của Heiner Müller. Đến thời kỳ cuối của Cộng
hoà Dân chủ Đức, sự phê b́nh văn chương của các cá nhân như
Christoph Hein, Volke Braun, Ulrich Plenzdorf hay Stefan Heym cũng
bị gián đoạn và cản trở.
Khác với văn học ở hầu hết các nước khác thuộc Đông Âu do Liên Xô
chi phối, văn học ở Cộng hoà Dân chủ Đức hầu hết mang tính khẳng
định. Những tác phẩm văn xuôi và sân khấu đáng kể nhất của Christa
Wolf và Heiner Müller - ít nhất từ những năm 1970 trở đi - tuy có
khác về sự trung thành với đảng và ḷng tin ở chủ nghĩa xă hội ,
nhưng những mô h́nh một xă hội khác mà họ đưa ra thực chất vẫn có
gốc rễ sâu xa từ ư tưởng xă hội chủ nghĩa.
Những trào lưu mới
trong văn học Đức. Một trong những tác giả xuất sắc của hai
mươi năm cuối là Botho Strauss, những truyện ngắn và tiểu thuyết
của ông (Chị em của Marlene,1975;Gă trai trẻ, 1984) cũng như các vở
kịch (Những kẻ trầm uất, 1972; Những gương mặt quen, những t́nh cảm
pha trộn, 1974; Kalldewey, Farce, 1981; Công viên, 1983) và những
bài tiểu luận (Đôi lứa , Những khách qua đường , 1981; Cư trú, Nửa
tỉnh nửa mê, Dối trá,1994) đă rất cố gắng nắm bắt hiện tại trong
khoảnh khắc chơi vơi của nó bằng cách vay mượn những h́nh ảnh huyền
bí trong ngôn ngữ và chuỗi cảnh được giàn dựng.
Văn chương triết học.
Triết học ở Đức sau chiến tranh được đánh dấu bởi sự gián đoạn đột
ngột và sự bất định dai dẳng không kém tiểu thuyết và thơ. Một trong
những triết gia Đức có ảnh hưởng nhất thế kỷ này là Martin
Heidegger (1889-1976), người làm nên tác phẩm nền tảng của chủ nghĩa
hiện sinh: Tồn tại và thời gian (1927), đă trở thành một trong những
học giả gây tranh căi nhất của thời kỳ sau chiến tranh, do đôi khi
thể hiện sự đồng cảm với nước Đức Quốc xă. Tuy vậy, ngay cả sau
chiến tranh, tiền đề hiện sinh của Heidegger vẫn cứ tiếp tục là một
trào lưu rộng răi trong triết học và tất cả các bộ môn khoa học xă
hội. Các nhà triết học như Karl Jasper, Hans-Georg Gadamer, Karl
Löwith hay Jean-Paul Sartre ở Pháp đă phát triển những lư thuyết
của họ từ sự nghiên cứu triết học hiện sinh.
Kiến trúc và thiết kế mỹ thuật

Nền kiến trúc Đức h́nh thành những khuynh hướng trong 30 năm đầu của
thế kỷ XX. Ảnh hưởng mạnh nhất là từ Weimar và Dessau, nơi trường
Bauhaus được thành lập vào những năm 1920, và phong cách mang tên
Bauhaus được phát triển. Dưới sự lănh đạo của Walter Gropius
(1883-1969) và Ludwig Mies vander Rohe (1886-1969), phong cách
Bauhaus vươn ra khắp thế giới. Ngày nay, những kiệt tác của phong
cách này - với sự tổng hợp kiến trúc, công nghệ và chức năng - có ở
khắp nơi trên thế giới.
Kiến trúc hiện đại Đức đă phải chịu đựng rất lâu t́nh trạng khó khăn
của đất nước sau 1945. Các thành phố và thị trấn bị tàn phá phải
được xây dựng lại thật nhanh. Hàng triệu người cần có nhà ở với giá
phải chăng. Chất lượng kiến trúc thường phải nhường chỗ cho sự thực
dụng mà chủ yếu hướng tới tính kinh tế. Trong các công tŕnh xây
dựng, việc kiến tạo một môi trường sống và làm việc ít được để ư đến
và hậu quả của việc này ngày nay vẫn thấy rơ ở nhiều nơi.
Ở phần phía Tây của nước Đức bị chia cắt, ngay vào những năm 1960
ngày càng có nhiều lời ca thán về kiến trúc đơn điệu của những thành
phố vệ tinh, những khu công nghiệp và buôn bán vô hồn xung quanh các
thành phố, và những công tŕnh thiếu cân nhắc làm hỏng cả các khu
nội thành. Đă có cuộc trao đổi về "sự ảm đạm" của các khu vực nội
thành trong nước (Alexander Mitscherlich) trước khi việc phát triển
đô thị tập trung vào bảo tồn kiến trúc và nét đặc trưng vốn có của
các thành phố được ưu tiên cả về mặt chính trị và xă hội vào giữa
những năm 1970.
Những sai lầm trong phát triển đô thị và kiến trúc với mức độ không
kém đă xảy ra trong thời kỳ này ở Cộng hoà Dân chủ Đức cũ. Những toà
nhà cổ có giá trị sống sót qua chiến tranh - phần lớn nằm ở các khu
vực nội thành - đă bị san bằng. Những vật liệu xây dựng khan hiếm bị
đem dùng để phát triển những toà nhà bê tông đúc sẵn ở các khu đông
dân cư ven đô. Ngoài vài toà nhà được xây dựng lại (như Nhà hát
Ôpera Semper ở Dresden) và một số công tŕnh mới, các kiến trúc sư
có quá ít cơ hội thực hiện thành công một phong cách kiến trúc phù
hợp với thời đại. Bên cạnh việc thiếu vật liệu xây dựng cần thiết,
c̣n thường xuyên thiểu các chuyên gia giỏi.
Những kiến trúc sư tạo phong cách thời nay. Hiện nay, nước Đức ngày
càng có nhiều những ví dụ về kiến trúc hiện đại, sáng tạo, nhưng vẫn
thoả măn nhu cầu của con người. Nhiều toà nhà tuyệt vời vẫn có nguồn
gốc từ phong cách và triết lư thuộc trường phái Bauhaus. Tuy nhiên,
những xu hướng kiến trúc gần đây cũng đă được áp dụng trongh nhiều
toà nhà, như các toà nhà công nghệ cao - trong đó, những thành phần
chức năng như thang máy,cầu thang cuốn và nhưng đường cung cấp được
chuyển ra bên ngoài công tŕnh kiến trúc, chúng thường có các màu
khác nhau và cùng trang trí cho công tŕnh. Ngày nay, những kiểu
trang hoàng khác như các đầu cột, gờ mái, và những vật trang hoàng
kiểu nghệ thuật được dùng một cách đa dạng hơn để gây sự chú ư, thể
hiện kiến trúc như một nghê thuật chứ không chỉ nhằm đấp ứng chức
năng sử dụng. Sau cuộc tranh luận kéo dài nhiều năm bắt đầu nhen
nhóm lên từ "Pḥng trưng bày tranh tượng mới" ở Stuttgart (James
Stirling, Michael Wilford, 1984), trường phái kiển trúc hiện đại này
đă được khắp thế giới thừa nhận.

Bảo tàng Abteiberg
Những công tŕnh nổi bật.
Ngay từ khoảng 40 năm trước, những công tŕnh xuất sắc đă được xây
dựng, trong đó có toà cao ốc ba phần (Toà nhà Thyssen) ở Düssendorf
(Helmut Hetrich và Hubert Petschningg,1960); Những toà nhà kiểu túp
lều (Gübter Behnisch, Fritz Auer, Wolfgang Büxel, Erhard Trönkner,
Carlo Weber) thiết kế cho Thế vận hội München 1972 đă nổi tiếng khắp
thế giới. Những công tŕnh thể thao này nằm trong một công viên, sau
Thế vận hội vẫn tiếp tục là nơi giải trí có giá trong vùng; Pḥng
Hoà nhạc tại Berlin (Hans Scharoun,1963) nổi bật với hội trường
nhiều bậc kiểu vườn nho, xây bao quanh dàn nhạc. Một địa điểm tích
cổ được ghép vao Nhà hát Thành phố Münster (Harald Deilmann, Max von
Hausen, Ortwin Rave, Werner Ruhnau,1955). Toà nhà mới của Thư viện
Thành phố ở Münster - một công tŕnh gồm hai phần, trong đó một phần
giống như con tàu biển - đă thu hút sự chú ư đáng kể đầu những năm
1990 (Julia Bolles-Wilson và Peter Willson,1993). Bảo tàng nổi bật
được sáng tạo bởi Hans Döllgast (xây dựng lại pḥng trưng bày tranh
cổ ở München, 1981), Alexander Freiherr von Brânc (Pḥng trưng bày
tranh mới ở München,1982), Hans Hollein (Bảo tàng Abteiberg ở
Mönchengladbach,1982), Peter Busman và Gotfrid Haberer(Bảo tàng
Wallraf-Richartz/Bảo tàng Ludwig ở Köln,1986).
 |
|
Toà nhà Thyssen |
Trong những năm 1980, thành phố Frankfurt/Main đă dựng lên "cụm bảo
tàng" ven bờ sông Main: Bảo tàng kiến trúc Đức (Oswald Mathias
Ungers, 1984), Bảo tàng Điện ảnh Đức (Helge Bofinger,1984), Bảo tàng
thủ công mỹ nghệ (Richard Meier, 1984), Bảo tàng Tiền sử và Lịch sử
cổ đại (Josef Paul Kleihues,1989), Bảo tàng Do thái (Ante Josip von
Kostelac, 1986), Bảo tàng Bưu điện Đức (Behnisch và các cộng
sự,1990). Trung tâm văn hoá "Schim" (Dietrich Bangert, Bernd Jansen,
Stefan Scholz và Axel Schultes,1985) là một điểm hấp dẫn trong trung
tâm thành phố Frankfurt.
Thời vàng son trong xây dựng các Bảo tàng tiếp tục với việc hoàn
thành ba công tŕnh ở Bonn-Trung tâm Nghệ thuật Cộng hoà Liên bang
Đức (Gustav Peichl,1993), Bảo tàng nghệ thuật (Axel Schultes,1993),
và Bảo tàng Lịch sử (Ingeborg và Hartmut Ruediger,1994), cũng như
pḥng Tranh nghệ thuật Hamburg mới (Oswald Mathias Ungers, 1997).
Hiện tại, một loạt các bảo tàng đang được hoàn tất: Bảo tàng Nghệ
thuật tạo h́nh Leipzig (Hufnagel/Puetz/Rafaelian),Bảo tàng lịch sử
Đức ở Berlin (Ieoh Ming Pei), Bảo tàng Giáo khu Köln (Peter Zumthor)
và Bảo tàng Wallraf-Richartz Mới ở Köln (Ungers). Daniel Libeskind
đă nhận giải thưởng kiến trúc Đức năm 1999 cho thiết kế Bảo tàng Do
thái ở Berlin.
Từ 1945, nhiều nhà thờ đă được xây dựng ở Đức. Nổi bật trong rất
nhiều các công tŕnh là Nhà thờ tưởng niệm Hoàng đế Wilhelm ở
Berlin, đă từng bị phá huỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Egon
Eiermann đă ghép những di tích cũ với công tŕnh mới bằng thép và
những tấm kính lớn (1963). Những nhà thờ đáng kể khác là Nhà thờ
Hành hương đồ sộ ở Neviges (Gottfried Böhm, 1967), Nhà thờ thánh
Boniface ở Dortmond (Emil Steffann, 1954), Nhà thờ Thánh Michael ở
Frankfurt/Main (Rudolf Schwarz, 1954), Nhà thờ Thánh Pius ở Köln
(Joachim Schuermann, 1961), Nhà thờ Chúa Giêxu ở Bochum (Dieter
Oesterlen và Werner Schumann, 1959), Nhà thờ Hoà giải ở Dachau
(Helmut Striffler,1969).
