DỰ THẢO QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

MỞ ĐẦU
DỰ THẢO QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 - ảnh 1
Ảnh minh họa. Nguồn: http://voyager-vietnam.com
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG QUY HOẠCH
“Quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến năm 2010” được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2009 đã hết thời hiệu, cần một công cụ quản lý mới đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực quản lý nhà nước về Nghệ thuật biểu diễn trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Quy hoạch này được soạn thảo đáp ứng các yêu cầu:
- Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuật biểu diễn thế giới trong bối cảnh các loại hình nghệ thuật biểu diễn đã và đang phát triển, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức sản xuất và thương mại.
- Đặt cơ sở cho đầu tư của nhà nước và các nguồn lực xã hội để nghệ thuật biểu diễn đáp ứng nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa ngày càng cao và đa dạng của công chúng; xây dựng, phát triển các đơn vị nghệ thuật; cải thiện điều kiện sáng tác, dàn dựng và phổ biến tác phẩm của các nghệ sỹ; phát triển các tài năng trình diễn.
- Đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao hơn chất lượng các hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong sự cạnh tranh ngày càng tăng của thị trường trong nước và quốc tế, bảo vệ quyền tác giả và các quyền có liên quan; thúc đẩy giao lưu, hợp tác quốc tế.
Việc xây dựng Quy hoạch mới này là một bước cụ thể hóa Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, nhấn mạnh đến những hạn chế và giải pháp khắc phục trong sự nghiệp phát triển văn học nghệ thuật nói riêng để từng bước thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng, trong đó nghệ thuật biểu diễn có vị trí quan trọng, vừa là phương tiện biểu đạt, vừa là thành tố tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam; góp phần thúc đẩy nghệ thuật biểu diễn Việt Nam phát triển.
II. CƠ SỞ PHÁP LÝ
  1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  2. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới.
  3. Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
  4. Nghị định số 04/2008/-CP của Chính phủ ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
  5. Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 01 tháng 7 năm 2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt  quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH ngày 26 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu.
  6. Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tưHướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu.
  7. Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.
  8. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 05 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
  9. Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển văn hóa đến năm 2020.
  10. Quyết định 1211/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012-2015.
  11. Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 9 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Quy hoạch và kế hoạch nâng cấp, xây mới các công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm văn học nghệ thuật) giai đoạn 2012 -2020.
  12. Căn cứ vào thực tiễn phát triển của lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn trong những năm gần đây.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI
1. Đối tượng
Đối tượng điều chỉnh của Quy hoạch (không phân biệt nghệ thuật biểu diễn nhà nước hay tư nhân; mọi lĩnh vực hoạt động nghệ thuật biểu diễn trong nước) sẽ bao gồm các lĩnh vực sau:
Các cơ chế, chính sách thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn;
Các hoạt động quản lý nhà nước, phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn;
Các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ của lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn;
Các hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
2. Phạm vi
Quy hoạch được phân kỳ thành các giai đoạn sau:
- Về thời gian, quy hoạch được phân kỳ thành các giai đoạn:
+ Giai đoạn 2014 đến 2020;
+ Định hướng đến năm 2030.
  • Về không gian, nội dung của quy hoạch được phân bố không theo phân vùng kinh tế mà dựa trên 3 vùng văn hóa với những đặc trưng khác nhau về bản sắc văn hóa, loại hình nghệ thuật và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân, gồm:
+ Vùng Bắc Bộ, gồm 24 tỉnh thành, chia thành 3 tiểu vùng, gồm: Đông Bắc (Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh); Tây Bắc (Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu; Đồng bằng Sông Hồng: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình).
+ Vùng Trung Bộ, gồm 19 tỉnh thành, chia thành 3 tiểu vùng gồm: Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế); Nam Trung Bộ (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận); Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng)
+ Vùng Nam Bộ, gồm 19 tỉnh/thành, chia thành 2 tiểu vùng: Đông Nam bộ (thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu); Đồng bằng Sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau).
IV. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
- Tạo nền tảng và cơ sở để thống nhất sự phát triển Nghệ thuật biểu diễn trong những năm sắp tới phù hợp với Chiến lược phát triển văn hóa đến 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, các định hướng phát triển Nghệ thuật biểu diễn gần đây của Đảng, nhà nước và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- Dựa trên nền tảng nghiên cứu và phân tích thực trạng phát triển ngành Nghệ thuật biểu diễn những năm gần đây, coi đó là một trong những căn cứ để phát triển.
- Dựa trên các quan điểm phát triển tiên tiến trong Nghệ thuật biểu diễn thế giới, trên các kinh nghiệm quản lý nhà nước về Nghệ thuật biểu diễn của các nước.
V. PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG
Thu thập tài liệu: nhằm lựa chọn những tài liệu, số liệu, thông tin liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu để xây dựng chiến lược. Phương pháp này rất quan trọng, là tiền đề giúp việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung, đối tượng nghiên cứu khách quan và chính xác.
Phân tích tổng hợp: sử dụng trong phân tích, đánh giá toàn diện các nội dung, đối tượng nghiên cứu khi xây dựng quy hoạch: thực trạng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam, giá trị sử dụng, hiệu quả sử dụng; hiện trạng trang thiết bị sản xuất, quảng bá tác phẩm, hiện trạng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ sáng tạo.
Điều tra, khảo sát thực địa: nhằm bổ sung hoặc kiểm tra lại những thông tin quan trọng cần thiết phục vụ quá trình phân tích, đánh giá và xử lý nguồn dữ liệu thu thập được. Qua phương pháp này xác định được cụ thể hơn vị trí, ranh giới, quy mô cũng như tầm quan trọng của các đối tượng nghiên cứu. Thực tế công tác thống kê các số liệu của ngành ngành nghệ thuật biểu diễn chưa thống nhất, hoàn chỉnh và đồng bộ, do vậy phương pháp nghiên cứu và khảo sát thực địa là không thể thiếu trong quá trình xây dựng quy hoạch.
Dự báo, chuyên gia: áp dụng để nghiên cứu toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan; các yếu tố trong nước và quốc tế; các yếu tố trong và ngoài lĩnh vực; những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển Nghệ thuật biểu diễn. Trên cơ sở đó dự kiến đầu tư hệ thống trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực.
VI. NỘI DUNG QUY HOẠCH
Văn bản quy hoạch được kết cấu thành các phần:
1. Mở đầu;
2. Phần thứ nhất: Thực trạng và các yếu tố tác động;
3. Phần thứ hai: Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển nghệ thuật biểu diễn đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
4. Phần thứ ba: Giải pháp và tổ chức thực hiện.
Phần thứ nhất
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn gồm sân khấu, biểu diễn ca múa nhạc, tạp kỹ…, là loại hình đặc biệt của hoạt động văn hoá, là lao động sáng tạo của nghệ sỹ phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân. Gần đây, với sự xuất hiện các loại hình mới, nghệ thuật biểu diễn đã có thêm trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; tổ chức sự kiện.
Nội dung đánh giá thực trạng của Quy hoạch sẽ đi sâu phân tích các cơ chế chính sách; tổ chức bộ máy; nguồn nhân lực; cơ sở vật chất và trang thiết bị; tài chính; các phương thức hoạt động, chất lượng các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn; thị hiếu thẩm mỹ và xu hướng hưởng thụ của khán thính giả; xã hội hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn; hợp tác quốc tế… Quá trình đánh giá sẽ gắn với việc xác định các yếu tố tác động đến lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
I. THỰC TRẠNG
1. Đánh giá quá trình thực hiện Quy hoạch phát triển NTBD Việt Nam đến 2010
        Ngày 28/3/2008, Quy hoạch phát triển Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến 2010 đã được ban hành theo Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Quy hoạch đã xác định các mục tiêu đối với nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hiện đại, các loại hình mũi nhọn của hai loại nghệ thuật này, xác định các biện pháp sưu tầm, phục hồi, củng cố và phát triển một số loại hình có nguy cơ thất truyền như: Rối nước, Ca trù, Chầu văn, hát Xẩm, làn điệu dân ca một số dân tộc thiểu số... ; xây dựng chân dung các nghệ sĩ tiêu biểu; đầu tư dàn dựng những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật của thế giới.
Quy hoạch cũng xác định các nội dung về đào tạo nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng tác phẩm; nâng cao hưởng thụ nghệ thuật của khán giả trong nước và tăng cường giao lưu quốc tế; phối hợp với truyền hình để nghệ thuật biểu diễn Việt Nam chiếm tỷ lệ 70% thời lượng phát sóng truyền hình, tăng cường phát thanh trên đài quốc gia và các làn sóng bằng tiếng dân tộc thiểu số; giới thiệu nghệ thuật biểu diễn một cách có hệ thống và hiệu quả; nâng cao chất lượng các hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật. Đồng thời, Quy hoạch đã nhấn mạnh việc tăng cường quản lý các loại hình văn hoá phẩm; xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư đổi mới trang thiết bị cho hoạt động biểu diễn theo hướng sử dụng trang thiết bị hiện đại; cải tạo, nâng cấp các rạp hát hiện có, xây dựng mới một số nhà hát, trung tâm văn hoá để cải thiện điều kiện phục vụ nhân dân thưởng thức nghệ thuật; xây dựng và hoàn thiện các chế độ chính sách, và đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoạt động nghệ thuật biểu diễn.
Với hơn 2 năm triển khai thực hiện Quy hoạch, có thể đánh giá một số mặt đạt được và những tồn tại sau:
- Định hướng một cách tổng quát cho sự phát triển ngành nghệ thuật biểu diễn trên các lĩnh vực. Sắp xếp tổ chức bộ máy, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng tác phẩm và chất lượng đào tạo đội ngũ nghệ sĩ trong các đơn vị nghệ thuật. Bước đầu thiết lập mối liên kết, phối hợp của các Bộ, ngành để xây dựng chế độ chính sách, nguồn lực tài chính, quan hệ giao lưu hợp tác tạo điều kiện cho nghệ thuật biểu diễn phát triển.
 - Hạn chế căn bản của Quy hoạch là tính hiệu lực quản lý nhà nước là chưa cao, không bao quát các lĩnh vực mới đang nảy sinh, đặc biệt là tính thương mại của nghệ thuật biểu diễn. Sự phối hợp liên ngành để giải quyết về chế độ chính sách còn chưa theo kịp với yêu cầu phát triển. Công tác huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho nghệ thuật biểu diễn còn hạn chế.
 - Việc sắp xếp mạng lưới các đoàn nghệ thuật theo hướng xã hội hóa và các đơn vị nghệ thuật ngoài công lập còn lúng túng, với tất cả các đơn vị nghệ thuật trung ương, các đơn vị nghệ thuật địa phương và các đơn vị nghệ thuật ngoài công lập.
- Công tác đào tạo nhân lực chưa có sự đổi mới mang tính đột phá. Chất lượng đào tạo, nguồn đào tạo cho nghệ thuật truyền thống đang có những khó khăn lớn về khả năng thu hút học sinh, duy trì việc học trong suốt quá trình học và có việc làm sau khi ra trường.
2. Cơ chế chính sách
a) Hệ thống văn bản quản lý nhà nước
So với một số ngành trong khối nghệ thuật, nghệ thuật biểu diễn đang thiếu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đủ mạnh nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, nghệ thuật, văn hóa, chính trị, kinh tế trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn và sự phát triển của toàn ngành.
Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu gồm 5 chương, 31 điều, có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Đây là văn bản pháp quy có tính pháp lý cao nhất của ngành. Tuy nhiên sau hai năm triển khai đã xuất hiện một số điểm bất cập cần phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới. Một số quy định hiện hành như Nghị định 61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bút; Thông tư số 08/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính về "hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định chương trình biểu diễn nghệ thuật"; Thông tư liên Bộ giữa Bộ Tài chính - Bộ Văn hóa số 1042/TTLB-VH-TC về cơ chế quản lý tài chính và chính sách tài trợ của nhà nước đối với các đơn vị Nghệ thuật biểu diễn; Thông tư liên tịch giữa Bộ Văn hóa, Thông tin - Bộ Tài Chính - Bộ Nội vụ số 94/2006/BVHTT-BTC-BNV về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 180/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề và bồi dưỡng đối với lao động biểu diễn nghệ thuật ngành văn hóa - thông tin đã không còn phù hợp với thực tiễn, cần phải điều chỉnh trong thời gian tới.
b) Chính sách tiền lương
Hiện nay, ngạch lương diễn viên có 03 hạng: Diễn viên hạng I (17.157), diễn viên hạng II (17.158) và diễn viên hạng III (17.159), nhưng chưa ban hành tiêu chí cụ thể để xếp ngạch lương. Theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, trong đó thang lương của người hoạt động Nghệ thuật biểu diễn gồm ba hạng (hạng I, hạng II, hạng III) với 26 bậc. Việc thiết kế thang lương quá nhiều bậc như vậy không phù hợp với đặc thù của hoạt động nghệ thuật bởi thời gian đào tạo dài, tuổi nghề ngắn trung bình 15 - 20 năm. Việc xếp lương khởi điểm (2,06), thấp hơn mức lương khởi điểm trong bảng lương viên chức (đại học 2,34), tại những đơn vị nghệ thuật trung ương, cho các đối tượng mới ra trường, không phân biệt trình độ trung cấp, đại học, là một bất cập.
 Việc nâng ngạch từ hạng III lên hạng II không được thực hiện. Chỉ có những diễn viên chuyển sang quản lý mới được hưởng mức lương diễn viên hạng II (17.158). Không có diễn viên nào được hưởng hạng I (17.157). Trong khi các ngạch viên chức khác có đầy đủ các loại từ B đến A (A0, A1, A2, A3) tương đương với các trình độ đào tạo khác nhau (trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học) thì ngạch “diễn viên” chỉ có 03 hạng. Hầu hết đạo diễn, biên kịch, nhạc sỹ, diễn viên có thời gian cống hiến dài, đạt nhiều thành tích trong các cuộc thi cấp quốc gia, quốc tế, được phong các danh hiệu cao quý vẫn ở ngạch diễn viên hạng III và không có triển vọng được nâng ngạch. Nhiều người đã vượt khung lương hạng III từ gần 20 năm vẫn không được thi nâng ngạch.
c) Chế độ phụ cấp nghề và bồi dưỡng luyện tập biểu diễn
Quyết định số 180/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề và bồi dưỡng đối với lao động biểu diễn nghệ thuật ngành văn hóa-thông tin và Thông tư liên tịch số 94/2006/TTLT/ BVHTT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện đã quá lạc hậu về định mức chi, mức phụ cấp nghề nghiệp, bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn. Nhà nước hiện đang áp dụng hình thức khoán chi cho các nhà hát trực thuộc Bộ, mỗi nghệ sĩ được nhận thêm một khoản về thanh sắc và chỉ áp dụng đối với các nghệ sĩ trong biên chế. Nhiều đơn vị đã mời thêm các nghệ sĩ trẻ làm theo chế độ hợp đồng với mức lương cố định khoảng 1,5 triệu đồng/tháng (sau khi đã trừ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế), không thu hút được họ gắn bó lâu dài với nghề. Nhiều đơn vị nghệ thuật không có đủ nguồn thu để thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính trong việc chi trả bồi dưỡng luyện tập và phụ cấp nghề.
d) Chế độ nhuận bút
Nghị định số 61/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ nhuận bút và Thông tư liên tịch số 21/2003/TTLT-BVHTT-BTC của Bộ Văn hóa - Thông tin và Bộ Tài chính hướng dẫn việc chi trả chế độ nhuận bút, trích lập và sử dụng quỹ nhuận bút, quy định khung nhuận bút chi trả cho các tác giả trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật đang có những bất cập trong việc thi hành. Tại một số thành phố lớn, các đoàn nghệ thuật có nguồn thu cao cho rằng khung nhuận bút trong Nghị định là quá thấp. Nhưng một số tỉnh cho rằng, mức quy định trong Nghị định 61 là cao, ngân sách địa phương không có khả năng chi trả. Cho nên, nhiều đơn vị không áp dụng khung nhuận bút này, mà thực hiện chi trả nhuận bút theo sự thỏa thuận với tác giả thông qua hợp đồng dân sự. Một số loại hình nghệ thuật mới chưa có khung quy định về nhuận bút như Nghệ thuật đường phố, các chương trình sự kiện và lễ hội nghệ thuật.
e) Chế độ bảo hiểm xã hội
Tuổi lao động: Do đặc điểm đào tạo diễn viên và tính đặc thù về năng khiếu nghệ thuật, nên đối tượng này nên đề nghị Chính phủ cho phép các đơn vị nghệ thuật được tuyển dụng vào ngạch viên chức thuộc ngành văn hóa, nghệ thuật theo “ngành nghề đặc biệt, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn 18 tuổi nhưng phải từ đủ 15 tuổi trở lên và có thể trên 45 tuổi nhưng không được quá 50 tuổi” và thực hiện ký hợp đồng làm việc đặc biệt được quy định tại Điều 15, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
Tuổi nghề: Với tính đặc thù riêng của từng ngành biểu diễn nghệ thuật (diễn viên) nên thời gian hoạt động biểu diễn của nghệ sĩ, diễn viên rất ngắn khoảng từ 15 năm đến 20 năm; đến độ tuổi từ 30 đến 40 đối với nữ và 40 đến 45 đối với nam ở một số loại hình biểu diễn thì không thể đáp ứng được đòi hỏi về chuyên môn. Do đó, tuổi nghề của nghệ sĩ, diễn viên rất ngắn, cần sửa đổi theo đúng đặc thù ngành.
g) Chính sách thẩm định các tác phẩm nghệ thuật
Hiện có 2 văn bản liên quan đến chính sách thẩm định các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn và chương trình băng đĩa, là Thông tư 121/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp và dán nhãn kiểm soát băng đĩa hình có chương trình, phí thẩm định chương trình trên băng đĩa, phần mềm và trên vật liệu khác; Thông tư 122/2013/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định kịch bản phim, phim, chương trình nghệ thuật biểu diễn; lệ phí cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, sản xuất phim, cấp giấy phép đặt văn phòng đại diện, cơ sở điện ảnh nước ngoài tại Việt Nam. Việc điều chỉnh các mức thu phí thẩm định lên một mức mới là phù hợp với thực tiễn quản lý ngành.
h). Chính sách đấu thầu đặt hàng tác phẩm
Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật sử dụng ngân sách nhà nước chưa thực hiện đấu thầu. Các hoạt động thường xuyên được cấp theo kế hoạch hàng năm và hoạt động không thường xuyên được cấp theo cơ chế bổ sung. Với 2 phương thức hoạt động trên không thể thực hiên đúng với Luật đấu thầu số 61/2005/QH-XI và Quyết định số 39/2008/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách Nhà nước, trong đó, tại danh mục số 9 và 17 quy định các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, có ghi các dịch vụ sau đây phải thực hiện đấu thầu, đặt hàng bao gồm: Sáng tác, dựng vở và biểu diễn các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ của Nhà nước; Tổ chức Lễ khai mạc, bế mạc phục vụ các ngày lễ lớn của nhà nước, tổ chức các đại hội thể thao, văn hóa… (bao gồm dịch vụ hậu cần, phục vụ).
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài chính đã phối hợp xây dựng Thông tư quy định về đấu thầu, đặt hàng, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Thông tư này chưa được ban hành vì phải chờ Luật Đấu thầu sửa đổi dự kiến ban hành trong năm 2014.
3. Tổ chức bộ máy
a) Cơ quan quản lý nhà nước
Theo Nghị định số 76 /2013/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn. Cục Nghệ thuật biểu diễn là cơ quan của Bộ có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn, hoạt động sản xuất, phát hành băng, đĩa ca múa nhạc sân khấu, văn học; chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động phát triển sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn trong cả nước. Chức năng quản lý nhà nước của các địa phương được giao cho Uỷ ban nhân dân và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp, khả năng định hướng và quy hoạch dài hạn ở các địa phương là còn hạn chế.
b) Các đơn vị nghệ thuật
Cả nước có 12 đơn vị nghệ thuật trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, trong đó có 1 đơn vị đã hoạt động theo cơ chế tự chủ, 11 đơn vị hoạt động bằng ngân sách nhà nước cấp. Cục Nghệ thuật biểu diễn không trực tiếp tham gia thẩm định kinh phí, xây dựng tổ chức bộ máy và bổ nhiệm cán bộ nên vai trò quản lý nhà nước của Cục Nghệ thuật biểu diễn đối với các đơn vị nghệ thuật trực thuộc Bộ là hạn chế. Hiện nay có 8 đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, 2 đơn vị trực thuộc Bộ Công an. Toàn bộ cơ cấu tổ chức bộ máy, khuynh hướng hoạt động, phương pháp sáng tạo nghệ thuật của các đơn vị này do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đảm nhiệm.
Toàn quốc có 103 đơn vị nghệ thuật thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Phần lớn mỗi tỉnh có từ 1 đến 2 đơn vị, riêng thành phố Hồ Chí Minh có 8 đơn vị, Hải Phòng có 5 đơn vị, Thanh Hóa có 4 đơn vị, Hà Nội có 6 đơn vị. Số lượng cán bộ, diễn viên ở mỗi đơn vị nghệ thuật bình quân từ 30 đến 40 người. Các đoàn nghệ thuật địa phương có chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy đều có mô hình giống như các đoàn ở Trung ương.
Mô hình tổ chức các đoàn công lập là giống nhau, cơ chế quản lý theo kiểu hành chính, còn nhiều khó khăn về nguồn lực và khả năng phát triển.
4. Nguồn nhân lực
Đến hết năm 2012, sau 7 lần xét tặng, ngành Nghệ thuật biểu diễn có 266 nghệ sĩ nhân dân, 1934 nghệ sĩ ưu tú; qua 4 lần xét tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và 3 lần xét tặng giải thưởng nhà nước, đã có 102 người được nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, 458 giải thưởng Nhà nước. Đó là những phần thưởng xứng đáng, ghi nhận những công lao và thành tích của giới nghệ sĩ của ngành trong thời gian qua.
- Đội ngũ sáng tạo nghệ thuật biểu diễn đã thành danh, được đào tạo bài bản từ Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa cũ phần lớn đã quá tuổi lao động, đội ngũ sáng tạo đang làm việc thiếu các điều kiện làm việc, sức sáng tạo còn hạn chế, thiếu về số lượng, chất lượng nghề chưa cao. Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn đã xuất hiện một số nhà sản xuất có năng lực, có nghề song họ lại thiếu cơ hội để thực hành nghề, nhiều người cuốn vào vòng xoáy của thị trường với mức thù lao cao, thiếu tâm huyết với các đề tài lớn. Đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước còn thiếu về số lượng và chưa đáp ứng yêu cầu của việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn, ở cả trung ương và địa phương.
- Nguồn nhân lực trong ngành đang rơi vào cuộc khủng hoảng về cơ cấu nguồn nhân lực (mất cân đối về loại hình, trình độ, độ tuổi); thiếu hụt nguồn nhân lực trẻ có thể đảm nhiệm các vị trí công tác trong quá trình phát triển ngành công nghiệp biểu diễn, thừa nguồn nhân lực đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhưng không còn khả năng làm nghề. Lực lượng nghệ sĩ với hơn 5.000 diễn viên lại chia dàn mỏng cho 11 loại hình nghệ thuật của 63 tỉnh thành; phân bố không đồng đều, có nơi thừa, có nơi thiếu, phần lớn cán bộ diễn viên ở trình độ trung cấp, sơ cấp hoặc chỉ qua truyền nghề và độ tuổi trung bình khá cao. Lực lượng nghệ sĩ chủ yếu tập trung tại các trung tâm chính trị - kinh tế lớn của cả nước, tại các đơn vị nghệ thuật trung ương, tuyến tỉnh thành phố có nguồn nhân lực có chất lượng thấp hơn.
- Đội ngũ tác giả, đạo diễn, nhạc sỹ, biên đạo, nghệ sĩ tài năng trẻ đang trong tình trạng khủng hoảng đáng báo động. Tác giả và đạo diễn của sân khấu truyền thống dân tộc hầu như đang cạn kiệt, thiếu đội ngũ kế cận. Hiện tại còn thiếu nhân lực của một số lĩnh vực như: Đạo diễn chương trình ca múa nhạc, tác giả kịch hát dân tộc, quản lý nghệ thuật, kỹ thuật viên âm thanh, ánh sáng, các nghề trong quản trị Nghệ thuật biểu diễn như marketing, gây quỹ - tài trợ, tổ chức sự kiện nghệ thuật... tình trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tính hiện đại, chuyên nghiệp của hoạt động biểu diễn nghệ thuật.
- Đội ngũ quản lý các đơn vị nghệ thuật biểu diễn cả nước vừa thiếu và yếu, ít được đào tạo nâng cao trình độ nghệ thuật, trình độ quản lý; chưa thích ứng kịp với cơ chế thị trường; thiếu tâm huyết với sự nghiệp truyền thống dân tộc; lúng túng trong hướng đi và phát triển cho từng loại hình, thể loại nghệ thuật để có thể sáng tạo nhiều tác phẩm phù hợp với cuộc sống mới.
Công tác đào tạo: Hệ thống đào tạo nghệ thuật biểu diễn từ trung ương đến địa phương đã phát triển đáng kể từ chất lượng đến quy mô và hình thức đào tạo, nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ đội ngũ giảng viên còn hạn chế, tập trung vào hai trường đại học sân khấu và điện ảnh ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (chỉ có hơn 14% giáo viên có trình độ cao học trở lên). Chất lượng đầu vào không cao, điểm số thấp nên khó chọn được người có năng khiếu nghệ thuật để đào tạo thành nghệ sĩ giỏi. Quá trình đào tạo còn mang tính lý thuyết, thiếu điều kiện thực hành nghề. Hệ thống đào tạo về nghệ thuật biểu diễn từ cao đẳng và trung cấp hiện không tuyển đủ chỉ tiêu.
Mô hình đào tạo theo hướng xã hội hóa xuất hiện tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn với hình thức các câu lạc bộ, nhà văn hoá, nhóm nghệ thuật gia đình, một số được đào tạo ở nước ngoài... nhưng chưa đủ quy mô và hệ thống, có thể đào tạo được một số cá nhân xuất sắc song họ thiếu điều kiện làm việc và môi trường làm việc chuyên nghiệp; đa số chất lượng đào tạo chưa cao.
Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của ngành còn có những hạn chế trên là do: Xu hướng xã hội chạy theo các ngành nghề mang tính thương mại, các ngành nghề nghệ thuật không tuyển được học sinh học giỏi, thậm chí không co nguồn để tuyển sinh cho một số môn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo. Cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong nghệ thuật biểu diễn còn nhiều bất cập dẫn đến sự thiếu hiệu quả về quản lý nhà nước trong đào tạo và phát triển nguồn lực nghệ thuật biểu diễn. Không đào tạo kịp thời lực lượng kế cận, thiếu hụt tài năng trẻ, đặc biệt ở các bộ môn nghệ thuật truyền thống. Khó khăn về ngân sách chi đào tạo nghệ thuật, đặc biệt với các ngành âm nhạc, sân khấu, xiếc, múa. Chưa thúc đẩy được hợp tác quốc tế trong đào tạo, phần lớn là hợp tác đào tạo cho giáo viên với các lớp ngắn hạn, chưa mang tính chuyên sâu và tính hệ thống.
5. Cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật
Rạp biểu diễn: Về cơ bản các rạp hát đã được tổ chức, quản lý khai thác sử dụng theo đúng công năng sử dụng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất các rạp hát đang là thách thức đối với các đơn vị quản lý các công trình. Việc quản lý các rạp hát vẫn nặng theo hướng bao cấp, chưa có những cách tổ chức quản lý vận hành tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả khai thác công trình. Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong đầu tư và hiện đại hóa trang thiết bị vẫn còn hạn chế, chưa theo kịp xu hướng phát triển của thế giới và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các chính sách khuyến khích áp dụng đầu tư mua sắm thiết bị công nghệ cao trong rạp hát chưa đồng bộ như thuế nhập khẩu, các quy định tiêu chuẩn về nhà hát chưa có, hoặc có nhưng lạc hậu so với thế giới rất nhiều...Việc đào tạo về kỹ năng quản lý, cũng như nhân lực có kỹ thuật cao đáp ứng đòi hỏi yêu cầu về các thiết bị công nghệ nhà hát chưa thực sự được chú trọng (như về âm học, âm thanh, ánh sáng...).