Khi công việc của bang và các thành phố tăng lên, nghị viện bang và
các toà thị chính cũng cần nhiều pḥng và các thiết bị kỹ thuật phức
tạp hơn. Nhà Nghị viện bang ở Düsseldorf (Eller, Meier & Walter,
1992), Toà Thị chính ở Bensberg (Gottfried Böhm, 1964), Hội trường
lớn thành phố ở Germering gần Müchen (Auer &Weber, 1993), và nhà hội
nghị và âm nhạc ở Lübeck (von Gerkan, Marg & các cộng sự, 1994) mới
chỉ là vài ví dụ nổi bật về sự tự tin của các cơ quan nhà nước và
địa phương.
Kiến trúc ngày nay tự thể hiện sự thanh lịch trong không gian rộng
răi và ngập tràn ánh sáng. Điều đó không chỉ đúng với những toà nhà
mới đầy ấn tượng trên quảng trường Potsdamer Platz ở Berlin (khu
liên hợp Daimler-Chrysler của nhóm kiến trúc sư do Renzo Piano lănh
đạo, hay Trung tâm Sony do Helmut Hahn thiết kế), mà c̣n đúng với
nhiều công tŕnh chuyên dụng mới được xây dựng gần đây nhất như
Trung tâm Photonik ở Berlin-Adlershof(Sauerbruch & Hutton), toà nhà
"Cổng thành" ở Düsseldorf (Petzinka, Pink và cộng sự), Nhà mỹ thuật
ở Halle (Braun, Koehler & Schlockermann), Khu bể bơi ở
Leipzig-Grünau (Behnisch và cộng sự), Nhà cao tầng RWE ở Essen
(Ingenhoven) và Toà án Lao động Liên bang ở Erfurt (Weinmiller &
Grossmann). Hackeschen Hoefe ở Berlin (Faust & Weiss) là một ví dụ
nổi bật về sự tu bổ thành công các công tŕnh cũ.
Mặc dù nhà nước và các công ty tư nhân đă gánh vác những nhiệm vụ
xây dựng rất đa dạng và bộn bề, nhưng việc xây dựng nhà ở - chiếm
hơn 50% khối lượng xây dựng - vẫn c̣n là thách thức lớn nhất trong
tương lai.
Với Ngành thiết kế ở Đức, đă có truyền thống từ lâu. Đầu thể kỷ XX,
Peter Behrens(1868-1940) đă thiết kế những sản phẩm, áp phích và
những toà nhà cho công ty điện AEG. Năm 1907, Liên đoàn Lao Động Đức
được thành lập với mục tiêu thúc đẩy việc "hoàn thiện lao động thủ
công nghiệp bằng cách kết hợp mỹ thuật, công nghiệp và thủ công".
Trường Bauhaus, do Walter Gropius (1883-1969) thành lập năm 1919,
tồn tại đến năm 1933, đă nổi tiếng khắp thế giới Tương tự, Trường
đại học thiết kế Ulmdo Inge Aicher-Scholl (1917-1998), Otl Aicher
(1922-1991), Max Bill (1908-1994) thành lập năm 1953 cũng rất nổi
tiếng. Tuy lúc khởi đầu, trường đi theo bước chân của Bauhaus, nhưng
chẳng bao lâu sau đă theo đuổi những quan niệm của riêng ḿnh và lập
nên những tiêu chuẩn thiết kế được quốc tế thừa nhận trong suốt 15
năm tồn tại.

Trong thời đại thông tin, vai tṛ của thiết kế trong việc sáng tạo
phương tiện truyền thông mới càng quan trọng hơn. Ngoài việc định
dạng thẩm mỹ cho việc giải mă các thông tin phức hợp, thiết kế c̣n
đóng vai tṛ trung gian quan trọng giữa sự tiến bộ trong công nghệ
thông tin với sự phát triển văn hoá, xă hội.
Hội đồng thiết kế Đức tư vấn và cung cấp các thông tin về thiết kế
cho các nghành thương mại và công nghiệp, các cơ quan văn hoá và
công chúng. Một trong những trọng tâm hoạt động của Hội đồng là giới
thiệu thiết kế mẫu Đức ra nước ngoài. Thừa lệnh bộ trưởng Công
nghiệp và thương mại, hội đồng trao tặng "Giải thưởng Liên bang về
thiết kế sản phẩm" và "Giải thưởng Liên bang về khuyến khích thiết
kế"trong các năm đan xen nhau.
Ngoài hội đồng thiết kế Đức, ở các bang của Đức c̣n nhiều cơ quan
thiết kế khác. Trong số những cơ quan quan trọng nhất có Trung tâm
thiết kế Quốc tế ở Berlin, Trung tâm thiết kế ở Stuttgart, Trung tâm
thiết kế Nordrhein-Westfalen ở Essen. Nhiều cuộc triển lăm những sản
phẩm thiết kế xưa và nay được tổ chức tại "Sưu tập mới" ở München,
"Bảo tàng mới về mỹ thuật và thiết kế" ở Nürnberg, Nhà "Lưu trữ
Bauhaus" ở Berlin, Bảo tàng "Vitra Design" ở Weil/Rhein và Bảo tàng
mỹ thuật và thủ công ở Hamburg.
Sự quan tâm của các nhà thiết kế đối với chính trị và công chúng
được thể hiện qua Diễn đàn thiết kế Đức. Diễn đàn cũng lập nên Tiểu
ban thiết kế trong Hội đồng nghệ thuật Đức - tổ chức đứng đầu các
hội nghệ thuật Liên bang.
Điện ảnh Đức

Điện ảnh Đức là nền nghệ thuật và công nghiệp điện ảnh của Đức. Ra
đời từ cuối thế kỉ 19, cho đến nay điện ảnh Đức đă có nhiều đóng góp
kỹ thuật và nghệ thuật quan trọng cho điện ảnh thế giới.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, điện ảnh cả Đông và Tây Đức đi sâu
vào thảm hoạ quốc gia đó. Nhưng chẳng bao lâu sau, điện ảnh hai miền
đi theo hai ngả đường khác nhau phù hợp với sự phát triển chính trị
trái ngược nhau.
Trước năm 1918: Những nhà điện ảnh
tiên phong
Đức là một trong những nước đầu tiên phát triển kỹ thuật điện ảnh.
Ngày 1 tháng 11 năm 1895, hai anh em người Đức Max và Emil
Skladanowsky đă giới thiệu hệ thống Bioskop, một thiết bị để tŕnh
chiếu h́nh ảnh chuyển động, tại nhà hát Wintergarten ở Berlin. Max
Skladanowsky cũng đă có mặt trong buổi chiếu thu tiền đầu tiên trên
thế giới của Anh em Lumière tại Paris ngày 28 tháng 12 và nhận thấy
sự vượt trội của hệ thống Cinématographe so với hệ thống Bioskop của
ḿnh. Những nhà điện ảnh tiên phong của điện ảnh Đức c̣n phải kể tới
hai người Berlin Oskar Messter và Max Gliewe, hai nhà sáng chế đă sử
dụng kỹ thuật Chữ thập Malta (Croix de Malte, cho phép biến chuyển
động tṛn liên tục thành chuyển động tṛn gián đoạn) để chiếu các
h́nh ảnh chuyển động.
Trong thời ḱ đầu, cũng như ở các nước châu Âu khác, kỹ thuật điện
ảnh Đức chỉ được coi là một kỹ xảo biểu diễn lạ mắt để tŕnh chiếu
tại các hội chợ, các đoạn phim được chiếu chủ yếu là quay lại các
cảnh đời thực và có thời gian ngắn. Phải đến thập niên 1910, những
bộ phim điện ảnh thực sự đầu tiên mới được thực hiện ở Đức, có thể
kể tới một chuyển thể điện ảnh từ tiểu thuyết The Student of Prague
của Edgar Allan Poe, bộ phim này do Paul Wegener và Stellan Rye
(người Đan Mạch) đồng đạo diễn.
Trước năm 1914, có rất nhiều bộ phim câm nước ngoài, đặc biệt là
phim câm Ư và Đan Mạch, được nhập khẩu vào Đức v́ công chúng nước
này rất ưa chuộng các bộ phim có các ngôi sao điện ảnh và cốt truyện
hấp dẫn. Nhu cầu nội địa này đă thúc đẩy sự phát triển của điện ảnh
Đức, các ngôi sao điện ảnh nội địa bắt đầu xuất hiện, tiêu biểu là
nữ diễn viên Henny Porten, thể loại phim trinh thám, sở trường của
điện ảnh Đức, cũng bắt đầu được sản xuất nhiều với chất lượng ngày
một nâng cao, đặc biệt là những tác phẩm của Fritz Lang, người sau
này trở thành đạo diễn huyền thoại của điện ảnh Đức.
Thế chiến thứ nhất nổ ra đă khiến thị trường Đức với hơn 2000 rạp
chuyên dụng cho điện ảnh bị thiếu hụt phim v́ Pháp, một trong những
nước cung cấp phim nhiều nhất lại đang ở phe đối nghịch với nước Đức
trong chiến tranh. Từ năm 1916, các rạp phim bắt đầu phải tổ chức
các buổi diễn tạp kỹ để thay thế cho những buổi chiếu phim bị hoăn.
Trước t́nh h́nh này, năm 1917 quá tŕnh tập trung và quốc hữu hóa
từng phần công nghiệp điện ảnh Đức bắt đầu được xúc tiến với việc
thành lập hăng phim Universum Film AG (Ufa). Hăng này đă lập tức cho
sản xuất những bộ phim tuyền truyền chất lượng cao (phim Vaterland -
phim về Tổ quốc, vốn cũng là một thế mạnh của nghệ thuật điện ảnh
Đức), để đáp trả lại những tác phẩm kiểu này của phe Liên minh. Bên
cạnh đó Ufa cũng tung ra các bộ phim giải trí nhẹ nhàng để thu hút
khán giả, với phương thức sản xuất cân bằng như vậy, công nghiệp
điện ảnh Đức đă nhanh chóng vươn lên vị trí hàng đầu của điện ảnh
châu Âu.
1918-1933: Điện ảnh Cộng ḥa
Weimar

Sau khi chiến tranh kết thúc, phim ảnh
vươn lên trở thành phương tiện giải trí hàng đầu của người Đức, tạo
điều kiện cho công nghiệp điện ảnh nước này bùng nổ mạnh mẽ. T́nh
trạng lạm phát phi mă cũng giúp các nhà sản xuất phim trở nên giàu
có và dễ dàng bỏ tiền đầu tư cho các bộ phim nghệ thuật vốn có doanh
thu thấp. Với những thuận lợi này, nghệ thuật điện ảnh Đức bắt đầu
đặt được dấu ấn ở châu Âu với các tác phẩm theo Chủ nghĩa biểu hiện
Đức (Expressionismus). Bộ phim đánh dấu sự phổ biến của trào lưu
biểu hiện là Das Cabinet des Dr. Caligari (1920) của Robert Wiene.
Các tác phẩm đáng chú ư khác của trào lưu này có thể kể tới
Nosferatu (1922) của Friedrich Wilhelm Murnau... Tuy trào lưu nghệ
thuật này sớm chấm dứt vào khoảng giữa thập niên 1920 nhưng nó vẫn
có ảnh hưởng lớn đến điện ảnh thế giới, đặc biệt là với ḍng phim
kinh dị và phim đen (film noir) ở Mỹ hay các tác phẩm của Jean
Cocteau và Ingmar Bergman.