Về trang thiết bị kỹ thuật: hiện tại có 39 rạp hát có hệ thống trang bị kỹ thuật và trang thiết bị đang sử dụng không đạt TCVN. Quy hoạch cũ đưa ra kế hoạch: “cải tạo, nâng cấp các rạp hát hiện có, đồng thời xây dựng mới một số nhà hát, trung tâm văn hoá... Năm 2010 phấn đấu 100% các đơn vị nghệ thuật có sàn tập đủ điều kiện luyện tập và dàn dựng tác phẩm” và đưa ra một danh mục các nhà hát sẽ được xây dựng đến năm 2010. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay mới chỉ có một số rạp hát được nâng cấp cải tạo. Chất lượng công trình của nhà hát yếu kém, trang thiết bị lạc hậu, thiếu đồng bộ không đáp ứng được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân. Mô hình quản lý rạp hát chủ yếu được tổ chức theo hai hình thức: (1) Giao cho một đơn vị tổ chức biểu diễn quản lý, hoạt động như một doanh nghiệp, tự chủ tài chính; (2) Giao cho một Nhà hát, một đoàn nghệ thuật như là đơn vị sự nghiệp quản lý nên không có cơ chế thu hút đầu tư trang thiết bị kỹ thuật.
Một số địa phương đã quan tâm đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật cho các đoàn nghệ thuật, nhưng nhìn chung việc đầu tư còn rất hạn chế; đa số các đơn vị Nghệ thuật thiếu thiết bị âm thanh, ánh sáng, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho luyện tập và biểu diễn. Một số rạp biểu diễn tuy được sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị nhưng chất lượng không đáp ứng yêu cầu, hiệu quả sử dụng không cao do không có chỗ lắp đặt, thiết bị máy móc chắp vá, không đồng bộ, kỹ thuật viên sử dụng thiết bị âm thanh ánh sáng không được đào tạo đúng chuyên ngành. Không ít trường hợp đầu tư mua trang thiết bị đắt tiền nhưng không có chỗ để. Trang thiết bị thường vừa sử dụng tại nhà hát, vừa đem đi phục vụ biểu diễn lưu động nên nhanh chóng xuống cấp. Các đơn vị nghệ thuật ngoài công lập hiện tự đầu tư hoặc thuê toàn bộ thiết bị kỹ thuật và phương tiện vận chuyển nhưng nhà nước chưa có chủ trương đầu tư trực tiếp cho các đơn vị này.
Phương tiện vận chuyển: Phương tiện vận chuyển hầu hết đã cũ, lại hoạt động nhiều ở các vùng xa, vùng sâu cần thay mới. Số lượng các phương tiện được mua mới bị giảm trong những năm gần đây. Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn, Nhà nước vẫn cấp kinh phí mua loại ô tô chuyên dụng cho các đoàn nghệ thuật nhưng mức ngân sách còn hạn chế nên các đoàn chưa mua được loại xe tốt để đi biểu diễn dài ngày phục vụ nhân dân ở vùng sâu vùng xa.
6. Tài chính
Ngân sách cấp hàng năm cho khối nhà nước:
Các đơn vị nghệ thuật biểu diễn là đơn vị sự nghiệp có thu, quản lý theo cơ chế gán thu bù chi. Ngân sách Nhà nước đảm bảo chi cần thiết cho các loại hình nghệ thuật biểu diễn, đảm bảo tiền lương theo chế độ hiện hành, chi phí xây dựng tiết mục theo yêu cầu chính trị, đồng thời khuyến khích biểu diễn có chất lượng để có doanh thu cao, bảo đảm hiệu quả xã hội và đời sống diễn viên. Cả nước có 3 khối lớn đơn vị nghệ thuật biểu diễn, được phân chia thành:
- Đơn vị nghệ thuật trung ương được cấp ngân sách hàng năm từ nguồn kinh phí sự nghiệp của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Đơn vị nghệ thuật lực lượng vũ trang được cấp ngân sách hàng năm từ nguồn kinh phí từ Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Đơn vị nghệ thuật các tỉnh, thành phố (địa phương) được cấp ngân sách hàng năm từ nguồn kinh phí sự nghiệp của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố.
Kinh phí cấp hàng năm cấp cho các đơn vị nghệ thuật trung ương chiếm từ khoảng 7,4%-10,5% so với tổng kinh phí của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Trong 5 năm trở lại đây (2008-2012), ngân sách cấp cho các đơn vị nghệ thuật biểu diễn có gia tăng, tuy nhiên tỷ lệ phần trăm giữa các đơn vị nghệ thuật biểu diễn với tổng kinh phí cấp lại giảm, do Bộ đang tiến hành thực hiện chủ trương chính sách xã hội hoá. Một số nhà hát theo lộ trình sẽ chuyển dần từ các đơn vị công lập hưởng kinh phí 100% từ ngân sách Nhà nước sang hưởng một phần kinh phí hoạt động từ ngân sách và tiến tới sẽ tự chủ 100% kinh phí hoạt động thường xuyên. Hiện chỉ có Nhà hát Nghệ thuật Đương đại Việt Nam là đơn vị tự chủ 100%, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam là đơn vị tự chủ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, năm 2015 sẽ tự chủ 100% kinh phí. Theo chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước phải tăng hơn nữa kinh phí cho nhóm nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn và phát huy, đồng thời giảm dần kinh phí cho nhóm nghệ thuật hiện đại, lấy nguồn kinh phí từ các hoạt động xã hội hoá để bổ sung chi cho hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Các đơn vị nghệ thuật các tỉnh, thành phố, lực lượng vũ trang được cấp kinh phí theo ngân sách tỉnh, thành và ngân sách an ninh quốc phòng; chủ yếu cho duy trì bộ máy, trả lương, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, chi phí dựng các tác phẩm, chương trình nghệ thuật. Bình quân ngân sách hàng năm cấp cho mỗi đơn vị khoảng 2 tỷ đồng. Chi cho lương và duy trì bộ máy chiếm 2/3 số tiền được cấp, chi cho hoạt động sáng tạo và quảng bá tác phẩm nghệ thuật chiếm 1/3. Ngoài ngân sách được cấp, hàng năm, các đoàn phải đi lưu diễn. Số tiền thu từ hoạt động biểu diễn không nhiều song hầu hết được các địa phương đã dành cơ chế “để lại” cho đoàn để tái đầu từ và nâng cao một phần đời sống cho nghệ sỹ, công nhân viên. Các đơn vị nghệ thuật lực lượng vũ trang cũng theo cơ chế quản lý tài chính cấp phát từ cấp trên, tuy không đồi dào nhưng có mức chi khá hơn các đoàn nghệ thuật thuộc các tỉnh có kinh tế trung bình.
Về cơ bản, các đơn vị ngành nghệ thuật biểu diễn của cả 3 khối đều hoạt động phụ thuộc vào nguồn kinh phí của nhà nước cấp hàng năm. Ngoài những đơn vị nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn và phát huy và những đơn vị nghệ thuật thuộc lực lượng vũ trang hoạt động dựa trên nhiệm vụ chính trị thì các đơn vị còn lại chưa phát huy được thế mạnh, chưa tự thể hiện, tạo dựng thương hiệu, uy tín đối với công chúng trong nước và nước ngoài, chưa huy động được nguồn vốn từ xã hội hoá và từ hợp tác quốc tế, đây thực sự là một gánh nặng ngân sách cho nhà nước.
Trong 5 năm trở lại đây (2008-2012), ngân sách cấp cho các đơn vị nghệ thuật biểu diễn cấp tỉnh, thành có gia tăng, năm sau so với năm trước tăng khoảng trung bình 14%. Trong các đơn vị nghệ thuật biểu diễn địa phương, nhóm đơn vị nghệ thuật truyền thống chiếm khoảng 38%, còn lại là các đơn vị nghệ thuật biểu diễn tổng hợp (bao gồm cả hiện đại và truyền thống), chính vì vậy chưa thể phân loại rõ kinh phí cấp cho nhóm nghệ thuật truyền thống thống cần được bảo tồn, phát huy và nhóm biểu diễn nghệ thuật hiện đại có khả năng xã hội hoá cao.
 Các nguồn huy động từ xã hội: Trong những năm qua các đơn vị nghệ thuật công lập đã tìm nhiều phương thức để huy động các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư, hỗ trợ hoạt động nghệ thuật biểu diễn nhưng hiệu quả chưa cao. Phương thức huy động các nguồn lực xã hội của các đơn vị chủ yếu là xin tài trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ cho công tác sáng tạo và quảng bá tác phẩm.
7. Các cuộc thi, liên hoan và chất lượng các tác phẩm nghệ thuật
Hội diễn sân khấu, ca-múa - nhạc toàn quốc trong nhiều năm được tổ chức 5 năm một lần, thường lấy các năm có những ngày lễ lớn của dân tộc. Hội diễn, hội thi là dịp để các đơn vị nghệ thuật và các nghệ sĩ có dịp gặp gỡ, giao lưu, học hỏi lẫn nhau nhằm nâng cao chất lượng nghệ thuật. Các hội diễn, hội thi đều do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đơn vị tổ chức, có sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn là các hội văn học nghệ thuật trung ương hay địa phương.
Ngoài hội diễn cho nhiều loại hình nghệ thuật biểu diễn, còn có các cuộc thi tài năng trẻ sân khấu; thi các trích đoạn hay sân khấu; thi diễn tấu nhạc cụ dân tộc; thi hát thính phòng; thi tài năng biểu diễn múa... thường được tổ chức vào các năm lẻ nhằm phát hiện bồi dưỡng những nghệ sĩ trẻ tài năng.
Tính chất nhà nước thể hiện rất rõ trong các hội thi này, chủ yếu là sự tham gia của các đơn vị nghệ thuật nhà nước, từ trung ương đến địa phương. Các đơn vị xã hội hóa rất ít tham gia do khác biệt về mục tiêu công diễn và thiếu kinh phí tổ chức.
Nhìn chung chất lượng tư tưởng, nội dung nghệ thuật các tác phẩm trong Hội diễn, Cuộc thi, Liên hoan nghệ thuật từng bước đã được nâng cao do cơ quan quản lý nhà nước đã định hướng tiêu chí nghệ thuật và các đơn vị có sự đầu tư về mọi mặt để nâng cao chất lượng tác phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộ những hạn chế như việc chấm điểm, trao giải còn dễ dãi, thiếu tính khoa học. Trong sáng tác còn thiếu những kịch bản hay nên nhiều tiết mục tham gia bị trùng lặp, gò bó về đề tài. Có những tác giả, đạo diễn, nhạc sĩ, hoạ sỹ, biên đạo múa cùng một thời điểm nhận dàn dựng cho nhiều đơn vị, khiến hội diễn không đạt được chất lượng nghệ thuật cao. Chương trình, tiết mục được đầu tư nhiều nhưng không phát huy được hiệu quả nghệ thuật khi đi phục vụ công chúng, khán giả, bị công luận và người xem đặt ra một vấn đề là cần cải tiến cách thức tổ chức các liên hoan và hội thi, đặc biệt là nêu cao mục tiêu coi sức thu hút của khán giả là một tiêu chí đánh giá chất lượng tác phẩm nghệ thuật.
8. Thi người đẹp, người mẫu, trình diễn thời trang
Thi người đẹp, người mẫu: Trong những năm vừa qua, để quản lý tốt hoạt động tổ chức thi người đẹp, người mẫu, Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức các cuộc thi người đẹp và người mẫu, phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa và là phương tiện, công cụ cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện vai trò, chức năng và nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với hoạt động này.
Năm 1988, Việt Nam có cuộc thi hoa hậu đầu tiên. Ngoài cuộc thi "Hoa hậu Việt Nam”, hiện còn có các cuộc thi như "Hoa hậu các dân tộc Việt Nam năm 2007, 2011, 2013", “Hoa hậu Thế giới người Việt năm 2007, 2010”, “Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam năm 2008”, “Hoa hậu quý bà thành đạt Việt Nam năm 2009”. Với các cuộc thi hoa khôi và người đẹp cấp tỉnh, mỗi năm trên toàn quốc diễn ra từ 10 - 15 cuộc thi. Các cuộc thi này được tổ chức nhằm quảng bá cho các hoạt động như du lịch, thể thao, sản phẩm trang sức hoặc quảng bá cho các địa phương có dịch vụ du lịch phát triển.
Một số doanh nghiệp cũng đã rất cố gắng, nỗ lực mua bản quyền và thực hiện tổ chức các cuộc thi Hoa hậu quốc tế tại Việt Nam. Từ năm 2008 cho đến nay, đã có một số cuộc thi Hoa hậu quốc tế được tổ chức tại Việt Nam như cuộc thi “Hoa hậu hoàn vũ thế giới năm 2008”, “Hoa hậu quý bà thế giới 2009”, “Hoa hậu trái đất năm 2007 và 2010”.
Các cuộc thi người mẫu, thời trang: Ngành công nghiệp may phát triển đã thúc đẩy hoạt động trình diễn thời trang như một hiện tượng nghệ thuật biểu diễn, đáp ứng yêu cầu giới thiệu, quảng bá các sản phẩm thời trang đến với khách hàng trong nước và quốc tế một cách chuyên nghiệp, thông qua những người mẫu chuyên nghiệp, có kỹ năng trình diễn, có khả năng truyền tải được ưu điểm của sản phẩm đến với khách hàng. Các cuộc thi như “Siêu mẫu Việt Nam”, “Người mẫu Nam - Việt Nam”, “Ngôi sao người mẫu”,“Vietnam’s Next Top Model”... đã được tổ chức và thành các sự kiện trình diễn có thương hiệu.
Quá trình tổ chức các sự kiện này đã tạo nên những sự kiện văn hóa thẩm mỹ tiêu biểu; là sân chơi để nam, nữ thanh niên trên toàn quốc giao lưu văn hóa xã hội, giới thiệu và tôn vinh vẻ đẹp của thiếu nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; góp phần xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu diễn, với 100% kinh phí được huy động từ các nguồn lực xã hội; tạo cơ hội việc làm, cơ hội thể hiện tài năng nghệ thuật cho nhiều bạn trẻ; góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương đăng cai tổ chức. Ở phạm vi quốc tế, hoạt động này góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, các cuộc thi người đẹp và người mẫu vẫn còn những hạn chế như: Tổ chức thiếu chuyên nghiệp, tạo dư luận không tốt; lệ thuộc rất lớn vào yêu cầu, đòi hỏi của nhà tài trợ như quyền lợi quảng cáo, quyền chi phối vào kết quả của cuộc thi, dẫn đến công tác tổ chức không minh bạch, khách quan, môt số cuộc thi bị dư luận xã hội phản ứng gay gắt; một số cuộc thi không đạt yêu cầu về quy mô, chất lượng chương trình; mua bán giải thưởng; cạnh tranh không lành mạnh.