Năm 1921, Ufa được bán cho ngân hàng
Deutsche Bank, với nguồn vốn tư nhân lớn từ hăng này, Ufa đă trở
thành đầu tàu cho công nghiệp điện ảnh Đức với sản lượng khổng lồ
khoảng 600 phim một năm trong thập niên 1920. Bên cạnh Ufa, công
nghiệp điện ảnh nước này c̣n có khoảng 230 công ty điện ảnh chỉ tính
riêng ở Berlin. Sự phát triển của công nghiệp điện ảnh Đức đă giúp
tạo ra những bộ phim với kinh phí cực lớn như Metropolis (1927) của
Fritz Lang, tác phẩm đắt giá nhất thế giới thời ḱ phim câm này tiêu
tốn tới 7 triệu Reichsmark (tương đương khoảng 200 triệu USD hiện
nay) để thực hiện. Tuy vậy với bản chất là một ngành công nghiệp
nhiều rủi ro nằm trong nền kinh tế chung của thời ḱ Cộng ḥa Weimar
vốn cũng thiếu tính ổn định, công nghiệp điện ảnh Đức đă gặp phải
những cuộc khủng hoảng khi các hăng phim nhỏ lâm vào t́nh trạng chi
tiêu vượt mức dẫn đến phá sản. Ngay cả ngọn cờ đầu Ufa cũng gặp rắc
rối khi cộng tác với hai hăng phim Mỹ là Paramount Pictures và
Metro-Goldwyn-Mayer năm 1925 để năm 1927 phải bán lại cho một nhà tư
bản theo Chủ nghĩa dân tộc tên là Alfred Hugenberg. Tuy vậy những
rắc rối tài chính của Ufa không ngăn cản hăng phim này cho ra đời
những bộ phim để đời như Madame Dubary (1919 của Ernst Lubitsch, Die
Nibelungen (1924) của Fritz Lang và Der letzte Mann (1925) của F.W.
Murnau.
Giai đoạn Weimar cũng chứng kiến sự ra
đời của nền phê b́nh phim Đức với những nhà phê b́nh nổi tiếng như
Rudolf Arnheim của tờ Die Weltbühne, Béla Balázs của tờ Der
Sichtbare Mensch, Siegfried Kracauer của tờ Frankfurter Zeitung và
Lotte H. Eisner của tờ Filmkurier.
Sau sự thống chỉ của trào lưu biểu hiện,
các nhà điện ảnh Đức bắt đầu t́m kiếm các đề tài và thể loại mới
trong thập niên 1920. Các bộ phim chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa khách
quan mới (Neue Sachlichkeit) thường tập trung vào các đề tài xă hội
như nạn nạo thai, mại dâm, đồng tính luyến ái và nghiện ngập với
phong cách thể hiện hiện thực chứ không c̣n sử dụng các phương pháp
biểu tượng theo trào lưu biểu hiện, các tác phẩm đáng chú ư của trào
lưu mới này có thể kể tới hai bộ phim của Georg Wilhelm Pabst, Die
Freudlose Gasse (1925) và Die Büchse der Pandora (1929). Ngược với
trào lưu khách quan mới, các bộ phim theo trào lưu Bergfilm, tiêu
biểu là những tác phẩm của Arnold Fanck, lại tập trung vào cuộc đối
đầu giữa con người với thiên nhiên ở vùng núi. Một hướng đi khác của
điện ảnh Đức là phim thể nghiệm với các đại diện như Lotte Reiniger,
Oskar Fischinger và Walter Ruttmann. Sự phân hóa về chính trị vào
cuối thời Weimar cũng ảnh hưởng tới một số tác phẩm, ví dụ điển h́nh
là loạt phim lịch sử lấy bối cảnh Vương quốc Phổ trong đó Otto
Gebühr thủ vai Friedrich Đại đế rất được những người dân tộc chủ
nghĩa cánh hữu ưa chuộng.
Cuối những năm 1920, kỹ thuật đồng bộ
hóa âm thanh đă cung cấp thêm cho các nghệ sĩ điện ảnh Đức những
cách thể hiện phim mới và thúc đẩy quá tŕnh hiện đại hóa nền công
nghiệp điện ảnh Đức. Trước khi nền Cộng ḥa Weimar sụp đổ năm 1933,
điện ảnh Đức đă kịp trang bị âm thanh cho 3800 rạp phim. Bộ phim Đức
có tiếng đầu tiên, Der blaue Engel, được đạo diễn người Áo Josef von
Sternberg thực hiện năm 1930 với sự tham gia của ngôi sao điện ảnh
quốc tế Marlene Dietrich. Nằm trong số những bộ phim có tiếng đầu
tiên này c̣n phải kể tới M (1931) của Lang và Berlin Alexanderplatz
(cũng 1931) của Pabst dựa theo vở nhạc kịch Die Dreigroschenoper của
kịch tác gia nổi tiếng Bertolt Brecht. Brecht cũng là một trong các
tác giả kịch bản của bộ phim cộng sản Kuhle Wampe (1932), tác phẩm
này bị cấm tŕnh chiếu gần như ngay sau khi nó được phát hành.
1933-1945: Điện ảnh Đức Quốc xă
Nền kinh tế và chính trị bất ổn của Cộng
ḥa Weimar đă buộc một số đạo diễn và diễn viên nổi tiếng phải rời
nước Đức, phần lớn trong số họ đến Hollywood để tiếp tục làm việc và
nổi tiếng, có thể kể tới đạo diễn Ernst Lubitsch (rời Đức năm 1923),
đạo diễn gốc Hungary Michael Curtiz (tới Mỹ năm 1926), ngôi sao điện
ảnh Marlene Dietrich (rời Đức năm 1930). T́nh trạng này càng trở nên
tồi tệ khi Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xă hội chủ nghĩa (Đảng Quốc
xă) của Adolf Hitler lên nắm quyền năm 1933, chỉ trong vài năm đă có
tới chừng 1500 đạo diễn, nhà sản xuất, diễn viên và các nghệ sĩ điện
ảnh khác rời bỏ Tổ quốc. Trong số này có những trụ cột của nền điện
ảnh Đức như người đứng đầu Ufa Erich Pommer, ngôi sao điện ảnh Peter
Lorre và đạo diễn huyền thoại Fritz Lang. Những người này sau đó đă
đóng góp rất lớn cho sự thịnh vượng của điện ảnh Hollywood, phần lớn
phim kinh dị của hăng Universal Pictures thực hiện trong thập niên
1930 được đạo diễn bởi những đạo diễn Đức lưu vong như Karl Freund,
Joe May và Robert Siodmak.
Khi Đảng Quốc xă giành lấy quyền lực,
tháng 3 năm 1933, ông chủ của Ufa Alfred Hugenberg, một đảng viên
Đảng Quốc xă, đă nhanh chóng sa thải toàn bộ nhân viên người Do Thái
khỏi xưởng phim. Tháng 6 năm 1933, Reichsfilmkammer (Pḥng điện ảnh
đế chế Đức) được thành lập dưới sự quản lư trực tiếp của Bộ trưởng
Bộ Tuyên truyền Đức Quốc xă Joseph Goebbels. Tất cả những nghệ sĩ
điện ảnh "không phải người Aryan" hoặc có lư lịch, xu hướng chính
trị không "phù hợp" với chính quyền Quốc xă đều bị coi là không
thuộc nền "Điện ảnh theo tinh thần của Đế chế" (Reichsfachschaft
Film) và bị loại bỏ lập tức khỏi ngành công nghiệp này. Khoảng 3000
người đă phải chịu hệ quả mất việc do lệnh cấm trên. Thêm vào đó, v́
báo chí cũng phải tuân theo sự tổ chức của Bộ Tuyên truyền, năm 1936
Goebbels loại bỏ luôn nền phê b́nh điện ảnh Đức trước đó mà thay
bằng h́nh thức Filmbeobachtung (quan sát phim) theo đó các nhà báo
chỉ được viết về nội dung của phim, không được phép đánh giá về chất
lượng nghệ thuật hoặc các mặt khác của tác phẩm.
Thể loại phim được khuyến khích sản xuất
thời ḱ này hoặc là các bộ phim tuyên truyền và bài Do Thái như Der
ewige Jude (1940), Jud Süß (1940), hoặc là các phim có tính giải trí
cao. Từ sau năm 1936, việc nhập khẩu phim vào Đức bị hạn chế, thay
thế vào đó công nghiệp điện ảnh Đức phải mở rộng để bù đắp lượng
thiếu hụt (đặc biệt là khoảng trống do các phim Mỹ để lại).
Trong những năm chiến tranh, điện ảnh
trở thành một liệu pháp tinh thần quan trọng giúp người Đức quên đi
những thất bại liên tiếp ở mặt trận phía Đông và các cuộc không kích
liên tiếp của quân Đồng Minh xuống đất Đức, trong những năm 1943 và
1944 lượng vé bán được của các rạp phim Đức đă đạt tới khoảng 1 tỷ
vé.
Mặc dù bị đặt dưới sự kiểm soát ngặt
nghèo của Bộ Tuyên truyền Đức Quốc xă và chịu sự thiếu hụt nghiêm
trọng về tài năng, điện ảnh Đức những năm cuối thập niên 1930 và đầu
thập niên 1940 vẫn có nhiều bước đột phá về kỹ thuật và nghệ thuật.
Hăng Agfa của Đức là một trong những hăng đầu tiên trên thế giới
tung ra thị trường loại phim màu (Agfacolor), c̣n nữ đạo diễn Leni
Riefenstahl cũng đưa ra những chuẩn mực mới cho điện ảnh thế giới về
kỹ thuật quay và biên tập phim trong các tác phẩm của bà như Triumph
des Willens (1935, phim tuyên truyền xuất sắc nhất mọi thời đại),
các phim tài liệu về cuộc đại hội của Đảng Quốc xă (Reichsparteitag)
ở Nürnberg năm 1934 và về Thế vận hội mùa hè 1936.
Sau khi nước Đức chính thức đầu hàng
quân Đồng Minh ngày 8 tháng 5 năm 1945, Thế chiến thứ hai kết thúc,
công nghiệp điện ảnh cũng chịu ảnh hưởng lớn cả về kinh tế và chính
trị. Về chính trị, nước Đức bị chia thành hai nửa do một bên là Liên
Xô, một bên là Anh, Mỹ và các đồng minh phương Tây cai quản dẫn đến
việc h́nh thành hai nền điện ảnh riêng biệt với những hướng phát
triển và tư tưởng nghệ thuật khác nhau rơ rệt. Tuy nhiên với nền
tảng công nghiệp điện ảnh cực ḱ phát triển giai đoạn trước, điện
ảnh Đức đă nhanh chóng hồi phục.
Điện ảnh Đông Đức 1945 - 1989
Cộng ḥa Dân chủ Đức được h́nh thành
trên phần lănh thổ Đức do Hồng quân Liên Xô quản lư, trong đó có hầu
như toàn bộ cơ sở vật chất của hăng Ufa. Chính v́ lư do này nên tốc
độ hồi phục của điện ảnh Đông Đức thậm chí c̣n nhanh hơn ở Tây Đức.
Tháng 5 năm 1945, chỉ 3 tuần sau khi chiến tranh kết thúc, các rạp
phim đă được mở lại ở Berlin. Ngày 17 tháng 5 năm 1946, công ty cổ
phần điện ảnh Deutsche Film-Aktiengesellschaft (DEFA) được thành lập
và được trao quyền sở hữu đối với tất cả các cơ sở điện ảnh do Ban
chỉ huy quân đội Xô viết ở Đức tịch thu trước đó. Phần lớn cổ phần
của DEFA thuộc về Đảng Thống nhất Xă hội chủ nghĩa Đức (SED), đảng
từ năm 1949 là đảng cầm quyền của Cộng ḥa Dân chủ Đức.