9. Hoạt động lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình có nội dung ca múa nhạc, sân khấu
Nhiều văn bản pháp quy quản lý về lĩnh vực này đã được ban hành, gần đây nhất là các văn bản như Nghị định số 103/2009/NĐ-CP kèm theo Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng; Nghị định số 79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; Thông tư số 03/2013/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 79/2012/NĐ-CP. Các văn bản này được ban hành khá đầy đủ và kịp thời, đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước.
Do tính chất các bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu là sản phẩm được định dạng cố định vì vậy việc quản lý các hoạt động này không quá phức tạp. Các tổ chức, cá nhân cơ bản tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật trong việc sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu hành, kinh doanh băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình ca nhạc sân khấu.
Về hoạt động sản xuất, lưu hành, kinh doanh băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình ca múa nhạc sân khấu: Từ năm 2010 trở về trước, số lượng các chương trình băng, đĩa ca múa nhạc, sân khấu được cấp phép mới mỗi năm từ 700 - 1000 chương trình và Cục Nghệ thuật biểu diễn cấp khoảng 15 - 20 triệu nhãn kiểm soát/năm. Từ năm 2010 trở lại đây, số lượng chương trình băng, đĩa ca múa nhạc, sân khấu được đầu tư, sản xuất mới ngày càng ít. Trung bình mỗi năm có khoảng 300 chương trình được sản xuất mới và Cục Nghệ thuật biểu diễn cấp khoảng 4 -2 triệu nhãn kiểm soát/năm.
Trên toàn quốc hiện có khoảng trên 200 doanh nghiệp và chủ yếu hoạt động tại Tp. Hồ Chí Minh, tại Hà Nội có khoảng 04 doanh nghiệp hoạt động sản xuất lưu hành, kinh doanh các bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu được thực hiện bằng nguồn vốn xã hội hóa 100%. Về công nghệ, trong đó có công nghệ thu âm, ghi hình rất phát triển do vậy có nhiều sản phẩm nghe nhìn được sản xuất, lưu hành, kinh doanh, những công nghệ cũ như Đài Cattset, Đầu đọc băng Video, Đầu đọc đĩa CD- VCD dần dần được thay thế bằng Đầu đọc DVD , MIDI, HD... đã góp phần cho công chúng, khán giả được thưởng thức các sản phẩm ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu có chất lượng cao về âm thanh, hình ảnh. Một số doanh nghiệp tư nhân nhập khẩu và phân phối những sản phẩm ghi âm, ghi hình có nội dung ca múa nhạc, sân khấu của nước ngoài để phục vụ thị hiếu của một bộ phận khán giả trong nước. Các hoạt động xuất khẩu đã được đẩy mạnh, góp phần quảng bá nghệ thuật Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.
Bên cạnh những thuật lợi trong việc phát triển thị trường băng, đĩa ca múa nhạc, sân khấu cũng đồng thời xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức và hiện nay thị trường sản xuất, lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca múa nhạc, sân khấu đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Công nghệ ghi âm, ghi hình hiện nay đã gặp những thách thức như sao chép lậu và bán ra thị trường với giá rất rẻ, gây thất thu cho doanh nghiệp sản xuất, thất thu thuế cho nhà nước và vi phạm nghiêm trọng Luật Sở hữu trí tuệ; việc phát triển quá nhanh các thế hệ kỹ thuật đòi hỏi nguồn đầu tư lớn nhưng do kinh phí không đủ đã khiến hoạt động này ngày càng thu hẹp về quy mô cũng như chất lượng các chương trình; cạnh tranh rất khốc liệt; ngày càng đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao song trình độ và đội ngũ còn thiếu và yếu.
10. Tổ chức sự kiện nghệ thuật biểu diễn
Sau Đổi mới, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, đã xuất hiện các hiện tượng nghệ thuật mới, trong đó các festival và sự kiện nghệ thuật. Cho đến nay, các festival nghệ thuật đã được tổ chức ở Việt Nam thành công là Festival Huế. Bên cạnh đó, còn có một số festival nghệ thuật biểu diễn như “Âm nhạc truyền thống các nước ASEAN”, CAMA Festival do Câu lạc bộ Mỹ - CAMA Vietnam tổ chức, với sự giúp đỡ của Viện Goethe, Made In Berlin (chương trình đưa các tài năng âm nhạc Đức đến châu Á) và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam; Festival nghệ thuật đường phố do Mạng xã hội Zing me; Festival các trường sân khấu quốc tế lần thứ I - Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhằm tạo điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác, học hỏi kinh nghiệm, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động biểu diễn cũng như đào tạo. Bên cạnh Festival Huế còn có một loạt các lễ hội và fsestival được nhiều địa phương tổ chức nhằm quảng bá các giá trị văn hoá truyền thống, quảng bá sản phẩm gắn với hoạt động lễ hội và nghệ thuật như: Festival Quan họ, Hát Xoan, Đờn ca tài tử, Festival Biển, Festival café, Festival…Các hoạt động này đã góp phần tích cực trong công tác xúc tiến du lịch, quảng bá thương mại, thương hiệu các sản phẩm hàng hoá.
Hạn chế lớn nhất trong các chương trình Lễ hội, Festival là đơn vị tổ chức chưa tìm được phương pháp sáng tạo mới về nội dung, nghệ thuật. Hầu hết các Lễ hội và Festival đều giống nhau về nội dung, nghệ thuật và hình thức thể hiện. Hiện nay, chúng ta thiếu một định hướng phát triển chung cho loại hình này; thiếu các đánh giá, tổng kết tác động của sự kiện nghệ thuật vào đời sống xã hội và đời sống nghệ thuật; các sự kiện do nhà nước tổ chức thu hút ít khán thính giả tham dự; năng lực và các điều kiện cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, điều kiện pháp lý cũng còn có những hạn chế.
11. Thị hiếu thẩm mỹ và xu hướng hưởng thụ văn hóa
Mức độ thụ hưởng văn hóa nghệ thuật của người dân thông qua hình thức nghệ thuật biểu diễn còn rất nhiều hạn chế. Sự hạn chế này được nhận thấy cả ở hai hình thức hoạt động diễn ra ngoài phạm vi gia đình, tại các điểm diễn ra các sự kiện cũng như ngay trong phạm vi gia đình, thông qua các phương tiện tiện nghi trong gia đình. Sự hạn chế thể hiện cả ở các loại hình nghệ thuật sân khấu lẫn nghệ thuật trình diễn âm nhạc.
Gần đây, đã xuất hiện thị trường tiêu thụ các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn tại các thành phố lớn, với sức tiêu thụ khá mạnh ở một số loại hình nghệ thuật như kịch nói, ca múa nhạc. Các sản phẩm phát sinh từ các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn như băng đĩa, quà lưu niệm, cũng được tiêu thụ mạnh. Tuy nhiên trên thị trường vẫn xuất hiện những mất cân đối như:
Có một sự chênh lệch tỷ lệ xem các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn truyền thống với nghệ thuật biểu diễn mới, với tỷ lệ ít gấp 4,99 lần, nghĩa là cứ có gần 5 lượt xem nghệ thuật biểu diễn mới có 1 lượt xem nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Thị trường tiêu thụ chủ yếu tập trung tại thành phố HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, khu vực nông thôn chưa hình thành thị trường thực sự. Người xem chủ yếu là lớp trẻ, học sinh sinh viên, tầng lớp trung niên có thu nhập trung bình trở lên, lứa tuổi trên 70 hầu như không đến rạp. Nam giới đi xem nhiều hơn nữ (61% so với 39%), học vấn của người đi xem phim chủ yếu từ phổ thông trung học trở lên. Người dân Tp. Hồ Chí Minh có mức độ hưởng thụ ngoài không gian gia đình cao hơn so với người dân Hà Nội, họ cũng có tỷ lệ đi xem/nghe một mình hoặc với bạn bè cao hơn, trong khi đó người Hà Nội có xu hướng đi cùng người thân trong gia đình. Giới văn phòng, viên chức và học sinh sinh viên có mức độ thụ hưởng cao hơn các nhóm nghề nghiệp khác.
Các hình thức hưởng thụ tại gia chủ yếu vẫn thông qua phương tiện truyền hình (bao gồm cả truyền hình cáp và đầu thu kỹ thuật số, bên cạnh đó phương tiện máy tính cùng với Internet cũng là một phương tiện quen thuộc được ưa chuộng, các phương tiện di động và các phương tiện truyền thống mới khác chưa được người dân sử dụng ngày càng nhiều hơn.
Khán thính giả đang có những thiếu hụt về định hướng thẩm mỹ, về lựa chọn các hình thức giải trí do chúng ta thiếu một chiến lược giáo dục nghệ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
12. Xã hội hóa các hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập; Nghị định số 53/2006/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, trong những năm vừa qua, công tác xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu diễn đã đạt được những thành công sau:
Về chuyển đổi mô hình quản lý: chuyển đổi Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam và Nhà hát Ca Múa nhạc Việt Nam sang hình thức tự chủ, tiếp tục rà soát để tiến tới chuyển đổi một số đơn vị nghệ thuật công lập ở trung ương sang hình thức này. Tại thành phố Hồ Chí Minh, đã thực hiện chuyển đổi Trung tâm Ca Nhạc nhẹ từ đơn vị tự chủ được nhà nước cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên thành đơn vị tự chủ hoàn toàn về kinh phí, sát nhập Đoàn Xiếc và Đoàn Nghệ thuật Múa Rối để thành lập Nhà hát Nghệ thuật Phương Nam. Các địa phương khác trong cả nước vẫn duy trì cơ chế nhà nước bao cấp. Nhìn chung chuyển đổi mô hình hoạt động của các đơn vị nghệ thuật công lập còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình hoạt động của các đơn vị nghệ thuật công lập sang hình thức tự chủ và xã hội hóa rất chậm và hầu như chưa được thực hiện. Các địa phương không nhận thức hết được tính tất yếu và lợi ích lâu dài của công tác quy hoạch cho nên trong công tác chỉ đạo còn thiếu kiên quyết, thiếu tập trung; tư duy bao cấp còn khá phổ biến trong lãnh đạo các cấp, các ngành.
Về phát triển các đơn vị ngoài công lập: Thực hiện các chính sách của Nhà nước trong việc phát triển các đơn vị nghệ thuật xã hội hóa (bán công, dân lập, tư nhân) được thể chế trong Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 53/2006/NĐ-CP, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài Chính như Thông tư số 91/2006/TT-BTC, Thông tư 135/2008/TT – BTC, việc phát triển các đơn vị nghệ thuật theo mô hình xã hội hóa cho đến nay còn nhiều bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc phát triển các đơn vị nghệ thuật theo hình thức bán công theo quy định tại Nghị định 73/1999/NĐ-CP và Nghị định 69/2008/NĐ-CP hiện tại cũng gặp nhiều khó khăn và hầu như chưa được thực hiện do chưa có văn bản hướng dẫn về quy trình và thủ tục để thành lập đơn vị nghệ thuật ngoài công lập, vì vậy trên toàn quốc không có một đơn vị nghệ thuật nào được thành lập và hoạt động theo mô hình này.
Hiện nay trên toàn quốc có khoảng gần 10 doanh nghiệp hoạt động biểu diễn nghệ thuật và hàng nghìn doanh nghiệp/công ty hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ thuật. Trong đó có khoảng trên 500 doanh nghiệp/công ty thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy phép tổ chức biểu diễn nghệ thuật tại các cơ quan quản lý địa phương và có khoảng trên 300 chủ địa điểm thường xuyên hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ thuật. Các đơn vị nghệ thuật tư nhân thành lập và hoạt động dưới mô hình doanh nghiệp với sự năng động, nhạy bén đã biết chú trọng đến công tác tiếp thị, xây dựng chương trình, vở diễn với tiêu chí hướng đến công chúng trên cơ sở nắm bắt thị hiếu và đáp ứng kịp thời nhu cầu của khán giả; đầu tư về kỹ sảo, âm thanh, ánh sáng có chiều sâu do đó các đơn vị này đang từng bước hoạt động ổn định và có chiều hướng phát triển. Một số doanh nghiệp biểu diễn nghệ thuật, đi đầu là tại thành phố Hồ Chí Minh, đã dần dần định hình phong cách và có lượng khán giả ổn định, các đơn vị còn lại đang từng bước tìm hướng đi riêng để tồn tại, phát triển nhằm mục đích phục vụ công chúng và thỏa mãn nhu cầu biểu diễn, cống hiến cho nghệ thuật, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, việc phát triển các doanh nghiệp biểu diễn nghệ thuật và tổ chức biểu diễn nghệ thuật còn gặp một số khó khăn: Hầu hết các doanh nghiệp biểu diễn nghệ thuật không có trụ sở gắn với địa điểm luyện tập, biểu diễn phục vụ nhân dân, tất cả các đơn vị đều phải đi thuê địa điểm biểu diễn để duy trì hoạt động. Nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất rất lớn, các đơn vị nghệ thuật tư nhân không có khả năng thực hiện, trong khi đó nhà nước chưa có cơ chế hỗ trợ về cơ sở vật chất, tài chính cho đối tượng này. Hoạt động của các doanh nghiệp biểu diễn nghệ thuật hiện nay mang tính thời vụ, thiếu ổn định; các doanh nghiệp biểu diễn nghệ thuật đều do các nghệ sĩ đứng lên thành lập và trực tiếp điều hành. Phần lớn các nghệ sĩ vững về chuyên môn nhưng lại yếu về quản trị doanh nghiệp dẫn đến lúng túng trong khâu quản lý, điều hành và thực hiện quy định pháp luật trong quá trình hoạt động biểu diễn nghệ thuật; tập trung ở loại hình nghệ thuật hiện đại như ca múa nhạc trẻ, tấu hài, kịch nói... và ít tham gia hoạt động ở lĩnh vực nghệ thuật truyền thống; chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận khán giả.
Việc liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài để thành lập doanh nghiệp hoạt động biểu diễn nghệ thuật hiện nay trên toàn quốc hầu như chưa thực hiện được. Theo cam kết của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới (WTO), các tổ chức nước ngoài chỉ được đầu tư vào 3 lĩnh vực: nhà hát, nhạc sống và xiếc, với số vốn góp không vượt quá 51%, vì vậy việc liên doanh, liên kết thành lập doanh nghiệp hoạt động biểu diễn nghệ thuật sẽ rất khó để thực hiện.