Tổng cộng DEFA đă sản xuất khoảng 900 bộ
phim điện ảnh, 800 phim hoạt h́nh và hơn 300 phim tài liệu hoặc phim
ngắn. Trong giai đoạn đầu từ năm 1948 đến 1953, do bị kiểm duyệt về
đề tài nên ngoài những phim thời sự và phim giáo dục, chỉ có khoảng
50 phim điện ảnh được sản xuất. Trong những năm sau đó, với việc đa
dạng hóa đề tài, sản lượng phim của DEFA tăng lên rất nhanh. Hăng
này đặc biệt mạnh về phim trẻ em với các tác phẩm như bộ phim thần
thoại Drei Haselnüsse für Aschenbrödel (1973). DEFA c̣n sản xuất các
phim khoa học viễn tưởng như Der schweigende Stern (1960) dựa theo
tiểu thuyết của nhà văn Ba Lan Stanislaw Lem, phim Ostern (phim miền
Tây kiểu xă hội chủ nghĩa) như Die Söhne der großen Bärin (1966)
trong đó trái ngược với các phim miền Tây truyền thống của
Hollywood, nhân vật anh hùng lại là một người Da đỏ.
Các bộ phim nghệ thuật nổi tiếng của
DEFA có thể kể tới Der Untertan (1951) của đạo diễn Wolfgang Staudte
chuyển thể từ tiểu thuyết nổi tiếng của Heinrich Mann, Der geteilte
Himmel (1964) của Konrad Wolf và Jakob der Lügner (1973) của Frank
Beyer (phim Đông Đức duy nhất được đề cử Giải Oscar cho phim ngoại
ngữ hay nhất). Tuy nhiên do sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị của
chính quyền Cộng ḥa Dân chủ Đức, điện ảnh Đông Đức đôi khi gặp rắc
rối về đề tài và kiểm duyệt, v́ lư do này nên từ cuối thập niên 1970
một số nhà làm phim Đông Đức đă rời sang làm việc ở Tây Đức.
Trong những năm cuối cùng, khi việc nhập
phim nước ngoài, đặc biệt là từ các nền điện ảnh phương Tây, được
tăng cường, tầm quan trọng của DEFA với điện ảnh Đông Đức suy giảm
dần. Sau khi nước Đức thóng nhất, hăng này bị Treuhand, cơ quan phụ
trách tư nhân hóa tài sản nhà nước Đông Đức, phát mại, tuy vậy bản
quyền các bộ phim của hăng hiện vẫn do Quỹ DEFA (DEFA-Stiftung) nắm
giữ.
Điện ảnh Tây Đức năm 1945 - 1989
Sau khi chiến tranh kết thúc, Cộng ḥa
Liên bang Đức được thành lập trên phần lănh thổ Đức do quân đội Đồng
Minh, đứng đầu là Mỹ quản lư. Do vậy, các bộ phim Mỹ bắt đầu tràn
vào thị trường điện ảnh Đức, trong thập niên 1950 các bộ phim Đức
chỉ c̣n chiếm khoảng 40% thị phần điện ảnh trong nước, 30% khác do
các bộ phim Mỹ nắm giữ.
Do bị chiến tranh tàn phá và nhiều cơ sở
điện ảnh quan trọng lại nằm trên đất Đông Đức, các bộ phim Tây Đức
thời ḱ đầu được quay ngoại cảnh ngay tại những khu phố đổ nát do
không kích, đây là xuất phát cho cái tên Trümmerfilm (phim mảnh vỡ).
Các bộ phim thuộc thể loại này thường chịu ảnh hưởng từ trào lưu Tân
hiện thực trong Điện ảnh Ư và tập trung miêu tả tác động của cuộc
chiến đến cuộc sống và số phận con người.
Mặc dù thập niên 1950 chứng kiến sự phát
triển của loại h́nh giải trí mới là truyền h́nh, nhưng số lượng khán
giả đến rạp vẫn tăng đều và đạt đỉnh điểm là 817,5 triệu lượt khán
giả vào năm 1956. Để thu hút khán giả, phần lớn các bộ phim được sản
xuất đều là phim giải trí đơn thuần và rất ít phim có chất lượng
nghệ thuật cao hoặc đụng tới các đề tài xă hội gai góc. Các thể loại
phim giải trí phổ biến khác thường là những chuyển thể của các vở
operetta, phim tâm lư (melodrama) có bối cảnh bệnh viện, phim hài và
phim ca nhạc. Việc tái thành lập quân đội Đức (Bundeswehr) vào năm
1955 đă cung cấp thêm cho điện ảnh Tây Đức một đề tài mới, đó là các
bộ phim chiến tranh miêu tả những người lính Đức b́nh thường nhưng
lại chiến đấu dũng cảm và thờ ơ với chính trị trong thời gian Thế
chiến. Bên cạnh đó là các bộ phim chiến tranh nói về những lực lượng
chống Hitler ở Đức (Widerstand).

Do chất lượng nghệ thuật không cao v́
vậy tầm ảnh hưởng quốc tế thời ḱ này của điện ảnh Tây Đức thua xa
Pháp, Ư và Nhật Bản. Chỉ có một số ít phim Đức được quốc tế chú ư
như tác phẩm được đề cử Giải Oscar Die Brücke (1959) của đạo diễn
Bernhard Wicki, bên cạnh đó là một số nữ diễn viên có tên tuổi như
Hildegard Knef và Romy Schneider.
Phim Cộng hoà Liên bang Đức bắt đầu nở
rộ về nghệ thuật trong những năm 60 và 70. Tuy nhiên thập niên 1960
cũng là Thời kỳ khủng hoảng của nền điện ảnh Đức. Sau khi tăng đều
trong nửa đầu thập niên 1950, lượng khán giả đến rạp thời gian sau
đó bắt đầu chững lại và rơi tự do trong thập niên 1960. Năm 1969
chứng kiến lượng khán giả ít kỉ lục với chỉ 172,2 triệu lượt người,
chưa đầy 1/4 so với năm có lượng khán giả cao nhất là 1956. Hệ quả
của việc này là một loạt công ty sản xuất và phát hành phim Tây Đức
phá sản trong khi số rạp phim giảm xuống gần một nửa. Nguyên nhân
trực tiếp cho sự sa sút này là khủng hoảng thừa của công nghiệp điện
ảnh Đức, v́ vậy để đối phó các nhà làm phim Đức buộc phải cắt giảm
số phim sản xuất mỗi năm từ 123 năm 1955 xuống c̣n 65 năm 1965. Tuy
vậy nguyên nhân sâu xa của vấn đề lại là sự thay đổi điều kiện sống
và điều kiện xă hội quá nhanh trong thời ḱ phát triển thần ḱ
(Wirtschaftswunder) của kinh tế Đức đă mang lại cho người dân Đức
nhiều lựa chọn giải trí khác ngoài điện ảnh. Điển h́nh là truyền
h́nh, nếu như năm 1953 cả Tây Đức chỉ có khoảng 10.000 máy thu h́nh
th́ đến năm 1962 con số này đă là 7 triệu.
Các thể loại phim phổ biến thập niên
1960 có thể kể tới phim miền Tây, đặc biệt là loạt phim chuyển thể
từ những tiểu thuyết ăn khách của Karl May. Phim kinh dị Đức thời ḱ
này đáng chú ư có loạt phim chuyển thể từ tác phẩm của Edgar Wallace
với các diễn viên quen thuộc Klaus Kinski, …. Tất cả các bộ phim đều
hướng tới mục đích kéo khán giả trở lại rạp v́ vậy tuy chúng khá ăn
khách nhưng lại bị giới phê b́nh chỉ trích v́ chất lượng nghệ thuật
thấp.
Thập niên 1970: Nền điện ảnh mới
Đứng trước sự sa sút cả về nghệ thuật và
doanh thu của điện ảnh Tây Đức, một nhóm đạo diễn trẻ đă cùng kư vào
Bản tuyên ngôn Oberhausener (Oberhausener Manifest) ngày 28 tháng 2
năm 1962. Những người phản đối nền điện ảnh Đức lúc này và quyết tâm
xây dựng một nền điện ảnh Đức mới dựa trên chất lượng nghệ thuật chứ
không c̣n chỉ tập trung vào việc thu lợi nhuận.
Trên nền tảng "Tuyên ngôn Oberhausen", trong đó, các nhà làm phim
trẻ năm 1962 đă đ̣i hỏi một nghệ thuật điện ảnh mới không bị ràng
buộc bởi các quy ước thông thường hay áp lực thương mại, vào giữa
những năm 60, "Điện ảnh Đức" đă ra mắt, hàm chứa một sự chuyển đổi
thế hệ và đem đến một xu hướng thẩm mỹ mới. Các khuynh hướng thử
nghiệm, tham vọng về h́nh thức và nhiệt t́nh phê phán xă hội là đặc
điểm của những bộ "phim tác giả" của Alexander Kluge (Chia tay với
hôm qua, 1966), Jean-Marie Straub (Biên niên sử của Anna Magdalena
Bach, 1968), …
Bất chấp việc Bộ Nội vụ Liên bang Đức thành lập Kuratorium Junger
Deutscher Film (Ủy ban các nhà điện ảnh trẻ) để giúp đỡ về mặt
tài chính cho các bộ phim Đức mới, những đạo diễn của nhóm
Oberhausener, hay các đạo diễn Điện ảnh Đức mới (Neuer Deutscher
Film) vẫn từ chối việc hợp tác với công nghiệp điện ảnh Đức,
thay vào đó họ t́m sự trợ giúp từ ngành truyền h́nh. Những đạo diễn
trẻ này được thử sức bằng những bộ phim truyền h́nh hoặc loạt phim
tài liệu truyền h́nh, những tác phẩm này sau khi được phát sóng đầu
tiên trên truyền h́nh cũng được chiếu tại các rạp phim nhưng hầu hết
đều không gây tiếng vang. Bước ngoặt chỉ đến vào năm 1974, khi Hiệp
định điện ảnh và truyền h́nh (Film-Fernseh-Abkommen) được hai
hăng truyền h́nh lớn nhất liên bang, ARD và ZDF, kư với Ủy ban điện
ảnh Liên bang Đức (Filmförderungsanstalt - FFA) về
việc FFA cấp một ngân sách hàng năm cho phép các công ty truyền h́nh
quyền sản xuất các bộ phim cho cả mục đích phát hành điện ảnh và
tŕnh chiếu trên truyền h́nh (khoảng ngân sách này hiện nay khoảng
từ 4,5 đến 12,94 triêu euro một năm). Cũng theo hiệp định trên, các
bộ phim sử dụng ngân sách chỉ được phép chiếu trên truyền h́nh 24
tháng sau khi phát hành tại các rạp. Hiệp định này đă giúp các đạo
diễn của thế hệ Điện ảnh Đức mới có cơ hội thành công trên màn ảnh
lớn trước khi các tác phẩm của họ tŕnh chiếu trên màn ảnh nhỏ.
Trào lưu điện ảnh mới này đă giúp điện ảnh Đức lần đầu tiên gây được
ảnh hưởng ở tầm quốc tế kể từ sau thời ḱ Cộng ḥa Weimar. Các tác
phẩm xuất sắc như Abschied von Gestern (1966) của Kluge, Aguirre,
der Zorn Gottes (1972) của Herzog, Angst essen Seele auf (1974) của
Fassbinder và Paris, Texas (1984 của Wenders được giới điện ảnh quốc
tế đánh giá rất cao. Thường các tác phẩm này lại thành công ở nước
ngoài trước khi gây tiếng vang ở thị trường trong nước. Các tiểu
thuyết đặc sắc thời hậu chiến của các tác giả lớn như Heinrich Böll,
Günter Grass cũng giúp các đạo diễn trẻ có thêm nguồn kịch bản gốc
phong phú và có chất lượng.
Trong những năm 1980, các nhà làm phim đại diện trào lưu điện ảnh
trẻ Đức ngày càng thành công trên trường quốc tế. Năm 1979, Volker
Schöndorff đoạt giải Cành cọ vàng tại Cannes và năm 1980 đoạt một
giải Oscar tại Hollywood cho bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết Cái
trống thiếc của Günther Grass. Năm 1984, Wim Wenders nhận giái Cành
cọ vàng tại liên hoan phim Cannes với phim Paris Texas và năm 1987
ông làm thế giới điện ảnh ngạc nhiên với bộ phim tuyệt vời Bầu trời
Berlin. Giải đạo diễn xuất sắc nhất năm 1982 tại Cannes thuộc về
Werner Herzog với bộ phim gây ấn tượng Fitzcarraldo,bộ phim diễn tả
bi kịch của thữ chủ nghĩa cá nhân điên rồ trong môi trường ngoại
lai. Quan tâm phê phán những mối quan hệ trong nước, Margrethe von
Trotta đă trở nên nổi tiếng với các chân dung phụ nữ đầy ấn tượng
trong các phim như Thời kỳ nặng nề (1981), và Rosa Luxemburg (1986).
Mặc dù có những thành công kể trên, song sự hưng thịnh bắt nguồn từ
điện ảnh trẻ Đức không bêng lâu. Khi phong trào 68 mang tính phê
phán xă hội lụi tắt, nền điện ảnh mất đi hậu thuẫn về chính trị, và
nói chung "phim tác giả" không thiết lập được một nền tảng chắc chắn
về kinh tế đủ sức chống chọi với làn sóng tấn công của phim thương
mại Mỹ đang mạnh trở lại.
Điện ảnh Cộng hoà Dân chủ Đức
Sau khi hai miền nước Đức thống nhất, các cơ sở điện ảnh ở Tây Đức
hầu như chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường. Hiện nay các hăng phim lớn
nhất của Đức là Constantin Film, Bavaria, Studio Hamburg và UFA. Các
hăng phim này đă cố gắng cho ra đời các bộ phim có chất lượng cao
như ở thập niên 1970.
Được sản xuất bởi Hăng phim độc quyền DEFA, điện ảnh - được nhà nước
tài trợ và kiểm soát - của Cộng hoà Dân chủ Đức phục tùng cá mục
tiều chính trị của đảng cầm quyền. Phim tuyên truyền ra mắt ở mọi
thể loại. Mặt khác, các nghệ sĩ t́m cách thoát khỏi những ràng buộc
trong sáng tạo. Dao động giữa thành công và thất bại của các phim
DEFA đem đến sự phản ánh thời đại đầy mâu thuẫn, đồng thời nêu bật
những h́nh ảnh chân thực của cuộc sống, tính khách quan nghệ thuật
và cả chất lượng phim xuất sắc.
Những thăng trầm này trước hết với xưởng phim Babelsberg. Giai đoạn
đầu của xưởng phim này do Wolfgang Staudte định đoạt về mặt nghệ
thuật. Năm 1951, ông quay bộ phim Kẻ bề tôi - một tác phẩm trào
phúng nổi tiếng dựa theo tiểu thuyết của Heinrich Mann, nhưng rồi do
mâu thuẫn với "chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa" ông quay lưng
lại với điện ảnh Cộng hoà Dân chủ Đức. Cuối những năm 1950, Đảng
cộng sản không cho phép đưa ra chiếu một số bộ phim, ví dụ Những
phim Berlin của Gerherd Klein và Wolfgang Kohlhaase. Năm 1965, hầu
hết các tác phẩm điện ảnh trong năm chỉ trích những hiện trạng của
"chủ nghĩa xă hội có thật" đều bị dừng. Năm sau đó, phim Dấu vết của
đá của Frank Beyer - một bộ phim vật lộn dữ dội với hiện thực đương
thời - đă bị dừng ngay sau khi tŕnh chiếu.
Các phim "chống phát xít" của DEFA phê phán tội lỗi Đức cũng là một
cách để tránh né bức tranh đương thời lẽ ra phải được lột tả. Một
trong những phim đầy ấn tượng là Năm tôi mười chín tuổi (1967) của
Konrad Wolf. Trong thập niên 70 đă có thể xuất hiện một số phim mang
tính thử nghiệm, góc cạnh về hiện thực đương thời (Những chiếc ch́a
khoá của Egon Günther (1974), cùng với Truyền thuyết về Paul và
Paula(1973) của Heiner Carow đă gặt hái thành công lớn). H́nh ảnh
một nước Cộng hoà Dân chủ Đức không có những ảo tưởng được thể hiện
trong bộ phim Solo Sunny (1980) của Konrad Wolf - đạo diễn nổi tiếng
nhất của DEFA, mất năm 1982. Tiếp đó là những phim phê b́nh với giá
trị nghệ thuật cao khác (Những cuộc thám hiểm, năm 1982 của Roland
Graf), nhưng không lâu sau xưởng phim hầu như bị buộc phải ngừng
hoạt động do các biện pháp của Đảng. Ngược lại, mảng phim tài liệu
lại xây dựng được một khuynh hướng vừa hiện thực, vừa giàu chất thơ
(Nhân viên hoả xa, 1984 của Jürgen Bötteher; Cuộc sống ở Wittstock,
1984 của Volker Koepp, Tạm biệt mùa đông, năm 1988 của Helke
Misselwitz).
Sau thống nhất nước Đức năm 1990, hăng phim nhà nước DEFA ngừng sản
xuất. Tuy nhiên, xưởng phim giàu truyền thống (trước kia thuộc Ufa)
ở Babelsberg gần Berlin đă có bước nhảy vọt tới tương lai: hiện nơi
đây đă được mở rộng thành một trung tâm truyền thông rất hiện đại,
điểm hội tụ của rất nhiều hăng và cơ sở sản xuất phim.
Những xu hướng hiện tại.
Một mặt, thập niên 1990 được đánh dấu bởi những khó khăn trong việc
hội nhập của điện ảnh Đông Đức - việc hội nhập này thành công chủ
yếu với các nghệ sĩ và nhà sản xuất trẻ, đặc biệt trong lĩnh vực
truyền h́nh. Mặt khác, t́nh h́nh chung của điện ảnh được khắc hoạ
bởi những bộ phim Mỹ ngày càng thống trị thị trường, đẩy lùi không
chỉ phim Đức mà cả phim châu Âu nói chung.
Chỉ một vài phim Đức trụ được trong các rạp chiếu - như các phim của
Joseph Vilsmaier (Người anh em của giấc ngủ, năm 1995, Những nhạc sĩ
hài,năm 1997) hay phim của Helmut Dietl-người với tác phẩm trào
phúng xă hội sắc bén Schtonk đă soi mói sự phát hiện tưởng tượng
những cuốn nhật kư của Hitler trên tạp chí Stern, và trong Rossini
(1996) phơi bày sự phù phiếm trong chính làng điện ảnh.
Nhóm phim hài và trào phúng dần h́nh thành và dễ dàng thu hút khán
giả trong nước đến với điện ảnh Đức (Chẳng ai yêu tôi, năm 1995 của
Doris Dörrie, Người đàn ông xúc động, năm 1994 của Sönke Wortmann).
Với sự hài hước mang tính chủ quan, những bộ phim này chưa vượt nổi
biên giới quốc tế, tuy nhiên đă dẫy lên sự nhảy vọt trong nền điện
ảnh Đức. Mặc dù một số ít tác phẩm có được sự chú ư quốc tế - ví dụ
phim đầu tay của Romuald Karmaker Kẻ tạo ra cái chết, năm 1995,
trong đó Götz George đóng vai một kẻ giết người hàng loạt, cho tới
lúc này, điện ảnh Đức hiện tại vẫn chưa đạt được sự công nhận quốc
tế như điện ảnh Đức trẻ ngày nào.
Thời kỳ 1998-2000 có những dấu hiệu đầy hứa hẹn. Chạy đi, Lola, một
phim tâm lư hiện sinh của Tom Tykwer, đạt thành công quốc tế. Thành
công bất ngờ nữa là bộ phim đầu tay Đại lộ mặt trời, trong đó đạo
diễn sân khấu Đông Đức Leander Haussmann hồi tưởng lại tuổi trẻ của
ḿnh ở Cộng hoà Dân chủ Đức một cách khôi hài. Những người không thể
động đến của Oskar Roehler - bộ phim phản ánh những tranh luận về ư
thức hệ ở Đức - cũng được hoan nghênh. Và những "bậc thầy cũ" đă
xuất hiện trở lại - như Volker Schlöndorff với phim Yên lặng sau
phát súng, Wim Wenders với bộ phim tài liệu lôi cuốn Câu lạc bộ xă
hội Buena Vista mô tả một nhóm nhạc công già từ Havânn, và Werner
Herzog, người hồi tưởng đến nam diễn viên quan trọng nhất trong các
phim của ông - Klaus Kinski - với phim Kẻ thù thân yêu nhất của tôi.
Sự mới mẻ trong làng điện ảnh Đức ngày nay c̣n được phản ánh qua
việc các công ty Đức được cổ phần hoá, nhiều phim được hợp tác sản
xuất quốc tế và những phim lớn được tài trợ. Đóng góp của Đức cho
thị trường phim quốc tế được đảm bảo bởi những nhà sản xuất như
Bernd Eichinger cũng như các đạo diễnWolfgang Peterson và Roland
Emmerich - những người đă tạo lập được chỗ đứng ở Hollywood.
Các rạp chiếu phim, liên hoan phim và tài trợ điện ảnh. Năm 1999,
khoảng 1.180 rạp chiếu phim ở Đức với xấp xỉ 4.650 pḥng chiếu đă
phục vụ hơn 1.490 triệu lượt người. Số khán giả xem phim ngày càng
đông là nhờ điện ảnh Đức phát triển mạnh. Đầu tư vào rạp chiếu phim
Đức ở mức cao chưa từng thấy : Việc xây dựng các rạp chiếu phim liên
hợp với sự đầu tư của các tập đoàn truyền thông và các doanh nghiệp
quốc tế kể từ đầu những năm 1990 đang làm thay đổi về cơ bản quang
cảnh các rạp chiếu phim Đức. Tại nhiều thành phố, các trung tâm giải
trí đa năng này - đặc biệt được giới trẻ đón nhận - đang thay thế
các rạp chiếu bóng truyền thống. Nhiều liên hoan phim được tổ chức
tốt và có ảnh hưởng rộng đóng vai tṛ quan trọng trong việc thiết
lập chỗ đứng cho phim Đức trên thị trường nội địa cũng như tạo uy
tín ở nước ngoài.
Diễn đàn quan trọng nhất cho phim ảnh là Liên hoan phim quốc tế ở
Berlin (liên hoan "Berlinale"), ra đời năm 1951, một trong những
liên hoan phim có ư nghĩa nhất châu Âu bên chạnh các liên hoan
Cannes và Venice, và nhờ đó trở thành một trong những địa điểm giao
lưu đáng kể của giới nghệ sĩ điện ảnh và sản xuất phim. Ngoài ra,
các liên hoan phim ở Mannheim, Oberhausen và Leipzig cũng có vị thế
quốc tế, và cả các liên hoan phim và liên hoan định hướng chuyên sâu
ở Hof, München, Lübeck, Hamburg, cũng như các thành phố khác cũng
vừa đặt các phim nội địa vào bối cảnh điện ảnh quốc tế, vừa đóng góp
cho sự phát triển nghệ thuật điện ảnh và sự ổn định kinh tế.