Về thành lập các ban, nhóm, câu lạc bộ hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Các tổ chức, cá nhân chưa thực sự quan tâm đầu tư vào hoạt động nghệ thuật biểu diễn vì loại hình này có tính đặc thù cao, tiềm ẩn nhiều rủi do, phức tạp trong quản lý và đòi hỏi sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất và trí tuệ nhưng lại chậm thu hồi vốn so với các ngành nghề, lĩnh vực khác. Phần lớn các đơn vị nghệ thuật, các đoàn, ban, nhóm nghệ thuật tư nhân hiện nay được thành lập trên cơ sở nhu cầu hoạt động biểu diễn và nhu cầu kinh doanh của các tổ chức, cá nhân chứ không phải bắt nguồn từ các chính sách khuyến khích của nhà nước, vì mục đích doanh thu và chỉ tập trung ở các loại hình nghệ thuật thu hút được sự quan tâm của công chúng, khán giả như ca múa nhạc trẻ - hiện đại, kịch nói... Nhiều tác phẩm có nội dung không có tính thẩm mỹ, giáo dục; không phù hợp với phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa của dân tộc. Những tác phẩm này đã gián tiếp tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận khán giả, nhất là khán giả trẻ trong giai đoạn hiện nay.
13. Hợp tác quốc tế
Các hoạt động hợp tác quốc tế của ngành Nghệ thuật biểu diễn do Bộ và Cục Nghệ thuật biểu diễn quản lý. Nghị định số 79/2012/NĐ-CP đã giúp cho Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng phối hợp với các cấp, các ngành điều chỉnh các hoạt động nghệ thuật biểu diễn có yếu tố nước ngoài.
Trao đổi các chương trình biểu diễn nghệ thuật thông qua các Nghị định của Chính phủ, mỗi năm Bộ Văn hóa Thông tin trước đây, nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch phân bổ việc giao lưu, hợp tác quốc tế cho các đơn vị Nghệ thuật trung ương và Địa phương thực hiện. Đây còn gọi là phương diện hợp tác đối ngoại chính thống do Bộ giao nhiệm vụ cho các đơn vị Nghệ thuật đưa các chương trình nghệ thuật đi biểu diễn tại các nước có quan hệ ngoại giao với Chính phủ các quốc gia nhân các sự kiện như: “Giao lưu...”, “Hữu nghị hợp tác...”, “Phái đoàn Chính phủ đi thăm…” , hay những ngày Văn hóa Việt Nam tại nước ngoài và ngược lại...
Những đơn vị thuộc loại hình nghệ thuật hiện đại như Nhà hát Kịch Việt Nam, Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam, Nhà hát Tuổi trẻ, Liên đoàn Xiếc Việt Nam… đều có các hoạt động hợp tác quốc tế tương đối mạnh, thông qua Trung tâm Ngôn ngữ Văn minh Pháp (L’Espace), Hội đồng Nghệ thuật Anh (British Council), Viện Goethe, Quỹ Toyota, hãng Hennessy. Những đơn vị thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống có rất ít hoạt động hợp tác quốc tế, duy nhất chỉ có Nhà hát múa Rối Việt Nam là đang có thế mạnh riêng, nổi lên từ chính cơ chế trị trường. Về kinh phí, các đơn vị có nghệ thuật loại hình nghệ thuật hiện đại khi thực hiện các chương trình nghệ thuật lớn, dàn dựng những vở diễn gần như không lấy tiền ngân sách. Nguồn kinh phí chủ yếu họ dựa vào đối tác bên ngoài là các tổ chức của nước ngoài hợp tác với các đơn vị tài trợ và sự vận động tài trợ của một số cá nhân, của một số tổ chức nước ngoài, tổ chức phi chính phủ của các nước Thụy Điển, Canada, Úc, Đức, Mỹ…
Cách tiếp cận mới trong tổ chức công việc, tư duy mới đã kích thích đội ngũ nghệ sỹ tham gia tích cực hơn trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, đồng thời tạo công ăn việc làm nhiều hơn cho cả tập thể cán bộ, nghệ sỹ của đơn vị mình. Sự hợp tác quốc tế này đã mang lại nhiều lợi ích cho các nghệ sỹ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận tác phong làm việc mới, văn minh và hiện đại. Các hoạt động hợp tác quốc tế là dịp được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm biểu diễn nghệ thuật; trình độ biểu diễn của các nghệ sỹ ngày được cải thiện, nâng cao và hoàn thiện hơn.
II. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ DỰ BÁO XU THẾ PHÁT TRIỂN
Các xu thế phát triển trong nước và quốc tế đầu thế kỷ 21 đã và đang tác động đến sự phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam.
1. Các yếu tố tác động
- Mở cửa và hội nhập kinh tế là một xu thế khách quan vừa là quá trình hợp tác để phát triển. Nghệ thuật biểu diễn được mở rộng, tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập văn hóa - nghệ thuật, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua các cơ chế hợp tác WTO, TPP, ASEAN và nhiều cơ chế hợp tác khác, các cạnh tranh về thị trường trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn sẽ diễn ra mạnh mẽ ngay trên chính thị trường nội địa, nếu chúng ta không có những giải pháp tốt để nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển sẽ đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức. Xu hướng số hóa, tích hợp công nghệ ngay trong chính các tác phẩm nghệ thuật, làm nhòe ranh giới các loại hình nghệ thuật bởi công nghệ đòi hỏi ngành nghệ thuật biểu diễn phải thay đổi với sự thay đổi về tư duy sáng tạo, đầu tư áp dụng công nghệ, đầu tư thay đổi quy trình sản xuất tác phẩm, sản phẩm.
- Nhân tố con người dần trở thành trung tâm của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nhiều quốc gia đang hướng tới nâng cao các chỉ số nguồn nhân lực và mức hưởng thụ văn hóa. Đầu tư cho văn hóa - xã hội từ chỗ được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho con người, cho sự phát triển, đi đôi với đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đáp ứng được xu thế chung của đất nước và thế giới. Trong xu thế này, ngành nghệ thuật biểu diễn có cơ hội phát triển.
- Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta là nền tảng vững chắc tạo môi trường thuận lợi cho phát triển hoạt động nghệ thuật biểu diễn. Xã hội đòi hỏi nghệ thuật biểu diễn phải là lực lượng xung kích, không chỉ phục vụ nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa thông qua các sản phẩm hàng hóa có giá trị về mặt thương mại.
- Trình độ dân trí ngày càng phát triển, nhu cầu của khán giả xem biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trực tiếp trên sân khấu và nghe, nhìn trên sóng phát thanh, truyền hình hoặc qua băng đĩa hình, băng đĩa tiếng sân khấu (ti vi, radio, video...) càng đòi hỏi cao hơn. Trong những năm tới mức hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp của nhân dân được cải thiện, giảm dần khoảng cách không đồng đều giữa khu vực đô thị và nông thôn, miền núi, vùng xa xôi hẻo lánh.
- Sự phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường vừa thúc đẩy các nguồn lực cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật nhưng đồng thời xuất hiện những biểu hiện tiêu cực vì mục đích lợi nhuận mà hoạt động vi phạm pháp luật, coi nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống đích thực.
- Cuộc cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực hoạt động biểu diễn, sản phẩm băng đĩa ca nhạc, sân khấu, truyền thanh, truyền hình, qua mạng Internet, sách báo ... đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn ở các cấp cũng như năng lực sáng tạo, sản xuất và phân phối các tác phẩm và sản phẩm nghệ thuật biểu diễn của các đơn vị nghệ thuật và cá nhân các nghệ sĩ.
- Xu hướng xã hội hóa trong nghệ thuật ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn, đòi hỏi các đơn vị của khu vực nhà nước phải đẩy mạnh năng lực tổ chức sản xuất các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn trong bối cảnh chi tiêu công giảm. Đây là một thách thức lớn đối với phần lớn các đoàn nghệ thuật.
2. Dự báo xu hướng phát triển nghệ thuật biểu diễn
- Nghệ thuật biểu diễn cùng với các loại hình nghệ thuật khác tiếp tục là hình thái xã hội tích cực tham gia vào quá trình phát triển của xã hội, làm tốt chức năng cổ vũ cho những nhân tố tích cực, đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực của xã hội, phản ánh những giá trị chân, thiện, mỹ của thời đại.
- Nghệ thuật chịu sự tác động lớn của của sự biến đổi xã hội, dưới tác động của các yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông. Chính bối cảnh này đòi hỏi sự sáng tạo nghệ thuật một mặt vẫn tiếp tục dòng chảy chân, thiện, mỹ, mặt khác, phải thay đổi tư duy sáng tạo, thay đổi phương pháp sáng tác để theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của xã hội.
- Có một sự giao thoa, hòa trộn các loại hình nghệ thuật biểu diễn, thay vì một khung phân loại cứng nhắc theo truyền thống. Chính đặc điểm này làm thay đổi đặc điểm của đối tượng quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn.
- Trở thành các doanh nghiệp sản xuất tinh thần sẽ thay đổi phương thức quản trị các tổ chức nghệ thuật, đòi hỏi phải áp dụng các bài toán quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức nghệ thuật để nâng cao khả năng tiếp cận công chúng, giảm chi phí, đa dạng hóa sản phẩm. Các công cụ quản trị hiện đại sẽ được áp dụng nhanh chóng trong các tổ chức nghệ thuật.
- Công chúng nghệ thuật biểu diễn sẽ có một thị hiếu đa dạng và khá khác biệt dựa trên sự phân hóa các nhóm và tầng lớp xã hội. Chính đặc điểm này đòi hỏi các tác phẩm, các kênh phân phối sản phẩm nghệ thuật biểu diễn phải nghiên cứu thị hiếu và khả năng trị trả của nhóm, nghĩa là phải có tư duy và phương pháp tiếp cận thị trường tiềm năng và thị trường mục tiêu, thay vì các mục tiêu phát triển chung chung, không theo thị trường.
- Trên phương diện quốc tế, khi tham gia các cơ chế hợp tác WTO, TPP và các cơ chế hợp tác quốc tế khác, chúng ta phải mở cửa hơn nữa thị trường nghệ thuật, nhất là thị trường băng đĩa, tổ chức sự kiện thời trang, người mẫu…Tính canh tranh sẽ mạnh mẽ hơn, cũng như đòi hỏi chúng ta phải hiểu luật và các thể chế thị trường, bảo đảm hơn nữa bảo hộ quyền tác giả và quyền có liên quan trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
I. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG
1. Từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực của ngành nghệ thuật biểu diễn để sản xuất, phổ biến nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, giáo dục, thẩm mỹ và giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng cao của nhân dân, hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước và hội nhấp quốc tế.
2. Gắn với thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến 2020, bảo đảm phù hợp với các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng và nâng cấp xây mới các công trình văn hóa đã được phê duyệt.
3. Phát huy thế mạnh của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam, bảo đảm phù hợp với đặc điểm của từng vùng, địa phương, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu hướng phát triển của nghệ thuật biểu diễn thế giới. Phấn đấu bảo đảm sự công bằng hợp lý trong hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn. Tăng năng lực sản xuất, phổ biến của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn trong nước tại hệ thống rạp và trên sóng truyền hình cả nước.
4. Tận dụng hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật và phát huy khả năng nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn hiện có; bố trí ngân sách đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm vào các vùng, miền trên phạm vi cả nước theo những dự án cụ thể; huy động mọi nguồn lực xã hội để phát triển nghệ thuật biểu diễn nhằm thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực và châu lục.
5. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu diễn, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam theo định hướng dân tộc, hiện đại dựa trên các tiềm năng phát triển của vùng và cả nước; phát huy tiềm năng sáng tạo của các đơn vị nghệ thuật, các tập thể, cá nhân, đẩy mạnh tiến trình “xã hội hóa” hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phát triển nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật của ngành và từng vùng; phấn đấu đến 2020 có những nghệ sĩ tiêu biểu, có nhiều tác phẩm đỉnh cao trên cơ sở bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuật thế giới. Từng bước phấn đấu xây dựng nghệ thuật biểu diễn Việt Nam trở thành nền nghệ thuật biểu diễn mạnh trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Đến năm 2020:
Hoàn thành công tác quy hoạch hệ thống các đơn vị nghệ thuật trên toàn quốc phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, đặc trưng văn hoá, nhu cầu hưởng thụ văn học nghệ thuật của nhân dân ở từng địa phương trên cơ sở coi trọng việc bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật truyền thống; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuật của cộng đồng quốc tế.
- Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống chính sách về Nghệ thuật biểu diễn để phù hợp với sự phát triển của xã hội và khuyến khích sức sáng tạo của văn nghệ sĩ.
- Xây dựng đội ngũ các nhà biên kịch, đạo diễn, thiết kế mỹ thuật, nhạc sĩ, họa sĩ, diễn viên, chuyên gia kỹ thuật công nghệ, nhà lý luận phê bình, nhà sản xuất, nhà quản lý được đào tạo bài bản, chuyên sâu, có đủ trình độ và năng lực để phát triển nền nghệ thuật biểu diễn Việt Nam dân tộc, hiện đại và nhân văn.
- Hoàn thành cơ bản việc xây dựng hệ thống thiết chế, cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ tổ chức và sản xuất các chương trình, tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đẩy mạnh khía cạnh thương mại và nâng cao chất lượng hiệu quả kinh tế - xã hội của nghệ thuật biểu diễn. Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật để Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành ba trung tâm nghệ thuật biểu diễn lớn ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.
- Khắc phục sự chênh lệch về hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt là sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn; đầu tư xây dựng 10% số lượng nhà hát cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có địa điểm biểu diễn nghệ thuật. Xây dựng cơ chế và phối hợp chặt chẽ với Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình các địa phương, Đài Tiếng nói Việt Nam để sản xuất và phổ biến các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn nhằm tăng tỷ lệ tác phẩm được biểu diễn và phát sóng.
b) Phấn đấu đến năm 2030:
- Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam có đội ngũ sáng tác, sản xuất mạnh trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á, trong đó có những tài năng được quốc tế công nhận; có hệ thống các đơn vị nghệ thuật tiêu biểu đại diện cho từng loại hình nghệ thuật, hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, bộ máy, thiết chế; có nguồn nhân lực, phương pháp sáng tạo và tác phẩm đạt chất lượng cao.
- Quy hoạch, trang bị hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đồng bộ đảm bảo sự phát triển thế mạnh của từng vùng, chú trọng phát triển các sản phẩm và dịch vụ thuộc ngành công nghiệp biểu diễn ở tầm khu vực và quốc tế.
Phần thứ hai
III. NỘI DUNG QUY HOẠCH
A. Đến năm 2020
1. Quy hoạch vùng phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020
Định hướng chung là phát triển các vùng nghệ thuật biểu diễn dựa trên tiềm năng sẵn có, bản sắc văn hoá, của vùng, trên cơ sở định hướng phát triển văn hóa và du lịch vùng đến 2020, nhằm bảo tồn các loại hình nghệ thuật truyền thống gắn với không gian văn hóa, phát triển các loại hình nghệ thuật đỉnh cao để hội nhập quốc tế.