Tuy vậy, mặc dù có những thành công mà điện ảnh Đức đă lại đạt được,
lịch chiếu phim tại các rạp vẫn bị những bộ phim được sản xuất và
tiếp thị công phu của Mỹ thống trị - do Đức là thị trường quan trọng
nhất của Hollywood ở châu Âu. Bên cạnh đó, các rạp chiếu phim phải
đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ phía truyền h́nh và
các phương tiện truyền thông khác - đặc biệt với các dịch vụ giải
trí ngày càng đa dạng của truyền h́nh tư nhân cũng như truyền h́nh
cáp và vệ tinh, truyền h́nh trả tiền và video. Mặt khác, ngày nay,
nhiều phim truyện nhựa được hợp tác sản xuất với các đài truyền
h́nh.
Thực trạng này đ̣i hỏi công nghiệp điện ảnh phải có sự cân bằng.
Củng cố quyền của các nhà sản xuất phim độc lập là một điều kiện cần
thiết để khuyến khích phim nội địa, nhiệm vụ mà chính quyền Liên
bang đă đặt ra cho ḿnh trong khuôn khổ một chính sách văn hoá và
kinh tế hiện đại. Năm 1999, một "Liên minh cho điện ảnh " được thành
lập nhằm cùng tất cả các cơ quan cải thiện t́nh h́nh pháp lư, cơ cấu
và tài chính của điện ảnh Đức. Việc củng cố nền điện ảnh Đức và ảnh
hưởng quốc tế của nó cũng đồng thời có nghĩa là mở rộng vị thế của
điện ảnh Đức ở châu Âu, và vị thế của điện ảnh châu Âu nói chung.
Đây chính là mục tiêu của Viện làn lâm điện ảnh Pháp - Đức, thành
lập năm 2000.
Tiền từ công quỹ được dùng để bảo vệ tài sản văn hoá điện ảnh trước
sự cạnh tranh quá mạnh mẽ và thúc đẩy điện ảnh phát triển. Khoảng
350 triệu mác là tổng số tiền tài trợ cho điện ảnh Đức năm 1999. Số
tiền này bao gồm trợ cấp văn hoá và kinh tế của chính quyền các bang
và Liên bang cũng như khoảng 100 triệu mác của Cơ quan hỗ trợ điện
ảnh Đức (FFA)1. Được thành lập bởi Luật hỗ trợ điện ảnh của Liên
bang, FFA có nguồn thu từ những khoản nộp của các rạp chiếu phim,
các đài truyền h́nh và ngành công nghiệp video. Số tiền này không
chỉ dùng để hỗ trợ sản xuất phim, mà c̣n hỗ trợ cả các rạp chiếu
phim. Những khoản tài trợ riêng từ các bang hay Liên bang được phân
phối trước hết cho các mục đích xây dựng kịch bản, sản xuất, phát
hành và chiếu phim.
Tâm điểm của tài trợ nhà nước cho văn hoá điện ảnh là Giải thưởng
phim Đức, được trao cho những bộ phim Đức xuất sắc nhất kể từ năm
1951. Giải thưởng nêu bật những thành tựu riêng lẻ và trao các khoản
tiền thưởng lớn cho các phim đặc biệt xuất sắc (có thể lên tới 1
triệu mác cho một giải vàng), số tiền sẽ dùng để sản xuất các bộ
phim mới. Trong những năm gần đây, lễ trao giải thưởng phim Đức đă
phát triển thành một ngày hội huy hoàng góp phần phổ biến phim Đức.
Thư viện
Khác với các nước khác, Đức không có thư viện quốc gia lớn, tồn tại
từ hàng thế kỷ trước. Phải đến năm 1933, thư viện mới thành lập lúc
bấy giờ là Deutsche Bücherei (Thư viện Đức) ở Leipzig mới tập hợp
tất cả sách báo viết bằng tiếng Đức lại một nơi . Sự chia cắt nước
Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai đă dẫn tới việc thành lập
Deutsche Bibliothek (Thư viện Đức) ở Frankfurt/Main năm 1947. Vai
tṛ của thư viện mới ở phía Tây cũng giống như thư viện Leipzig ở
phía Đông. Thư viện này được ngành phát hành sách lập ra và từ 1969
trở thành một cơ quan của Liên bang.

Theo Hiệp ước thống nhất tháng 8-1990, hai thư viện được sáp nhập
với tên gọi chung là "Die Deutsche Bibliothek". Die Deutsche
Bibliothek là nơi lưu trữ trung tâm của tất cả các thư tịch tiếng
Đức và trung tâm thông tin thư mục quốc gia của Liên bang. Hiện tại,
thư viện có hơn 14 triệu đầu sách. Năm 1970, Lưu trữ âm nhạc Đức
được thành lập ở Berlin như một bộ phận đặc biệt của Thư viện Đức ở
Frankfurt. Ngoài ra Lưu trữ thư tịch lưu vong Đức 1933 - 1945 cũng
đóng ở Frankfurt. Tại Leipzig c̣n có Trung tâm boả tồn sách và Bảo
tàng sách và thư tịch Đức.
Hai trong số các thư viện học thuật quan trọng nhất của nước Đức là
Bayeriche Staatsbibliothek (Thư viện nhà nước bang Bayern) ở Müchen
với hơn sáu triệu đầu sách và "Staatsbibliothek zu Berlin -
Preussischer Kulturbesitz" (Thư viện nhà nước Berlin-Tài sản văn hoá
Phổ) ở Berlin với khoảng bốn triệu đầu sách. Các thư viện quốc gia,
thư viện bang và thư viện các trường đại học cũng lưu giữ số lượng
sách lớn. Bên cạnh các thư viện phổ thông, có các thư viện chuyên
môn như Thư viện y học trung ương tại Köln. Một viên ngọc quư của
ngành thư viện Đức là Thư viện "Herzog-August - Bibliothek" ở
Wolfenbüttel, nơi có hơn 660.000 đầu sách, trong đó có 12.000 bản
thảo vô giá từ thời Trung cổ.
Tại Cộng hoà Liên bang Đức có khoảng 13.500 thư viện công cộng với
trên 129 triệu đầu sách. Phần lớn các thư viện này do chính quyền
địa phương hoặc nhà thờ quản lư. Nhiều thư viện tổ chức các buổi đọc
tác phẩm do chính các tác giả đọc trước công chúng, các hoạt động
văn hoá hoặc triển lăm và nhờ đó đă trở thành những trung tâm văn
hoá sôi động - thậm chí là trung tâm văn hoá duy nhất trong nhiều
cộng đồng nhỏ. Tại đây, người ta không chỉ mượn được sách hoặc tra
cứu thông tin, các thư viện c̣n đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của
khách bằng cách mở các bộ phận riêng cho trẻ em và thanh thiếu niên
cũng như các hư viện nghệ thuật và âm nhạc. Nhiều thành phố và cộng
đồng tổ chức các thư viện lưu động để có thể phục vụ được cả bà con
ở ngoại ô và các làng mạc.
Bảo tàng và các triển lăm
Số lượng lớn các bảo tàng với các lĩnh vực chuyên sâu khác nhau có
nguồn gốc từ quá tŕnh phát triển xă hội và văn hoá Đức. Có hơn
3.000 Bảo tàng ở Cộng hoà Liên bang Đức.
Các Bảo tàng của bang, của thành phố, của hiệp hội, tư nhân; các Bảo
tàng về văn hoá và lịch sử địa phương; các Bảo tàng báu vật của nhà
thờ, Bảo tàng giáo khu hay nhà thờ lớn; và các Bảo tàng lâu đài,
cung điện hay Bảo tàng ngoài trời. Chúng đă phát triển qua nhiều thế
kỷ từ những bộ sưu tập của vua chúa, nhà thờ và sau đó là sưu tập
của các công dân.
Tuy nhiên, các bộ sưu tập của vua chúa lúc đầu không nhằm mục đích
giáo dục và giải trí cho quần chúng, mà chủ yếu để trưng ra sự giàu
có của các bậc vua chúa thông qua vô số các báu vật. Ví dụ, từ thế
kỷ XVI, München đă là một trung tâm nghệ thuật quốc tế theo kiểu
này. Các quận công xứ Bayern không chỉ sưu tầm các tác phẩm nghệ
thuật, mà c̣n sưu tầm cả thiết bị kỹ thuật đương thời, đồ nghề của
nghệ nhân, nhạc cụ, các khoáng sản và vật lạ của nước ngoài. Vào thế
kỷ XVII, “Ṿm Xanh" của các lănh chúa Saxon ở Dresden có lẽ là kho
báu lớn nhất châu Âu. Từ bộ sưu tập đó đă h́nh thành một nhà trưng
bày nghệ thuật, một Bảo tàng về toán, lư cũng như mọt bảo tàng
khoáng vật học và một nhà trưng bày các đồng hồ tiền cổ.
Một số công dân giàu có - theo mốt đương thời - cũng tích trữ những
bộ sưu tâp riêng. Nhờ niềm đam mê sưu tầm này, ở Đức đă có bảo tàng
cho mọi ngành nghệ thuật và lĩnh vực nghề nghiệp. Đặc biệt các bảo
tàng lớn luôn cố gắng trưng bày các vật sưu tập thật đa dạng. Tuy
nhiên, do thiếu chỗ, hầu hết các bảo tàng đều phải cất giữ nhiều vật
sưu tập trong kho; chúng chỉ có thể ra mắt công chúng trong những
dịp triển lăm đặc biệt.
Từ Rembrandt và Picasso đến thảm thêu (Kassel), từ cộng cụ sản xuất
rượu vang (Koblenz) đến thiên thạch (Marburg), từ xác ướp trong đầm
lầy (Schleswig) đến dụng cụ quang học (Oberkochen) hay chiếc thuyền
cổ nhất thế giới được dựng lại từ các mảnh (Bremerhaven) - sự đa
dạng của các triển lăm dường như không có giới hạn.
Ngày nay, các bảo tàng Đức, cả truyền thống và hiện đại, đều cố gắng
tiếp cận cac tầng lớp nhân dân ở mọi tŕnh độ học vấn. Người Đức bây
giờ đến Bảo tàng thoải mái như trước kia đi xem phim; những đoàn
người xếp hàng dài trước quầy vé Bảo tàng mỗi khi có triển lăm cá
nhân của các hoạ sĩ lớn của trường phái hiện đại kinh điển. Năm nào
cũng vậy, hơn 100 triệu người đi thăm các Bảo tàng Đức; ở một sô
thành phố lớn đă h́nh thành cả các cụm bảo tàng - ví dụ dọc theo
"Dăm bảo tàng" ở Bonn hay ở thủ đô Berlin, nơi Quỹ di sản văn hoá
Phổ (thành lập năm 1951) lấp đầy nhiều nhà bảo tàng bằng những bộ
sưu tập của ḿnh.
Cũng như trước kia, ngày nay, những công dân giàu có với tư cách
Mạnh Thường Quân đă góp một phần công lao trong sự bùng nổ bảo tàng.
Peter Ludwig, qua đựi năm 1994, là một trong những người nổi tiếng
nhất. Ông đă tặng nhiều tác phẩm nghệ thuật hiện đại cho các bảo
tàng phần lớn là mới xây dựng. Diễn đàn "Ludwig" ở Aachen, đặt trong
một nhà máy sản xuất ô trước kia, bên cạnh một số chủ đề khác tập
trung vào nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức cũ. Bộ sưu tập nghệ thuật
Pháp đương đại của Ludwig được trưng bày tại Nghị viện Đức xưa ở
Koblenz.
Tại Bonn, Trung tâm nghệ thuật và Triển lăm Cộng hoà Liên bang Đức
(1993) và Bảo tàng lịch sử Cộng hoà Liên bang Đức (1994) thu hút hàn
ngh́n khách. Tại Berlin, Bảo tàng Lịch sử Đức tŕnh bày toàn bộ lịch
sử Đức từ xưa cho đến ngày nay.
Các bảo tàng lịch sử văn hoá và dân tộc học đóng một vai tṛ đặc
biệt. Bảo tàng độc nhất vô nhị trên thế giới "Deutsches Museum" (Bảo
tàng Đức) ở München có các nguyên vật và mô h́nh minh hoạ quá tŕnh
phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới. Sau khi hoàn thành cuộc
trùng tu năm 2000, Bảo tàng Thông tin liên lạc ở Berlin mở cửa lại
với một bộ sưu tập phong phú về bưu chính viễn thông Đức qua nhiều
thế kỷ, trong khi Bảo tàng quốc gia Đức ở Nümberg có bộ sưu tập lớn
nhất về lịch sử nghệ thuật và văn hoá Đức từ thời tiền sử cho đến
thế kỷ XX. Cũng cần đề cập đến số lượng lớn các bảo tàng dân tộc học
nhờ nước Đức có nhiều nhà thám hiểm và nghiên cứu quan tâm mạnh mẽ
đến các nền văn hoá nước ngoài. Bên cạnh các bảo tàng ở Berlin, Bảo
tàng Linden ở Stuttgart và Bảo tàng Roemer-Pelizaeus ở Hildesheim
cũng đáng được lưu ư.
Các cuộc triển lăm đặc biệt tập trung vào những chủ đề cụ thể. Những
triển lăm lịch sử như triển lăm về nghê thuật văn hoá thời
Karolinger (Paderborn, 1999) hay Hoàng đế Charles V (1500-1558) -
quyền lực và sự bất lực của châu Âu (Bonn,2000) chứng tỏ có sức thu
hút công chúng đặc biệt. Cũng như vậy, triển lăm Các lễ đăng quang.
Các vua ở Aachen - Lịch sử và hưyền thoại mùa hè 2000 mang đến những
cảm quan tuyệt vời về lễ đăng quang truyền thống của các vua nước
Đức thời Trung cổ, thông qua những vật triển lăm từ nhiều bảo tàng
châu Âu. Triển lăm 1848 - T́m đến tự do tại Nhà trưng bày nghệ thuật
Schim ở Frankfurt/Main năm 1998 đạt chất lượng cao nhờ miêu tả vừa
tao nhă, vừa dễ hiểu sự phát triển của nền dân chủ ở Đức.
Triển lăm Hăy thêm ánh sáng ở Frankfurt mang đến một cái nh́n khái
quát, toàn diện về nghệ thuật thời kỳ trào lưu Khai sáng của châu Âu
(khoảng 1770), trong khi pḥng tranh quốc gia ở Stuttgart giới thiệu
tổng quát các tác phẩm của nghệ sĩ trường phái ấn tượng ban đầu
Camille Pissarro.
Cuộc triển lăm thiên niên kỷ Bảy ngọn đồi -những h́nh ảnh và biểu
tượng của thế kỷ XXI tại toà nhà Martin Gropius ở Berlin năm 2000 đă
dựng lên một bức tranh vị lai đa phương tiện về thiên niên kỷ tới
gắn với sự hồi tưởng về những kho báu bất tử của quá khứ.
Sự đa dạng về bảo tàng.
Sự phân bố rộng răi về địa lư của các bảo tàng Đức tạo cơ hội cho
đông đảo dân chúng tiếp cận các bảo tàng. Chính quyền trung ương
không có "chính sách bảo tàng", nhưng các bảo tàng hợp tác với nhau
trong một số lĩnh vực như phục chế, bảo vệ bảo tàng, công tác tư
liệu và nghiên cứu. Những hoạt động chung này được tổ chức bởi Liên
đoàn các bảo tàng ở Đức - thành lập năm 1917, tập hợp tất cả các bảo
tàng ở Đức. Viện bảo tảng học của các bảo tàng nhà nước về di sản
văn hoá Phổ ở Berlin có những nhiệm vụ tương tự. Kiến trúc bảo tàng
cũng hết sức đa dạng, từ những "ngôi đền" nghệ thuật thế kỷ XIX đến
những công tŕnh mới của thời đại chúng ta, thường với lối kiến trúc
siêu hiện đại, như Bảo tàng mới ở Nürnberg - mở cửa vào 15-4-2000,
Pḥng trưng bày tranh ở München hoặc hai công tŕnh xây dựng của
Daniel Libeskind: Nhà Felix-Nussbaum ở Osnabrück và Bảo tàng Do thái
ở Berlin-Mitte.
Sân khấu Đức
Nói đến sân khấu Đức, trước hết phải nói đến khoảng 180 nhà hát công
cộng trên toàn đất nước, đó là các nhà hát thành phố, nhà hát quốc
gia, nhà hát giao hưởng và nhà hát địa phương. Thêm vào đó là khoảng
190 nhà hát tư nhân và trên 30 nhà hát dành cho lễ hội. Ngoài ra c̣n
có vô số các nhóm sân khấu độc lập và nhà hát nghiệp dư. Phong phú
là đặc tính của đời sống sân khấu Đức. Thay v́ một "kinh đô sân
khấu" thu hút mọi nhân tài và mọi sự chú ư - ví dụ như Paris ở Pháp-
Cộng hoà Liên bang Đức có rất nhiều nhà hát thường xuyên đạt chất
lượng không hề thua kém nhau. Sự đa dạng này mang tính truyền thống:
vào thế kỷ XVII và XVIII, hầu như mỗi lănh chúa đều rất tự hào về
nhà hát cung đ́nh của riêng ḿnh và phần lớn các nhà hát này được
trang bị nhiều tiền của. Vào thế kỷ XIX, dưới ảnh hưởng ngày càng
lớn của giai cấp tư sản, nhiều thành thị đă biến thành những địa
điểm công cộng.
Nhà hát đa năng là nơi tŕnh diễn chung của nhiều loại h́nh nghệ
thuật sân khấu, múa và sân khấu âm nhạc (nhạc kịch, tiểu nhạc kịch,
ca nhạc) đa dạng. Các nhà hát kiểu này tŕnh diễn khoảng 20-30 tác
phẩm khác nhau mỗi mùa diễn. Hàng năm, khoảng mười tác phẩm mới được
dàn dựng. Nhờ đó người xem có cơ hội làm quen với nhiều tác phẩm
kịch và sân khấu âm nhạc trong thành phố. Bên cạnh đó, c̣n có các
nhà hát múa rối, nhà hát cho trẻ em và thanh, thiếu niên - hoặc dưới
h́nh thức là một phần của nhà hát đa năng, hoặc hoạt động hoàn toàn
độc lập.
Ngược lại, nhà hát nhạc trong suốt nhiều tháng, thậm chí nhiều năm
hàng ngày vẫn tŕnh diễn chỉ một tác phẩm. C̣n các nhà hát tư nhân
nhỏ thường tŕnh diễn một tác phẩm liên tục trong vài tuần rồi
chuyển sang tác phẩm mới.
Gương mặt nghệ thuật của một nhà hát phụ thuộc rất nhiều vào đoàn
nghệ sĩ. Việc xây dựng và duy tŕ đoàn nghệ sĩ có vai tṛ đặc biệt
quan trọng đối với các nhà hát. Đặc biệt, các nhà hát bang và thành
thị có biên chế cho các diễn viên, ca sĩ và vũ công.
Sân khấu Đức góp phần vào giao lưu văn hoá quốc tế và quá tŕnh hợp
nhất châu Âu. Đóng góp phần quan trọng là những liên hoan như "Nhà
hát Thế giới" ở Berlin, hay "Bonner Biennale". Tại liên hoan văn hoá
thế giới "Những chân trời" ở Berlin, những nền văn hoá châu Âu và
ngoài châu Âu giao lưu với nhau. Ngoài ra c̣n có sự trao đổi các vở
dựng riêng lẻ với các nhà hát nước khác, cũng như sự hợp tác với các
diễn viên, ca sĩ, vũ công, giám đốc nhà hát, nhạc trưởng, đạo diễn,
các nhà thiết kế sân khấu và các cộng sự nước ngoài. Thành công lớn
trên lĩnh vực này có nhà hát "Theater an der Ruhr " tại Mülheim, đây
là một ví dụ tiêu biểu.
Âm nhạc Đức
Đức là một quốc gia có nền âm nhạc hiện đại thuộc vào hàng sống động
và đa dạng nhất châu Âu, nhưng nhạc viết bằng tiếng Đức th́ lại
không có thị trường lớn bên ngoài lănh thổ các nước nói tiếng này
(Đức, Áo, Thụy Sĩ). Các nghệ sĩ Đức nổi tiếng thế giới thường sáng
tác nhạc bằng tiếng Anh, tiêu biểu như nhóm pop Modern Talking hay
nhóm power-metal Helloween. Ngoại lệ có nhóm nhạc "metal nhảy"
(Tanz-metal) Rammstein - các bài hát của nhóm từ 1995 đến nay phần
lớn được sáng tác bằng tiếng Đức và là "hàng xuất khẩu"
chính
của làng nhạc tiếng Đức ra nước ngoài.
Kế hoạch biểu diễn.
Theo số liệu thống kê của Hội sân khấu Đức, trong mùa diễn 1997-1998
có cả thảy 5.593 lần dàn dựng của 2.863 tác phẩm (kịch, nhạc kịch,
ba lê và múa rối) được đăng kư. Những vở dàn dựng này được 387 nhà
hát tŕnh diễn trong nơn 92.000 buổi diễn. 338 tác phẩm trong số đó
được công diễn lần đầu, hoặc lần đầu bằng tiếng Đức.
Liên hoan sân khấu.
Lịch liên hoan cho các khán giả yêu sân khấu gồm có: Gặp gỡ sân khấu
Berlin vào tháng 5 - dịp giới thiệu các vở diễn tiếng Đức hay nhất,
liên hoan Ruhrfestspiele ở Recklinghausen cũng vào tháng 5 - nơi
tŕnh diễn các tác phẩm cổ điển và hiện đại cho đông đảo công chúng,
và liên hoan Euro-scene ở Leipzig. Có nhiều địa điểm tổ chức liên
hoan với các pháo đài, lâu dài và nhà thờ cổ làm hậu cảnh tuyệt diệu
cho việc tŕnh diễn trước hết các tác phẩm cổ điển. Bad Hersfeld,
Ludwigsburg, Schwäbich Hall, Jagsthausen, Haidplatz ở Regensburg,
Wartburg gần Eisenach và nhiều nơi khác. Liên hoan Mùa hè Kissinger,
Liên hoan Caledéron ở Bamberg và liên hoan "Hornberger Schiessen"
cũng rất nổi tiếng.
Liên hoan lâu đời nhất ở Đức là Obergammergau Passionsspiele (kịch
huyền bí mô tả những khổ h́nh Chúa Giêxu), diễn ra mười năm một lần
theo một lời nguyền từ năm đại dịch hạch 1634. Lần tổ chức gần đây
nhất là năm 2000.
Có hơn 100 liên hoan dành cho âm nhạc. Ba năm một lần, vào tháng 9,
thành phố Bonn lại mở Liên hoan Beethoven quốc tế. Vào tháng 8 và
tháng 9, ở Augsburg có Mùa hè Mozart, nơi các buổi hoà nhạc được tổ
chức trong không khí Rococo. Liên hoan ở Eutin kỷ niệm Carl Maria
von Weber, người sinh ra tại đây. Tại Halle và Göttingen có kỷ niệm
Georg Friedrich Handel, trong khi Richard Strauβ được kỷ niệm ở
München và Garmisch -Partenkirchen. Liên hoan Richard Wagner ở
Bayreuth được tổ chức hàng năm từ 1876. Nhân 250 năm ngày mất của
Johann Sebastian Bach (28 tháng Bảy) năm 2000, hơn 500 sự kiện được
tổ chức ở Đức, ví dụ Liên hoan Bach ở Leipzig hay Tuần lễ Bach ở
Türingen.