1.1. Vùng Bắc Bộ
- Trọng điểm phát triển của vùng là bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật: ca trù, hát xoan, quan họ, chèo, kịch nói, giao hưởng, opera và ballet; phát triển các chương trình ca múa nhạc và tạp kỹ hiện đại; sản xuất các sự kiện nghệ thuật biểu diễn lớn, có chất lượng cao.
- Các địa phương đảm bảo tổ chức hoạt động nghệ thuật biểu diễn tại các điểm diễn cố định và lưu động phục vụ đồng bào ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn.
Tập trung đầu tư cho sáng tác các tác phẩm và tổ chức các sự kiện nghệ thuật biểu diễn có chất lượng cao.
- Đầu tư, hỗ trợ đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ.
- Cải tạo, nâng cấp các nhà hát, trung tâm biểu diễn nghệ thuật hiện có nhằm đáp ứng việc phục vụ nhu cầu thưởng thúc nghệ thuật của khán giả.
1.2. Trung Bộ
a) Địa bàn trọng điểm phát triển nghệ thuật biểu diễn
- Trọng điểm phát triển của vùng là bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật tuồng, bài chòi, ca Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, gắn với các trung tâm có các khu di tích văn hóa thế giới và quốc gia đã được UNESCO và Nhà nước công nhận là di sản thế giới và di sản quốc gia; sản xuất các sự kiện nghệ thuật biểu diễn lớn, có chất lượng cao tại các đô thị du lịch lớn như Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận.
- Các tỉnh thành Nam duyên hải miền Trung là trung tâm nghệ thuật biểu diễn với loại hình Tuồng và bài chòi, các tỉnh Tây Nguyên với nghệ thuật cồng chiêng; bảo tồn và phát huy các loại hình dân ca - dân vũ của tộc người Chăm, các tộc người dọc dãy Trường Sơn; tập trung sản xuất và phổ biến các sản phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn trong khu vực, gắn với vùng du lịch thu hút khách đông nhất nước.
Hình thành một số tỉnh, thành phố là vệ tinh hỗ trợ phát triển trung tâm nghệ thuật biểu diễn Trung Bộ.
- Các địa phương đảm bảo hoạt động phổ biến các tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn tại các điểm cố định và lưu động phục vụ đồng bào ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn; Thực hiện các dịch vụ cung cấp bối cảnh làm các sản phẩm nghe nhìn về nghệ thuật biểu diễn.
b) Các lĩnh vực tập trung đầu tư phát triển
- Sản xuất các tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn
+ Xây dựng đề án nâng cao năng lực sáng tác và sản xuất cho các nhà hát trực tuồng của thành phố Đà Nẵng, của các tỉnh có di sản nghệ thuật biểu diễn tiêu biểu của vùng nhằm cung cấp cho vùng những tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn có quy mô và chất lượng nghệ thuật cao.
            + Định hướng và quy hoạch lại các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống và hiện đại cho Festival Huế, nhằm nâng cấp chất lượng các chương trình nghệ thuật biểu diễn tại đây theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế, để cho Festival Huế thực sự là cầu nối nghệ thuật biểu diễn Việt Nam với thế giới.
            - Phát hành, phổ biến tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn
            + Quy hoạch, sắp xếp, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật đối với tỉnh Thừa Thiên Huế để có đủ không gian tổ chức các sự kiện nghệ thuật biểu diễn tại festival Huế, đáp ứng nhu cầu dịch vụ kỹ thuật trong tổ chức sự kiện nghệ thuật biểu diễn quốc tế
            + Phát triển festival pháo hoa quốc tế Đà Nẵng thành thương hiệu quốc gia về nghệ thuật biểu diễn ánh sáng. Xây dựng thành phố Nha Trang thành nơi tổ chức các sự kiện thi hoa hậu quốc tế tại Việt Nam.
+ Xây dựng mới 1 nhà hát với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Thực hiện các dịch vụ cung cấp bối cảnh làm các sản phẩm nghe nhìn về nghệ thuật biểu diễn.
+ Cải tạo nâng cấp 5 nhà hát, trung tâm biểu diễn nghệ thuật hiện có nhằm nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và cơ sở hạ tầng.
+ Đầu tư trang thiết bị phù hợp cho một số nhà hát, đoàn nghệ thuật có khả năng thực hiện tổ chức biểu diễn ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn.
1.3. Nam Bộ
a) Địa bàn trọng điểm phát triển nghệ thuật biểu diễn
- Trọng điểm phát triển của vùng là bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật đờn ca tài từ, cải lương, gắn với các trung tâm đô thị và du lịch lớn; bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống của tộc người Khmer, người Hoa; sản xuất các sự kiện nghệ thuật biểu diễn hiện đại có chất lượng cao tại các đô thị du lịch trong vùng
- Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm nghệ thuật biểu diễn phía Nam, trung tâm hội nhập quốc tế về nghệ thuật biểu diễn; tập trung đào tạo nguồn nhân lực; phát triển sản xuất, phát hành và phổ biến các tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn; nghiên cứu khoa học và lưu trữ nghệ thuật biểu diễn; trung tâm tổ chức các sự kiện thời trang, thi người đẹp trong nước và quốc tế; trung tâm ghi âm về nghệ thuật biểu diễn của cả nước
- Hình thành các vệ tinh có chức năng hỗ trợ phát triển trung tâm nghệ thuật biểu diễn Nam Bộ, trong đó trọng tâm bảo tồn và phát huy tiềm năng nghệ thuật biểu diễn truyền thống của người Việt, người Hoa, Chăm, Khmer và các tộc người khác.
- Các địa phương đảm bảo hoạt động phổ biến các tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn tại các điểm cố định và lưu động phục vụ đồng bào ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn; Thực hiện các dịch vụ cung cấp bối cảnh làm các sản phẩm nghe nhìn về nghệ thuật biểu diễn.
b) Các lĩnh vực tập trung đầu tư phát triển
- Sản xuất sản phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn: 
+ Xây dựng đề án nâng cao năng lực sản xuất sản phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn của một số nhà hát và đơn vị nghệ thuật thuộc thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành thuộc Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long.
+ Đầu tư xây mới 1 Trung tâm biểu diễn nghệ thuật hiện đại tại thành phố Hồ Chí Minh với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại; diện tích đất xây dựng trung tâm là 50 ha; đầu tư theo cơ chế xã hội hóa là chủ yếu, Nhà nước hỗ trợ đầu tư một số hạng mục ban đầu.
Đào tạo nguồn nhân lực
            + Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị dạy học cho các khoa thuộc loại hình sân khấu tại Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, để trường thành trung tâm đào tạo có chất lượng cao cho ngành.
- Phát hành, phổ biến tác phẩm và sự kiện nghệ thuật biểu diễn
            + Quy hoạch, sắp xếp, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật đối với thành phố Hồ Chí Minh để có đủ không gian tổ chức các sự kiện nghệ thuật biểu diễn tại quốc tế, các sự kiện ngoài trời, đáp ứng nhu cầu dịch vụ kỹ thuật trong tổ chức sự kiện nghệ thuật biểu diễn ở tầm quốc tế.
            + Cải tạo, nâng cấp các trung tâm biểu diễn nghệ thuật hiện đại của vùng, đảm bảo yêu cầu tổ chức Liên hoan nghệ thuật quốc gia và quốc tế. Nghiên cứu và phát triển một số festival nghệ thuật tại một số tỉnh thành trong vùng thành thương hiệu vùng. Lựa chọn và xây dựng một số trung tâm bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử của vùng.
+ Xây dựng mới 1 nhà hát với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Thực hiện các dịch vụ cung cấp bối cảnh làm các sản phẩm nghe nhìn về nghệ thuật biểu diễn.
+ Cải tạo nâng cấp 5 nhà hát, trung tâm biểu diễn nghệ thuật hiện có nhằm nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và cơ sở hạ tầng.
+ Đầu tư trang thiết bị phù hợp cho một số nhà hát, đoàn nghệ thuật có khả năng thực hiện tổ chức biểu diễn ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn.
2. Cơ chế chính sách
Định hướng xây dựng các cơ chế quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn phân cấp mạnh cho là các tỉnh, thành phố; giảm cấp phép theo lộ trình, tiến tới hậu kiểm; tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức nghệ thuật; phát triển các chính sách mới phù hợp với thực tiễn phát triển, bao gồm:
- Nghiên cứu chính sửa một số điểm chưa phù hợp, bổ sung những điểm mới của một số Nghị định có liên quan tới lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, tiếp tục xây dựng một số Nghị định mới đáp ứng yêu cầu quản lý ngành.
+ Chế độ tiền lương Đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ tiền lương tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP của Chính phủ cho phù hợp với tình hình hiện tại và đặc thù ngành.
+ Chế độ phụ cấp nghề và bồi dưỡng luyện tập biểu diễn: Sửa đổi bổ sung chế độ phụ cấp, bổ sung thêm đối tượng là những Nghệ sỹ nhân dân, Nghệ sỹ ưu tú và những người không hưởng lương ngạch 17.157, 17.158, 17.159 đối với lao động biểu diễn nghệ thuật (diễn viên) trong các đơn vị nghệ thuật của nhà nước.
+ Chế độ nhuận bút: Sửa đổi, bổ sung Nghị định 61/2002/NĐ-CP cho sát với tình hình thực tế hiện nay.
+ Chế độ bảo hiểm xã hội: Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 6 Bộ Luật Lao động và Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội cho phù hợp với đặc thù của ngành Nghệ thuật biểu diễn để đảm bảo quyền lợi của người lao động.
Tuổi lao động: Đề xuất sửa đổi tuổi lao động và cơ chế tuyển dụng đối với một số loại hình nghệ thuật mang tính đặc thù.
Tuổi nghỉ hưu: Đề xuất cơ chế ưu đãi mang tính đặc thù khi tính tuổi nghỉ hưu cho một số ngành nghệ thuật, chế độ tuyển dụng đặc thù đối với số nghệ sĩ không còn khả năng biểu diễn. Đề xuất điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đối với diễn viên nam là 55 tuổi; diễn viên nữ là 50 tuổi.
Chính sách thẩm định các tác phẩm nghệ thuật: Phối hợp với Bộ Tài chính, sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các chính sách thẩm định các tác phẩm nghệ thuật.
- Chính sách đào tạo, bổ nhiệm chức danh Chỉ đạo nghệ thuật: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mở chuyên ngành đào tạo Quản lý - Chỉ đạo nghệ thuật chính quy ở bậc đại học và trên đại học để chuyên môn hoá chức danh Chỉ đạo nghệ thuật. Ban hành chế độ phụ cấp trách nhiệm và xây dựng tiêu chuẩn của người đảm nhiệm cương vị chỉ đạo nghệ thuật.
- Các chính sách liên quan tới đào tạo: gồm các chính sách đối với đội ngũ cán bộ giảng viên, giáo viên đào tạo ngành nghệ thuật biểu diễn: Chính sách sử dụng đội ngũ là các nghệ sĩ đã thành danh, các nghệ sĩ nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú tham gia công tác giảng dạy, đặc biệt là các môn thực hành; Chính sách thu hút những người có kinh nghiệm, được đào tạo ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo.
Chế độ học bổng đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật biểu diễn như: Tuồng, Chèo, Cải lương; biểu diễn nhạc cụ truyền thống; nhạc cụ phương tây; kịch hát dân tộc; múa; xiếc…; đặc biệt quan tâm, chú trọng đến học sinh, sinh viên miền núi, dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Miễn học phí và tăng mức học bổng đối với học sinh, sinh viên theo học các ngành nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật mang tính đặc thù cao như: Tuồng, Chèo, Cải lương, Dân ca, Xiếc.
- Xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật ngành làm cơ sở để giao chỉ tiêu ngân sách và đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị nghệ thuật biểu diễn.
3. Tổ chức bộ máy
- Xây dựng, điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị nghệ thuật Trung ương và địa phương một cách thống nhất, khoa học. Trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng đơn vị cụ thể hoạt động theo đúng lĩnh vực nghệ thuật được Đảng, Nhà nước phân công để tránh tình trạng đơn vị nghệ thuật Chèo truyền thống tổ chức biểu diễn các chương trình nghệ thuật ca múa nhạc, kịch nói, tạp kỹ, múa rối...
- Từ năm 2015 đến năm 2020 Quy hoạch, phân vùng, định hướng phát triển cho từng loại hình nghệ thuật theo đặc thù vùng, miền; Giảm số lượng các đơn vị nghệ thuật hoạt động không hiệu quả gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước; Tiếp tục thực hiện quy hoạch theo hướng tinh giản đầu mối, đầu tư phát triển chiều sâu cho các loại hình nghệ thuật truyền thống; khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài công lập tham gia dưới mọi hình thức để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều địa phương đã triển khai giảm bớt đầu mối các đơn vị nghệ thuật bằng cách sáp nhập, chuyền đổi đoàn công lập thành ngoài công lập, ưu tiên cho đơn vị nghệ thuật truyền thống tiêu biểu của địa phương.
- Xây dựng kế hoạch đào tạo lực lượng nghệ sỹ, diễn viên bằng hình thức liên kết với các đơn vị đào tạo hoặc đào tại chỗ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình. Xác định mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của đơn vị phù hợp với tình hình thực tế, quá trình hội nhập hướng tới tương lai.
- Xây dựng các gói sản phẩm nghệ thuật phù hợp với từng đối tượng thưởng thức cụ thể; liên danh, liên kết với Doanh nghiệp, Công ty Lữ hành trong và ngoài nước phục vụ nhân dân và quảng bá du lịch.
Các đơn vị nghệ thuật:
Thành lập mới, sáp nhập đơn vị nghệ thuật: tiếp tục điều chỉnh và thực hiện các giải pháp chủ yếu trong việc tổ chức mạng lưới các đoàn nghệ thuật biểu diễn theo hướng xã hội hoá hoạt động biểu diễn tại Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến năm 2010:
- Các đơn vị nghệ thuật trung ương trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: tiếp tục duy trì mô hình đơn vị nghệ thuật công lập đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống tiêu biểu như: tuồng, chèo, cải lương, ca múa nhạc dân tộc, giao hưởng, múa cổ điển Châu Âu (ballet), nhạc vũ kịch.