Hầu hết các thành phố lớn đều tham gia tổ chức các cuộc liên hoan :
München tổ chức Liên hoan Nhạc kịch (tháng Bảy), Frankfurt/Main có
Liên hoan Frankfurt ( tháng Chín), Stuttgart có Liên hoan âm nhạc
châu Âu (tháng Tám và tháng Chín) và Berlin có Liên hoan nhạc Jazz
vào tháng Mười một. Bên cạnh đó, Dresden và Potsdam-Sanssouci tổ
chức nhiều liên hoan âm nhạc, Erfurt có Hoà nhạc màu hè ở Vườn
Brühler và Weimar có Liên hoan nghệ thuật. Những sự kiện đáng chú ư
khác bao gồm Mùa hè âm nhạc của đài phát thanh Trung Đức, Liên hoan
Rügen với các vở nhạc kịch của Rossini và Tuần lễ liên hoan Mosel.
Heidelberg tổ chức các cuộc Liên hoan Lâu đài lăng mạn vào tháng 8
hàng năm. Liên hoan âm nhạc Schleswig Holstein được sáng lập bởi
nghệ sĩ dương cầm và nhạc trưởng Justus Franz năm 1986 thu hút các
nhạc công tầm cỡ thế giới đến bang tận cùng miền Nam Đức và gây được
tiếng vang rất lớn trong công chúng - một sự kiện âm nhạc giữa một
tỉnh lẻ. Sự kiện nữa không thua kém được sáng lập gần đây là Liên
hoan Mecklenburg-Vorpommern. Liên hoan âm nhạc Rheingau mùa hè hội
tụ những nghệ sĩ độc tấu và những dàn nhạc hàng đầu để biểu diễn cả
nhạc cổ điển và hiện đại. Mùa hè âm nhạc Chorin với địa điểm là tu
viện Zisterzienser trước kia thu hút khán giả xa, gần với các buổi
hoà nhạc cổ điển.
Các dàn nhạc và các nghệ sĩ độc tấu.
Nước Đức có tổng cộng 141 dàn nhạc chuyên nghiệp, trong đó một số đă
có truyền thống lâu đời. Các dàn nhạc hàng đầu đất nước là các dàn
nhạc giao hưởng Berlin và München; dàn nhạc giao hưởng Bamberg, dàn
nhạc Gewandhaus ở Leipzig, dàn nhạc Staatskapelle Dresden và một số
dàn nhạc giao hưởng đài phát thanh có uy tín quốc tế. Dàn nhạc giao
hưởng Berlin do nhạc trưởng người Italia Claudio Abbado chỉ huy;
Kurt Masur chỉ huy dàn nhạc giao hưởng New York và Christoph von
Dohnányi là nhạc trưởng chính của dàn nhạc Cleveland.
Các nghệ sĩ độc tấu Đức như nghệ sĩ vĩ cầm Anne-Sophie Mutter, nghệ
sĩ viola Tabea Zimmerman,nghệ sĩ kèn trompet Ludwig Güttler, các ca
sĩ như Hildegard Behrens, Waltraud Meier, Gabriele Schnaut, Kurt
Moll, Peter Hofmann, René Kollo đều thuộc những nghệ sĩ hàng đầu
trên trường quốc tế.
Các tác giả kinh điển của nhạc hiện đại và các nhà tiên phong. Các
nhạc sĩ kinh điển của nhạc hiện đại cũng có một chỗ đứng vững chắc
trong các chương tŕnh hoà nhạc, đó là Paul Hindemith, Igor
Strawinsky, Arnold Schönberg và Béla Bartók cũng như Boris Blacher,
Wolfgang Fortner, Werner Egk và Carl Orff. Bernd Alois Zimmermann đă
đi vào lịch sử âm nhạc từ rất sớm với vở nhạc kịch Những người lính.
Với sân khấu lớn âm nhạc và những hiệu ứng kỳ lạ nhất, các nhạc sĩ
ngày nay cố chinh phục khán giả đến với âm nhạc bên ngoài những hoà
âm quen thuộc Hans Werner Henze, Aribert Reimann, Karlheinz
Stockhausen, nhạc sĩ Achentina Mau ricio Kagel ở Köln và Wolfgang
Rihm. "Nhạc kịch thính pḥng" với dàn diễn viên ít người đang trở
nên phổ biến. Nhờ các mạng lưới phát thanh, truyền h́nh phát hàng
loạt các cuộc hoà nhạc hiện đại và đặt hàng các sáng tác mới, ngày
nay ai cũng có thể tham gia thảo luận về âm nhạc đương đại. Các
chương tŕnh giao lưu với các nhạc sĩ cũng góp phần phổ biến loại
nhạc này, nổi tiếng nhất là chương tŕnh "Những ngày âm nhạc
Donausching" và "Khoá học quốc tế trong kỳ nghỉ về nhạc mới" ở
Darmstadt. Hội đồng âm nhạc Đức thúc đẩy việc tŕnh diễn các tác
phẩm đương đại qua "Buổi hoà nhạc của Hội đồng âm nhạc Đức".
Theo hệ thống Liên bang Đức, trách nhiệm văn hoá thuộc về các bang.
Do đó các nhà hát và dàn nhạc phần lớn được các bang và chính quyền
các đô thị tài trợ. Chính quyền Liên bang chỉ đóng góp một phần.
Tổng cộng,các nhà hát và dàn nhạc Đức nhận từ công quỹ 4,5 tỷ mác
hàng năm. Số tiền này chiếm khoảng hơn 0,2% toàn bộ chi tiêu của
chính quyền Liên bang, các bang và đô thị. Các nhà hát Đức thu nhận
khoảng 45.000 nhân công và đảm bảo việc làm trong nhiều doanh nghiệp
có hợp đồng với các nhà hát.
Hiện nay, người ta ngày càng đ̣i hỏi nhà hát và các chương tŕnh sân
khấu phải tuân theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Tuy
nhiên, người ta không nhận ra rằng chỉ có tài trợ nhà nước mới có
thể đảm bảo tự do nghệ thuật. Các nhà hát của Cộng hoà Liên bang Đức
đă thích ghi được với những đ̣i hỏi quản trị kinh doanh của thời đại
và đă liên tục hiện dại hoá các hoạt động với sự trợ giúp của các
nhà quản trị chuyên nghiệp. Các nhà tài trợ tư nhân chỉ đóng góp 5%
chi phí cho các hoạt động văn hoá, và gần như chỉ tài trợ cho các dự
án giàu uy tín.
Khán giả. Mỗi năm có khoảng 38 triệu người ở mọi lứa tuổi đến xem
xấp xỉ 114.000 buổi tŕnh diễn sân khấu và hoà nhạc. Những con số
này chứng tỏ sự quan tâm đối với sân khấu không hề bị gián đoạn và
cho thấy sân khấu và âm nhạc là một bộ phận không thể thiếu của chất
lượng cuộc sống thành thị. Hệ thống đặt mua vé cho phép khán giả đặt
trước vé cho một loạt các buổi biểu diễn trong mùa diễn. Đối với
nhiều người, đi xem một buổi tŕnh diễn sân khấu là lư do quan trọng
nhất để lên kế hoạch du lịch. Nhiều hăng du lịch tổ chức các chuyến
xe đặc biệt và nhiều dịch vụ khác phục vụ khách hàng đến với nhà hát
(đặc biệt đối với sân khấu nhạc).
Từ khoảng mười năm trở lại đây, nhạc pop Đức đă có bước đại nhảy
vọt. Trước đó, các ca sĩ và ban nhạc Anglo-Saxon thống trị các bảng
xếp hạng. Các bài hát pop dễ nhớ của Đức - có thời rất thành công -
chỉ thu hút được một lớp khán giả hạn chế ; trừ một số ngôi sao pop
nội địa như Udo Lindenberg. Nhưng dù chưa bao giờ thật nổi tiếng,
các ban nhạc như "Tangerine Dream", "Can" hay "Kraftwerk" đă đi tiên
phong trong lĩnh vực nhạc điện tử, và nhạc hard rock của "The
Scorpions" thậm chí c̣n lọt vào các bảng xếp hạng ở Mỹ. Ban nhạc
"Passport" của nghệ sĩ kèn trombon Albert Mangelsdrff, nghệ sĩ organ
Barbara Dennerlein và Klaus Doldinger đă đưa nhạc jazz Đức lên tầm
thế giới.
"Làn sóng Đức mới" vào đầu thập kỷ 80 đă cho thấy các nhạc sĩ Đức có
thể thành công với các bài hát bằng tiếng mẹ đẻ. Marius
Müller-Westernhagen, Peter Maffay, Herbert Grönemeyer và nhóm nhạc
"BAP" ở Köln trở thành những nghệ sĩ rock hàng đầu đất nước. Đến
ngày nay, những người hâm mộ họ - ví dụ những người hâm mộ các nhóm
punk rock "Die toten Hosen" hay "Die Ärzte" - vẫn chiếm đầy các sân
vận động và các nhà hát.
Từ đầu thập kỷ 90, nhạc pop Đức ngày càng trở nên đa dạng. Mọi trào
lưu âm nhạc quốc tế đều tự phản chiếu nơi đây: "Selig" cho nhạc
grunge, "H-blockx" chơi nhạc kết hợp giữa rock và hip-hop, và
"Jazzkantine" hoà trộn nhạc jazz truyền thống với rap Đức. "Fury in
the slaughter-house" và "M. Walking on the Water" tiếp tục ḍng nhạc
rock dân gian tiếng Anh, trong khi "Fantastische Vier", Sabrina
Setlur, Xavier Naidoo và "Fettes Brof" thành công với hip-hop tiếng
Đức. Nhạc Đức có từ loại pop vui vẻ, như của "Pur" và "Die Prinzen",
tới những lời hát giàu ư nghĩa hơn của "Sterne" hay "Element of
Crime".
Tại Đức, hơn 300.000 người kiếm sống bằng nghề nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu
diễn, giáo viên nhạc và chuyên gia âm nhạc trong các cơ quan nhà
nước hoặc cơ quan hàn lâm, các phương tiện thông tin và ngành công
nghiệp âm nhạc. Họ được đào tạo tại 23 Trường đại học âm nhạc,
khoảng 65 Trường đại học tổng hợp, 11 Nhạc viện, 9 Trường nhạc và 4
Trường đại học âm nhạc của nhà thờ, 50 cơ sở đào tạo chuyên nghiệp
và 40 học viện chuyên sâu. Có nhiều cuộc thi để khuyến khích các
nhạc sĩ trẻ tài năng, nổi tiếng nhất là Cuộc thi nhạc sĩ trẻ. Năm
1998, nước Đức có hơn 1.000 trường nhạc công cộng, khoảng 40.000
dàn đồng ca, 25.000 dàn nhạc nghiệp dư và bán chuyên nghiệp và nhiều
đoàn nhạc khác. Âm nhạc là môn học bắt buộc trong trường phổ thông
và việc chơi nhạc theo nhóm được cũng được khuyến khích. Nghề làm
nhạc cụ ở Đức có truyền thống lâu đời: nhạc cụ làm ở Vogtland và đặc
biệt là đàn vĩ cầm ở Mittenwald đă nổi tiếng thế giới. Xấp xỉ một
phần tư thanh, thiếu niên Đức chơi một nhạc cụ hoặc hát trong một
dàn đồng ca, nhạc cụ phổ biến nhất trong trường nhạc là piano, sáo
và ghita. Công nghiệp âm nhạc đang phát đạt: mỗi năm có khoảng 240
triệu đĩa CD, băng cát-xét và đĩa ghi âm sản xuất trong và ngoài
nước được bán ở Cộng hoà Liên bang Đức.

Cinet Tổng hợp
|