- Các đơn vị nghệ thuật ở địa phương: giảm bớt số đoàn (chuyển đổi thành đoàn nghệ thuật ngoài công lập hoặc sáp nhập), chỉ giữ một đoàn nghệ thuật công lập truyền thống, tiêu biểu của địa phương.
- Các đơn vị nghệ thuật thuộc lực lượng vũ trang: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xây dựng quy hoạch tổ chức đơn vị nghệ thuật theo hướng tinh gọn, hiệu quả trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài công lập tham gia dưới mọi hình thức để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, phát triển các loại hình nghệ thuật truyền thống, dân gian, dân tộc và các hình thức phục vụ cho biểu diễn nghệ thuật. Khuyến khích tập thể, tư nhân liên doanh, liên kết xây dựng các rạp hát, trung tâm nghệ thuật, tổ chức hoạt động biểu diễn, kinh doanh trang thiết bị biểu diễn, âm thanh, ánh sáng...
4. Phát triển nguồn nhân lực
Định hướng chung để phát triển nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn là phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực đủ điều kiện về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành công nghiệp biểu diễn, bao gồm các loại nhân lực cho khối quản lý, khối sáng tạo, khối sản xuất và khối phân phối sản phẩm nghệ thuật.
a) Đào tạo trong nước (bằng ngân sách nhà nước)
- Đào tạo chính quy tại Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh, Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Nghệ thuật Huế, Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam. 
+ Nâng cao chất lượng, đảm bảo số lượng đào tạo đối với các ngành nghề chủ yếu như sân khấu, tạp kỹ, ca múa nhạc: Giai đoạn 2014-2020, mỗi năm đào tạo 15-20 Đạo diễn, 10-15 Nhà sản xuất, 10-15 Biên kịch, 10 Lý luận-phê bình, 10 Thiết kế mỹ thuật sân khấu, 15-20 Kỹ thuật-công nghệ, 5-10 Họa sỹ hóa trang, 150-170 diễn viên cho các loại hình nghệ thuật, 50-50 nhạc công, 15-20 biên đạo, 5-10 đạo diễn sự kiện, lễ hội….
+ Mở thêm ngành đào tạo Nhà sản xuất.
- Bồi dưỡng nâng cao tay nghề ngắn hạn:
Giai đoạn 2014-2020: Mỗi năm mở các lớp đào tạo, thực tập ngắn hạn để nâng cao tay nghề đối với các ngành nghề chủ yếu như sân khấu, tạp kỹ, ca múa nhạc: cho 20-30 Đạo diễn, 10-15 Nhà sản xuất , 10-15 Biên kịch, 10-15 Thiết kế mỹ thuật; 15-20 Kỹ thuật-công nghệ; 5-10 Họa sỹ hóa trang, 15-20 Diễn viên.
b) Đào tạo ở nước ngoài
- Gửi sinh viên đi đào tạo chính quy dài hạn:
Giai đoạn 2014-2020: Lập dự án hàng năm cử sinh viên đi đào tạo các ngành nghề chủ yếu đối với các ngành nghề chủ yếu như sân khấu, tạp kỹ, ca múa nhạc: 03-05 Đạo diễn; 03-05 Nhà sản xuất; 03-05 Biên kịch; 03-05 Kỹ thuật-công nghệ.
- Tổ chức các lớp đi thực tập, nâng cao tay nghề ngắn hạn:
Giai đoạn 2014-2020: Mỗi năm cử 01-02 đoàn đi thực tập nâng cao tay nghề đối với các ngành nghề chủ yếu như sân khấu, tạp kỹ, ca múa nhạc cho 05-10 Đạo diễn; 05-10 Nhà sản xuất; 05-10; Biên kịch 05-10 Kỹ thuật-công nghệ, 03-05 Họa sỹ hóa trang.
c) Xã hội hóa đào tạo nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn
Khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong nước, nước ngoài tham gia đào tạo dưới các hình thức mở trung tâm đào tạo và hỗ trợ sản xuất nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam; đầu tư xây dựng và thiết bị kỹ thuật cho các xưởng thực hành, thể nghiệm sân khấu, ca múa nhạc.. tại các Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh; tổ chức các khóa đào tạo chất lượng cao các ngành chuyên môn; tài trợ học bổng cho sinh viên đi học ở trong và ngoài nước; thực hiện mô hình du học tại chỗ cho sinh viên. Hoàn thiện hệ thống trường cao dẳng và trung cấp văn hóa nghệ thuật các tỉnh, thành.
5. Cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật
Xây dựng một số nhà hát đạt chuẩn quốc tế và là điểm đến, biểu tượng của một số tỉnh, thành phố, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về mặt kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, hình ảnh và các kỹ xảo khác của các chương trình biểu diễn nghệ thuật trong nhà và ngoài trời; lựa chọn đầu tư một số cơ sở sản xuất có công nghệ cao trong ghi âm, ghi hình, tổ chức sự kiện nghệ thuật theo hướng xã hội hóa, bao gồm các nội dung:
- Tiếp tục thực hiện nội dung Quy hoạch cũ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg: Xây dựng Nhà hát Tuổi trẻ mới, Nhà hát Cải lương, Nhà hát Ca múa dân gian Việt Bắc. Xây mới và nâng cấp các nhà hát theo quy hoạch vùng lãnh thổ tại Mục 1. Quy hoạch vùng phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020.
- Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật: bao gồm trang thiết bị kỹ thuật, thiết bị âm thanh, ánh sáng biểu diễn lưu động theo hướng từng bước nâng cấp và đầu tư mới thiết bị âm thanh, ánh sáng cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp theo hướng sử dụng trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, gọn nhẹ, phù hợp điều kiện khí hậu nhiệt đới. Chú trọng công tác đào tạo và nâng cao trình độ về chuyển giao, ứng dụng, vận hành, duy tu, bảo dưỡng các máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ mới. Chú ý đầu tư đồng bộ các bao bì, thùng bảo quản có chất lượng cao, dễ lắp đặt và vận hành, phù hợp điều kiện lưu động; dự phòng với số lượng hợp lý các linh kiện hay hỏng hóc để thay thế như: bóng đèn, dây, giắc cắm...Đầu tư có trọng điểm các thiết bị vận chuyển diễn viên, trang thiết bị biểu diễn, đặc biệt là vùng khó khăn.
6Tài chính
Căn cứ vào nhóm biểu diễn nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, phát huy và nhóm nghệ thuật hiện đại có khả năng xã hội hoá cao, nguồn tài chính được chia thành 2 nguồn: Nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước và nguồn tài chính huy động từ xã hội hoá; trong đó nguồn ngân sách nhà nước đầu tư vào các đoàn nghệ thuật nhà nước; cải tiến phương thức đầu tư nhà nước theo hướng giảm tính hành chính; thu hút các nguồn xã hội hóa để phát triển các nghệ thuật đại chúng, nghệ thuật mới, phát triển hệ thống rạp hát, điểm diễn.
Ngân sách cấp cho các hoạt động hàng năm: Đảm bảo nguồn ngân sách hàng năm cấp cho các hoạt động theo tỷ lệ GDP; Giảm dần ngân sách cấp cho nhóm biểu diễn nghệ thuật hiện đại theo lộ trình xã hội hoá, dần hướng tới tự chủ toàn phần kinh phí hoạt động thường xuyên. Nhà nước cấp kinh phí căn cứ vào dự toán kinh phí hoạt động hàng năm của các đơn vị. Nhà nước cấp kinh phí căn cứ vào yêu cầu và kết quả thẩm định của Hội đồng nghệ thuật cấp Nhà nước về các dự án nghệ thuật, các chương trình biểu diễn nghệ thuật của đơn vị, theo thứ bậc ưu tiên cho các hoạt động phục vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn, ưu tiên cho các đơn vị thuộc nhóm nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn và phát huy.
Xây dựng nguồn kinh phí phát triển nhân lực: Mỗi đơn vị nghệ thuật có nguồn kinh phí phát triển nhân lực theo kế hoạch đào tạo trong 3 năm/ khoá hoặc 5 năm/ khoá, chia thành 2 nhóm: Nhóm kinh phí đào tạo lại và nhóm kinh phí đào tạo chính quy. Sử dụng kinh phí phát triển nhân lực để thu hút, bổ sung nguồn nhân lực cũng như nâng cao, đồng bộ hoá trình độ chuyên môn của các diễn viên.
- Thành lập Quỹ hỗ trợ nghệ thuật biểu diễn từ nguồn kinh phí trích từ ngân sách nhà nước, phần trăm doanh thu cho các tác phẩm. Quỹ này hoạt động nhằm hỗ trợ và phát triển, ưu tiên đặt hàng các tác giả trẻ.
Nguồn tài chính từ huy động xã hội hoá: Xã hội hoá từng phần đối với nhóm biểu diễn nghệ thuật hiện đại, chia thành các giai đoạn phù hợp với lộ trình xã hội hoá của từng đơn vị; Tạo quyền tự chủ về tài sản cho các đơn vị tự chủ 100% kinh phí hoạt động thường xuyên; Thành lập Quỹ hỗ trợ nghệ thuật biểu diễn từ nguồn doanh thu bán vé, Quỹ này hoạt động nhằm hỗ trợ, đặt hàng tác giả các tác phẩm có đề tài phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khán giả.
- Đẩy mạnh liên doanh, hợp tác đầu tư: Đưa một số nhà hát trở thành đối tác lâu dài của các công ty lữ hành trong nước cũng như quốc tế; Xây dựng thương hiệu và đầu tư nhân lực cũng như cơ sở vật chất cho một số đơn vị nghệ thuật để trở thành nơi giao lưu, hợp tác, đào tạo, diễn viên trong nước cũng như các nước trong khu vực, góp phần tăng thêm sự đa dạng về văn hoá trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
7. Nâng cao chất lượng các cuộc thi, liên hoan, các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn
Định hướng chung là hạn chế các cuộc thi, liên hoan có tính hình thức, chú trọng đến các cuộc thi, liên hoan mang tính nghệ thuật cao; đa dạng hóa các hình thức tổ chức cuộc thi, liên hoan; chủ động tiếp nhận các công nghệ tổ chức sự kiện nghệ thuật chuyên nghiệp từ nước ngoài; đầu tư cho các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, các tác giả, tác phẩm được công chúng đánh giá cao.
- Đối với nghệ thuật truyền thống: Bảo tồn có chọn lọc một số loại hình nghệ thuật tiêu biểu thông qua việc định kỳ tổ chức hai năm một lần các cuộc thi về chèo, tuồng, cải lương, kịch hát dân tộc khác theo các chủ đề, vùng miền hay theo các lớp tuổi. Mở các khóa đào tạo ngắn hạn về các xu hướng nghệ thuật mới, các kỹ năng mới trong viết kịch bản, về đạo diễn, mỹ thuật, âm thanh ánh sáng, hay các kiến thức về kỹ năng quản trị khác; Bảo tồn gắn với các mô hình tổ chức biểu diễn thích hợp, với các nhóm, đội, cá nhân nghệ sĩ độc lập, theo hình thức tư nhân, hoạt động không chuyên hay chuyên nghiệp, bên cạnh việc duy trì các hoạt động của các đơn vị nhà nước.
Đối với nghệ thuật hiện đại: xây dựng một số loại hình nghệ thuật mũi nhọn ở từng vùng, tỉnh, thành phố dựa trên nhu cầu thị trường, lấy thị trường làm công cụ điều tiết sự phát triển các loại hình nghệ thuật này, thay vì các đầu tư dàn đều như hiện nay. Nhà nước hạn chế tổ chức các hội thi, hội diễn ở loại hình nghệ thuật này mà đầu tư vào tác phẩm có giá trị, có chất lượng nghệ thuật cao, được công chúng đón chờ, nâng cấp chúng thành các tác phẩm đỉnh cao, thu hút công chúng.
Xây dựng ở các đơn vị nghệ thuật bộ phận chuyên nghiệp về marketing và giáo dục nghệ thuật để phát triển khán thính giả, nâng khả năng tiếp cận công chúng của các nhà hát bằng các nghiệp vụ quản lý hiện đại như xây dựng trang web, phát triển các công cụ quảng cáo, liên kết truyền thông, mở các chương trình giáo dục nghệ thuật cho trẻ em, cho các khán thính giả tiềm năng hay mục tiêu của mỗi đơn vị nghệ thuật.
8. Thi người đẹp, người mẫu, trình diễn thời trang
Đây là loại hình cần được phát huy mạnh trong những năm cuối của giai đoạn 1014-2020, dựa trên những lợi thế về đội ngũ sáng tạo, vẻ đẹp của văn hóa thời trang và con người Việt Nam trong truyền thống và hiện tại, cũng như việc đẩy mạnh khía cạnh thương mại của hoạt động này, với những nội dung:
Tiếp tục nâng cao chất lượng các cuộc thi người đẹp, người mẫu bằng việc tăng cường công tác quản lý nhà nước cũng như việc nâng cao khả năng tổ chức sự kiện của các đơn vị tổ chức cuộc thi; xây dựng một số cuộc thi hoa hậu hành thương hiệu quốc gia; nâng cao hơn nữa chất lượng các cuộc thi hoa hậu quốc tế ở Việt Nam.
- Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm trình diễn thời trang hàng đầu của cả nước, trong đó chú trọng phát triển có tính hệ thống các nhân lực thiết kế, tạo mẫu, trình diễn thời trang ở cả hai thể loại: thời trang trình diễn (nghệ thuật) và thời trang ứng dụng.
- Huy động các nguồn lực xã hội, liên kết quốc tế đào tạo một số cá nhân và tổ chức có trình độ tổ chức cao trong tổ chức thi người đẹp, biểu diễn thời trang, đặc biệt là các nhân lực tuyển chọn người mẫu, hoa hậu, các nhà sản xuất.
9. Phát triển công nghiệp ghi âm, ghi hình
Phát triển các ngành công nghiệp ghi âm, ghi hình các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn thành mũi nhọn phát triển của thành phố Hồ Chí Minh và một số trung tâm đô thị lớn của cả nước theo hướng xã hội hóa, thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó:
- Xây dựng một số cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư từ nguồn lực trong nước và liên doanh liên kết với nước ngoài, bao gồm ưu đãi thuế, đất xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bản quyền và quyền liên quan đối với các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn, xây dựng các hoạt động nâng cao thói quen sử dụng sản phẩm nghệ thuật biểu diễn trong công chúng.
- Đầu tư phát triển Nhà xuất bản âm nhạc đủ mạnh để làm đầu mối về nội dung cho sự phát triển công nghiệp ghi âm, ghi hình nghệ thuật của thị trường trong nước.
- Xây dựng một số cơ sở ghi âm, ghi hình hiện đại phục vụ nhu cầu thị trường audio sẽ phát triển mạnh ở nước ta vào những năm sắp tới.
10. Phát triển công nghệ tổ chức sự kiện
Phát triển công nghệ tổ chức sự kiện trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn nhằm nâng cao năng lực hội nhập quốc tế của ngành; đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật ngày càng cao của công chúng, nhất là ở khu vực đô thị, góp phần thu hút khách du lịch quốc tế tại các điểm du lịch trong nước.
- Nâng cao chất lượng tổ chức sự kiện tại các festival nghệ thuật của cả nước, trước hết là nghệ thuật mới, đương đại; xây dựng một số festival nghệ thuật trình diễn quốc tế tổ chức tại Việt Nam.
- Nhà nước đầu tư nâng cao năng lực tổ chức sự kiện của các đoàn nghệ thuật do Trung ương và địa phương quản lý, bao gồm các đào tạo dài hạn và ngắn hạn, theo các chuyên đề mang tính chuyên sâu.
- Đào tạo một số chuyên gia về tổ chức sự kiện nghệ thuật biểu diễn ở nước ngoài, làm hạt nhân để chuyển giao công nghệ quốc tế về Việt Nam.
11. Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của công chúng và tăng cường khả năng tiếp cận của người dân đối với nghệ thuật biểu diễn
Giáo dục nghệ thuật sẽ là công cụ hữu hiệu để phát triển thị hiếu nghệ thuật của công chúng, thông qua nhiều hình thức giao dục khác nhau; tăng khả năng tiếp cận và khoảng cách hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của người dân.
- Thành lập ở các đoàn nghệ thuật đơn vị làm giáo dục nghệ thuật, trước hết là các đoàn của Trung ương và một số đoàn của các tỉnh thành có điều kiện.
- Phối hợp với VOV, VTV và các phương tiện truyền thông mới khác thành lập các chương trình giáo dục nghệ thuật trên đài phát thanh và truyền hình.
- Phối hợp ngành giáo dục để tiếp tục triển khai Chương trình giáo dục nghệ thuật học đường, tham quan, xem các chương trình nghệ thuật, nhất là ở khu vực đô thị.
- Tiếp tục thực hiện chủ trương giao chỉ tiêu, nhà nước hỗ trợ các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có chính sách ưu đãi giá đối với các đối tượng là trẻ em, các trường phổ thông, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi tiếp cận các cơ sở nghệ thuật trình diễn.
- Có chương trình đưa các tác giả, tác phẩm đỉnh cao thế giới đến Việt Nam để nâng cao hơn nữa thị hiếu thẩm mỹ của công chúng Việt Nam, thông qua các chương trình trao đổi văn hóa và nghệ thuật.
12. Xã hội hóa nghệ thuật biểu diễn
Tiếp tục lộ trình xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu diễn theo hướng đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các nhà hát, đoàn nghệ thuật có sức thu hút công chúng; đẩy mạnh hoạt động hợp tác công tư; Nhà nước dần tiến tới có thể đầu tư cho một số cá nhân, tổ chức tư nhân có tác phẩm có tính nghệ thuật cao.
- Tiếp tục cổ phần hóa các nhà hát thuộc Bộ như Nhà hát Tuổi trẻ, Nhà hát Múa rối trung ương; cổ phần hóa một số đoàn nghệ thuật ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Xây dựng một số chương trình, tiết mục theo hướng hợp tác công tư, trước hết là ở bộ môn nghệ thuật truyền thống để thu hút công chúng.
- Trình Chính phủ cho phép xây dựng cơ chế ngân sách được đầu tư cho các đoàn, cá nhân thuộc khu vực tư nhân thông qua cơ chế thẩm định của hội đồng nghệ thuật.
13. Hợp tác quốc tế
Tiếp tục hợp tác quốc tế để tăng cường khả năng hội nhập quốc tế của ngành; tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế và nâng cao năng lực của các đoàn, cá nhân làm nghệ thuật qua quá trình hợp tác quốc tế, bao gồm:
- Xây dựng cơ chế cấp ngân sách cho các chương trình nghệ thuật có yếu tố hợp tác nước ngoài để thúc đẩy khả năng hợp tác của các tổ chức nghệ thuật ở Việt Nam.
- Tổ chức các lớp tập huấn về xin tài trợ nước ngoài và phương thức hợp tác với các tổ chức quốc tế cho các đoàn nghệ thuật nhà nước.
- Thông qua các trung tâm văn hóa Việt nam ở nước ngoài, cộng đồng Việt kiều, tổ chức các chương trình, kế hoạch hợp tác nhằm xuất khẩu nghệ thuật biểu diễn Việt Nam ra quốc tế.
B. Định hướng đến năm 2030
            Phấn đấu đến năm 2030, đưa nghệ thuật biểu diễnViệt Nam trở thành nền nghệ thuật biểu diễn có vị trí vững chắc trong khu vực Châu Á trên cơ sở phát triển hài hòa ba vùng điện ảnh Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và phát huy thế mạnh của mỗi vùng.
Đến 2030, phát triển thị trường nội địa song song với phát triển thị trường quốc tế, khẳng định các thế mạnh của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam như là một nền công nghiệp văn hóa nội dung dân tộc, thể hiện tầm vóc, sức năng động và sáng tạo của con người Việt Nam trong phát triển nền kinh tế tri thức dựa vào các hình thức nghệ thuật biểu diễn. Tiếp tục nâng cấp một số nhà hát trọng điểm, đặt nền tảng cho việc ra đời các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn có giá trị nghệ thuật và thương mại. Phát triển các đoàn, các đội nhóm nghệ thuật tại khu vực nông thôn làm nền tảng để phát triển nghệ thuật chuyên nghiệp.
Hiện đại hóa nghệ thuật biểu diễn Việt Nam có hệ thống sản xuất và biểu diễn hiện đại theo chuẩn kỹ thuật quốc tế, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất và phân phối tác phẩm nghệ thuật biểu diễn, đáp ứng nhu cầu cao của khán giả.
Thúc đẩy khía cạnh thương mại của nghệ thuật biểu diễn bằng việc nâng cao năng lực quản lý, sản xuất và phân phối sản phẩm nghệ thuật biểu diễn bằng các công cụ quản lý hiện đại, tăng khả năng tiếp cận của người tiêu dùng, phát triển công nghiệp phụ trợ cho nghệ thuật biểu diễn, tăng tỷ trọng đóng góp của nghệ thuật biểu diễn vào nền công nghiệp văn hóa của đất nước.
Tăng cường hợp tác giữa nghệ thuật biểu diễn và truyền thông, bảo đảm cho truyền thông là kênh phân phối được pháp luật bảo hộ trên thị trường. Ưu tiên sử dụng các công cụ kinh tế thị trường để phát triển nghệ thuật biểu diễn. Nhà nước đóng vai trò là người định hướng lớn, các điều hành vĩ mô quan trọng; các hoạt động kinh doanh sản xuất do thị trường điều tiết. Tạo sự hài hòa và cân đối của hai công cụ quản lý này.
Hoàn thiện hệ thống luật bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ của nghệ sĩ, của các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn nước ngoài ở Việt Nam, của tác phẩm nghệ thuật biểu diễn Việt Nam ở nước ngoài; tích cực tham gia vào hệ thống chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
Thúc đẩy tính cạnh tranh, sự hội nhập của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam với thế giới, thông qua công tác hợp tác đào tạo, hợp tác dàn dựng và biểu diễn, tổ chức các liên hoan, các trợ giúp kỹ thuật từ quốc tế.
Phần thứ ba
GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 
1. Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước
a) Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, trong đó chú trọng cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành nghệ thuật biểu diễn .
b) nh kỳ khảo sát, đánh giá hiện trạng, công tác quản lý, khai thác nguồn nhân lực, các công trình nghệ thuật biểu diễn, bảo đảm việc đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các công trình nghệ thuật biểu diễn thực hiện theo đúng quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định pháp luật hiện hành; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.
c) Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ việc thực hiện Quy hoạch với quá trình triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, vùng lãnh thổ.
2. Nhóm giải pháp về kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí đào tạo nguồn nhân lực
a) Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:
- Ngân sách trung ương cấp vốn đầu tư, nâng cấp và xây mới các công trình có quy mô lớn tầm cỡ quốc gia tại thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ, một số công trình có quy mô phù hợp tại các thành phố vệ tinh vùng như: Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, An Giang, Kiên Giang. Ngân sách Trung ương hỗ trợ một phần kinh phí cải tạo, nâng cấp và xây mới các nhà hát cho các địa phương tại các địa bàn khó khăn. Ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực trong nước và ở nước ngoài, hỗ trợ xây dựng và trang thiết bị kỹ thuật cho các xưởng thực hành sản xuất thử nghiệm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác tại các Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội và Đại học Sân khấu - Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Nghệ thuật Huế.
- Ngân sách địa phương cấp vốn đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây mới các rạp chiếu phim, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho các đơn vị sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn; trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện xã hội hóa trong đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn.
b) Nguồn vốn huy động từ xã hội hóa:
- Tập trung huy động các nguồn vốn và đẩy mạnh xã hội hóa trong đào tạo nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn và đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn. Trong đó chú trọng huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế, nhất là từ các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài, các nguồn viện trợ từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài trên cơ sở tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việt Nam.
- Tăng cường công tác xã hội hóa tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn để tăng nguồn thu hợp pháp sử dụng cho đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn .
c) Xác định cơ cấu vốn
- Đối với các công trình nâng cấp, cải tạo, xây mới: Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư khoảng 60%; các nguồn huy động khác khoảng 40%.
- Đối với đào tạo nguồn nhân lực: Nguồn ngân sách nhà nước đầu tư khoảng 50%; các nguồn huy động khác khoảng 50%.
3. Nhóm giải pháp về quy hoạch và bố trí sử dụng đất đai
- Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các địa phương chỉ đạo khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất cần xác định rõ ràng và cụ thể nhu cầu về diện tích và vị trí đất dành cho các công trình nghệ thuật biểu diễn .
- Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các đại phương chỉ đạo việc quy hoạch xây dựng các khu đô thị mới phải bố trí diện tích và vị trí đất cho xây dựng các công trình nghệ thuật biểu diễn.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đặc biệt là thành phố Hà Nội, thành phố Đà Năng, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố vệ tinh, thực hiện chính sách ưu tiên, bố trí khu đất có vị trí thuận lợi và quy mô phù hợp với xây dựng các công trình nghệ thuật biểu diễn ngay từ khâu lập quy hoạch sử dụng đất.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện cụ thể việc giao đất, cho thuê đất phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
4. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách
a) Cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế để khuyến khích đầu tư và tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành nghệ thuật biểu diễn .
- Thực hiện ưu đãi về thuế theo quy định tại Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường để khuyến khích đầu tư và tạo nguồn vốn đầu tư đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành nghệ thuật biểu diễn.
- Được ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các quy định pháp luật hiện hành trong quá trình đầu tư đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành nghệ thuật biểu diễn.
b) Cơ chế, chính sách huy động vốn:
- Áp dụng các hình thức huy động vốn xã hội hóa từ các thành phần kinh tế, các nguồn tài tợ hợp pháp, cổ phần hóa để huy động vốn, khuyến khích người dân đóng góp kinh phí để đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành nghệ thuật biểu diễn.
- Xây dựng cơ chế để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành nghệ thuật biểu diễn.
c) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Đài Truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình các địa phương, Đài Tiếng nói Việt Nam với ngành nghệ thuật biểu diễn trong việc sử dụng trang thiết bị kỹ thuật; Đài Truyền hình Việt Nam đặt hàng ngành nghệ thuật biểu diễn sản xuất phim để phát hành, phổ biến tại rạp và trên sóng truyền hình.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch; kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện Quy hoạch; định kỳ 03 năm một lần báo cáo Thủ tướng Chính phủ; kịp thời kiến nghị các nội dung cần sửa đổi, bổ sung khi cần thiết.
b) Phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn, bảo đảm thực hiện Quy hoạch.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính xác định nhiệm vụ và nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cho nghệ thuật biểu diễn, cân đối vốn và các nguồn lực khác; huy động các nguồn tài trợ trong và ngoài nước cho phát triển nghệ thuật biểu diễn theo Quy hoạch.
3. Bộ Tài chính
Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bố trí kinh phí triển khai thực hiện Quy hoạch theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật hiện hành có liên quan.
4. Bộ Nội vụ
Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai các đề xuất liên quan tới lao động, việc làm, chế độ, chính sách của ngành nghệ thuật biểu diễn.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường
Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chuẩn, định mức đất dành cho xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn; hướng dẫn các địa phương xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong đó dành quỹ đất cho đầu tư phát hành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn.
6. Bộ Xây dựng
Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chuẩn thiết kế, suất đầu tư và định mức xây dựng công trình nghệ thuật biểu diễn, hướng dẫn Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng để bố trí vị trí và diện tích đất phù hợp để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn.
7. Các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Nội vụ
Thực hiện các nhiệm vụ, chức năng liên quan tới tăng cường năng lực cơ sở đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn, chính sách ưu đãi và thu hút nhân tài cho ngành nghệ thuật biểu diễn theo Quy hoạch.
8. Đài Truyền hình Việt Nam
Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và ban hành cơ chế hợp tác sản xuất, phát sóng, phổ biến tác phẩm nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tại hệ thống rạp, nhà hát và trên sóng truyền hình cả nước.
9. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
a) Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
b) Duy trì, củng cố và phát huy hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn hiện có; không sáp nhập cơ sở nghệ thuật biểu diễn với các cơ sở văn hóa khác.
c) Bố trí đất đai, mặt bằng có vị trí và quy mô phù hợp để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn tại địa phương. Thực hiện việc giao đất, cho thuê đất theo quy định, phù hợp với quy hoạch xây dựng chung của địa phương.
d) Thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn theo quy định pháp luật về khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
đ) Cân đối nguồn lực và tổ chức triển khai đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của địa phương, chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư theo đúng quy định của pháp luật; sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương trong đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nghệ thuật biểu diễn theo quy định pháp luật.
e) Kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện Quy hoạch thuộc phạm vi quản lý của địa phương và định kỳ 03 năm một lần gửi báo cáo về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
10. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Triển khai thực hiện Quy hoạch trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao và theo quy định pháp luật hiện hành. Tăng cường quán triệt, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của nghệ thuật biểu diễn; đẩy mạnh thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về Quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác