119/TTR-BVHTTDL

BT Hoàng Tuấn Anh Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

TỜ TRÌNH Về Đề án Quy hoạch ngành điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch đã tiến hành xây dựng Đề án Quy hoạch ngành điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Để chuẩn bị cho việc soạn thảo Đề án, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã tiến hành khảo sát tại các cơ sở điện ảnh địa phương, tổ chức hội nghị lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện ảnh, Sở văn hóa Thể thao và du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức hội theo xin ý kiến đóng góp của các Ban, Bộ, ngành liên quan như Ban Tuyên giáo Trung ương. Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ…

Công việc soạn thảo Đề án đã tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch kính trình Thủ tướng Chính phủ Đề án Quy hoạch ngành điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

I. SỰ CẦN THIẾT

Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới và ở nước ta hệ thống truyền thông và công nghiệp giải trí đang phát triển mạnh mẽ, ngành điện ảnh cần chuyển đổi mô hình cơ chế hoạt động để phù hợp với quy luật khách quan.

Việc quy hoạch đối với ngành điện ảnh do vậy là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đề cao những giá trị tốt đẹp của đất nước, con người và dân tộc Việt Nam, đồng thời góp phần phục vụ nhu cầu giải trí lành mạnh của công chúng.

Việc quy hoạch giúp nền điện ảnh dân tộc phát triển toàn diện, cân đối, có trọng tâm, trong điểm, có bước đi vững chắc về mô hình tổ chức, về cơ chế điều hành trong từng giai đoạn, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế.

Ngoài ra, việc quy hoạch còn đề xuất các giải pháp huy động tối đa nguồn lực trong nước và nước ngoài, của Nhà nước và nhân dân của các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trong mọi lĩnh vực hoạt động điện ảnh, như đào tạo nguồn nhân lực, sản xuất, phát hành, phố biến phim.

II. NỘI DUNG ĐỀ ÁN

1. Phần mở đầu: Đề án xác định đối tượng điều chỉnh của Quy hoạch là các cơ sở điện ảnh thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Điện ảnh, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh. Căn cứ để xây dựng Quy hoạch là các Nghị quyết của Đảng về phát triển văn hóa, điện ảnh trong thời kỳ mới; Luật Điện ảnh; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh;  Nghị định số 54/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật và các văn bản pháp quy khác có liên quan.

1. Phần Một: Đặc điểm, vị trí, vai trò, thực trạng, bối cảnh, thời cơ và thách thức đối với hoạt động điện ảnh.

Đặc thù của hoạt động điện ảnh là ngành nghệ thuật tổng hợp nhiều loại hình nghệ thuật như sân khấu, âm nhạc, hội họa, văn học… gắn liền với khoa học công nghệ và phát triển cùng khoa học công nghệ; điện ảnh có chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ và là một ngành công nghiệp giải trí. Ở nước ta, điện ảnh không chỉ là môn nghệ thuật mà còn được coi là công cụ sắc bén để giáo dục tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức, thẩm mỹ cho nhân dân.

Thực trạng điện ảnh hoạt động Việt Nam hiện nay có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn về cơ chế tổ chức, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất ký thuật, về sản xuất, phát hành và phố biến phim, về công tác đào tạo, lý luận, phê bình, lưu trữ, hợp tác quốc tế. So với các ngành nghệ thuật khác, điện ảnh là ngành nghệ thuật có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh; hoạt động xã hội hóa diễn ra khá sớm và sôi động. Đầu tư cho điện ảnh cả về đào tạo lẫn sản xuất, phát hành đều đòi hỏi nguồn kinh phí lớn và thời gian thu hồi vốn không nhanh.Vì thế nhiều tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện ảnh vẫn chưa mạnh dạn, chờ đợi sự đầu tư của Nhà nước, dẫn đến một số hoạt động còn mang tính cầm chừng.

Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hội trong nước cũng như trên thế giới đòi hỏi điện ảnh Việt Nam phải có chính sách, bước đi thích hợp cùng các giải pháp trước mắt, lâu dài để phát triển ngành.

3. Phần Hai: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp Quy hoạch ngành điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Quan điểm phát triển ngành điện ảnh dựa trên cơ sở phát huy lợi thế bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời áp dụng công nghệ hiện đại để từng bước xây dựng nên điện ảnh chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế, phấn đấu tăng tỷ lệ phim sản xuất trong nước, giảm dần phim nhập khẩu.

Vì vậy, mục tiêu tổng quát của Quy hoạch là xây dựng một nên điện ảnh Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có vị trí xứng đáng trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới, trong đó chú trọng hiện đại hóa công nghiệp điện ảnh cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nghệ sĩ có trình độ chuyên nghiệp cao. Đặc biệt việc huy động mọi nguồn lực xã hội nhằm thực hiện xã hội hóa hoạt động điện ảnh, có cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế đều bình đẳng tham gia sản xuất, phát hành, phổ biến phim.

Mục tiêu cụ thể được xác định đối với từng gia đoạn của Quy hoạch:

a) Giai đoạn 2011-2020:

Sản xuất phim theo công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế về hình ảnh và âm thanh; 80% phim sản xuất có âm thanh lập thể, thực hiện cảnh quay phim kỹ xảo đạt trình độ chuyên nghiệp khu vực (như Thái Lan, Trung Quốc); về nội dung, đáp ứng nhiệm vụ chính trị, nhu cầu thưởng thức của khán giả trong nước và ngoài nước ngày càng cao; về chất lượng nghệ thuật; phấn đấu 25% phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình trình độ khá trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, phim truyện nhựa sản xuất trong nước đạt ít nhất 15% so với phim nước ngoài nhập khẩu, trong đó tỷ lệ xã hội hóa đạt 1/2%; tỷ lệ số buổi chiếu phim truyện Việt Nam tại rạp bảo đảm đạt ít nhất 30% tại bãi, đội đạt ít nhất 50% so với tổng số buổi chiếu, bình quân đầu người xem phim đạt 0,7 lượt/năm

a) Giai đoạn 2021-2030:

Công nghệ sản xuất và phổ biến phim đạt trình độ tiên tiến; thực hiện cảnh quay phim kỹ xảo đạt trình độ chuyên nghiệp thế giới; 100% phim sản xuất có âm thanh lập thể; về nội dung, đáp ứng nhiệm vụ chính trị, nhu cầu thưởng thức của khán giả trong nước và ngoài nước ngày càng cao; về chất lượng nghệ thuật, phấn đấu 40% phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình đạt trình độ khá trở lên so với khu vực thế giới; có phim đạt giải cao tại Liên hoan phim quốc tế, phim truyện nhựa sản xuất trong nước đạt ít nhất 35% so với phim nước ngoài nhập khẩu, trong đó tỷ lệ xã hội hóa đạt 3/4; tỷ lệ số buổi chiếu phim truyện Việt Nam tại rạp bảo đảm đạt trên 40%, tại bãi, đội đạt trên 60% so với tổng số buổi chiếu, bình quân đầu người xem phim đạt trên dưới 1,0 lượt/năm.

Về nhiệm vụ, Quy hoạch đề ra 8 nội dung chính của hoạt động điện ảnh.

1. Sản xuất phim

1.1. Giai đoạn 2011-2020:

Ngày 06 tháng 5 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 581/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lượt phát triển văn hóa đến năm 2020, đối với sản xuất phim quy định cụ thể chỉ tiêu như sau:

-36-40 phim truyện nhựa/năm (dự kiến Trung ương đầu tư 24%, địa phương 12%, các thành phần kinh tế khác 64%).

- 2-3 phim tài liệu/tháng (phim tài liệu nhựa (dự kiến Trung ương đầu 100%, đối với phim tài liệu video dự kiến Trung ương đầu tư 50%, địa phương 25%, các thành phần kinh tế khác 25%.

- 2-3 phim khoa học/tháng (phim khoa học video, dự kiến Trung ương đầu tư 50% địa phương 25%, các thành phần kinh tế khác 25%).

- 2-3 phim hoạt hình/tháng (phim hoạt hình video, dự kiến Trung ương đầu tư 50% địa phương 25%, các thành phần kinh tế khác 25%).

1.2. Giai đoạn 2011-2030:

-70-80 phim truyện nhựa/năm (dự kiến Trung ương đầu tư 6%, địa phương 12%, các thành phần kinh tế khác 82%).

-5-10 phim tài liệu/tháng (phim tài liệu nhựa (dự kiến Trung ương đầu 100%, đối với phim tài liệu video dự kiến Trung ương đầu tư 50%, địa phương 25%, các thành phần kinh tế khác 25%.

- 5-10 phim khoa học/tháng (phim khoa học video dự kiến Trung ương đầu tư 50%, địa phương 25%, các thành phần kinh tế khác 25%.

- 5-10 phim hoạt hình/tháng (phim hoạt hình video dự kiến Trung ương đầu tư 50%, địa phương 25%, các thành phần kinh tế khác 25%.

2. Phát hành phim

2.1. Đến năm 2020 xuất khẩu 10% số lượng phim sản xuất (4 bộ phim), đến năm 2030 xuất khẩu 20% (khoảng 14-16 bộ phim).

2.2. Bảo đảm về chất lượng nghệ thuật cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật phim nhập khẩu, tỷ lệ hài hòa giữa phim sản xuất trong nước và phim nhập khẩu.

3. Phổ biến phim

3.1. Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp rạp.

a) Giai đoạn 2011-2020:

- Xây dựng rạp ở 17 tỉnh hiện chưa có rạp (Bắc Kạn, Sơn La, Bình Phước, Đắk Nông, An Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Gia Lai, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tây Ninh, Thanh Hóa, Ninh Thuận). Theo phương thức ngân sách Trung ương đầu tư 50%, ngân sách địa phương 20% các thành phần kinh tế khác 30 %.

-Xây dựng 10 cụm rạp, mỗi cụm có từ 5-8 phòng chiếu ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, do các thành phần kinh tế khác đầu tư.

-Xây dựng 15 cụm rạp, mỗi cụm có từ 2-4 phòng chiếu ở 10 tỉnh/thành: thành phố Hải Phòng, Thành phố Đà Nẵng, thành phố Cần Thơ, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Lâm Đồng do các thành phần kinh tế khác đầu tư.

-Xây thêm phòng chiếu, nâng cấp, lắp đặt trang thiết bị kỹ thuật mới tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia ở Hà Nội do các thành phần kinh tế khác đầu tư.

b) Giai đoạn 2021-2030:

Mỗi tỉnh, thành có ít nhất 1 cụm rạp (có từ 2-4 phòng chiếu).

3.2. Đầu tư đội chiếu phim lưu động.

a) Giai đoạn 2011-2020:

-Thay thế 100 trong tổng số 210 máy chiếu video hiện đang hoạt động bằng máy chiếu kỹ thuật số hoặc công nghệ HD.

-Thành lập mới 100 đội chiếu phim máy kỹ thuật số hoặc công nghệ HD trong đó địa phương đầu tư 50% (50 đội), các thành phần kinh tế khác đầu tư 50% (50 đội) để bảo đảm 100% số huyện miền núi có đội chiếu phim.

-Thay thế 200 máy chiếu phim nhựa 35 ly đã hết thời hạn sử dụng bằng máy chiếu video kỹ thuật số hoặc công nghệ HD.

-Trang bị 200 ô tô để bảo đảm các đội chiếu phim đều có phương tiện chuyên chở.

b) Giai đoạn 2021-2030:

Thay thế máy chiếu phim nhựa và phương tiện chuyên chở đã hết thời hạn sử dụng.

4. Đào tạo nguồn nhân lực

4.1. Xây dựng chiến lược đào tạo thường xuyên, lâu dài, đổi mới công tác tuyển sinh và hệ thống trường cùng với việc xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo trình đại học điện ảnh theo chuẩn quốc gia.

4.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội và Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, nhằm bảo đảm cho sinh viên có điều kiện học tập và thực hành đúng với quy trình đào tạo của các nên điện ảnh tiên tiến.

5. Cơ sở vật chất kỹ thuật

5.1. Tổ chức lại Trung tâm Kỹ thuật Điện ảnh Việt Nam ở thành phố Hà Nội, Công ty TNHH Một thành viên Phim Giải Phóng ở thành phố Hồ Chí Minh.

5.2. Thực hiện xây dựng Trường quay Cổ Loa. Đến năm 2020 đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động trường quay nội cảnh ở thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng giai đoạn đầu trường quay ngoại cảnh ở phí Bắc.

6. Thông tin, tuyên truyền

6.1. Tăng cường công tác lý luận phê bình.

6.2. Tích cực quảng bá phim Việt Nam bằng nhiều hình thức: xây dựng đội ngũ giới thiệu phim một cách chuyên nghiệp, quảng bá trong nước và quảng bá ngoài nước.

6.3. Xây dựng Kênh Truyền hình-Điện ảnh, trang web; củng cố các tạp chí điện ảnh.

7. Hợp tác quốc tế

7.1. Tham dự Liên hoan phim quốc tế, tổ chức giới thiệu điện ảnh Việt Nam ra nước ngoài.

7.2. Củng cố, hoàn thiện và phát triển Liên hoan phim quốc tế Việt Nam theo định kỳ hai năm một lần, theo lộ trình xã hội hóa, giảm dần tài trợ của Nhà nước.

7.3. Hợp tác sản xuất và cung cấp dịch vụ làm phim với nước ngoài.

8. Lưu trữ phim

8.1. Tiếp tục triển khai việc xây dựng Khu lưu trữ hình ảnh động tại Láng Hòa Lạc.

8.2. Hoàn thiện hệ thống in chuyển kỹ thuật số, thiết lập hệ thống quản lý, Điều hành và tìm kiếm dự liệu hiện đại.

8.3 Tìm kiếm, thu thập các tư liệu Việt Nam từ nước ngoài.

8.4. Hoàn thiện các quy định và văn bản hướng dẫn nộp lưu chiểu, lưu trữ phim, khi thác sử dụng tư liệu lưu trữ theo quy định của pháp luật.

Quy hoạch đề ra các giải pháp.

1. Giải pháp trước mắt tập trung trong điểm vào 3 nội dung: đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao; đầu tư sản xuất phim ở các thế loại như phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình có giá trị nhân văn, giáo dục truyền thống, dân tộc, lịch sử cách mạng với chất lượng nghệ thuật, kỹ thuật cao; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành xây dựng Trường quay Cổ Loa.

2. Giải pháp lâu dài tập trung vào 4 nội dung: mô hình tổ chức và cơ chế điều hành, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước về sản xuất, phát hành phim hoàn thành việc chuyển đổi hình thức sở hữu thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối: tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản chính sách, pháp luật, tổ chức Quỹ hỗ trợ và phát triển điện ảnh; xây dựng cơ chế chính sách thực hiện xã hội hóa hoạt động điện ảnh.

3. Giải pháp về vốn

Đơn vị tính: tỷ đồng VN

Số TT

NỘI DUNG

ĐẦU TƯ

TỔNG

SỐ TIỀN

 

 

TW

Trong đó chia ra

ĐỊA PHƯƠNG

 

 

THÀNH PHẦN KHÁC

1

Giải pháp trước mắt

997,5

997,5

 

 

2

Đầu tư cho nghiên cứu, thông tin khoa học kỹ thuật

10,0

10,0

 

 

3

Đầu tư sáng tác kịch bản

10,0

10,0

 

 

4

Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật khu vực sản xuất, lưu trữ phim

2.250.5

550.0

 

1.7000,0

5

Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật khu vực phổ biến phim

1.9000,0

259,0

100,0

1.541,0

6

Đầu tư cho đào tạo

80,0

80,0

 

 

7

Tài trợ hàng năm cho sản xuất, phổ biến phim

2.741,0

744,1

783,4

1,213,5

8

Đầu tư cho hợp tác quốc tế

290,0

176,6

113,4

 

9

Quỹ hỗ trợ và phát triển điện ảnh

200,0

200,0

 

 

 

CỘNG

8,478,5

3,027,2

883,4

4,567,9

Như vậy, nguồn vốn đầu tư thực hiện Quy hoạch đến năm 2020 là 8,478,5 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương 3,027,2 tỷ đồng (35,70%), ngân sách địa phương 883,4 tỷ đồng (10,42%), các thành phần kinh tế khác 4,567,9 tỷ đồng (53,88%) tỷ giá quy đổi: 1 USD -21.000 VND.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện các nhiệm vụ:

a) Chỉ đạo tổ chức thực hiện Quy hoạch theo nội dung đã được phê duyệt.

b) Xây dựng, ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản theo quy định, tổ chức thực hiện Quy hoạch trên phạm vi toàn quốc.

c) Phối hợp với Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam các Hội điện ảnh ở Trung ương và địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam… tham gia thực hiện Quy hoạch.

d) Tuyên truyền đường lối, cơ chế, chính sách mới của Quy hoạch đã được duyệt.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và thực hiện kế hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các đơn vị công lập.

3. Bộ Tài chính có trách nhiệm xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản về chính sách tài chính cần bổ sung liên quan đến thực hiện xã hội hóa hoạt động điện ảnh, hỗ trợ thuế, ưu đãi chế độ chính sách…để thực hiện Quy hoạch, bảo đảm kinh phí thực hiện các nội dung trong Quy hoạch đã được phê duyệt.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan hữu quan thực hiện việc đưa chương trình điện ảnh vào hệ thống giáo dục quốc gia, bổ sung ngành học và phương thức đào tạo theo định hướng của Quy hoạch.

5. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản liên quan đến chính sách hỗ trợ tiền thuê đất, quỹ đất xây dựng các rạp chiếu phim, các cơ sở sản xuất phim, trường quay điện ảnh.

6. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc sắp xếp các đơn vị điện ảnh thuộc lực lượng vũ trang để phát triển đúng định hướng chung của Quy hoạch đề ra.

7. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nội dung Đề án Quy hoạch này chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện.

VI. MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC

Nhìn chung, các Ban, Bộ, ngành đều ủng hộ Dự thảo Đề án Quy hoạch ngành điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Tuy nhiên, còn một số ý kiến khác nhau, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin giải trình như sau:

1. Về cơ chế, chính sách tài chính

Bộ Tài chính đề nghị bổ sung quy định cụ thể đối với việc sử dụng kinh phí từ ngân sách đối với hoạt động điện ảnh dưới hình thức tài trợ, đặt hàng, theo đó cần xác định rõ xây dựng các tiêu chí cụ thể xác định việc áp dụng cơ chế đặt hàng cho phù hợp.

Vấn đề này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhất trí với góp ý của Bộ Tài chính. Tuy nhiên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng Đề án Quy hoạch là bản hoạch định kế hoạch, nhiệm vụ cần đạt được cho từng giai đoạn, còn những nội dung về cơ chế, chính sách…sẽ được quy định ở một văn bản quy phạm pháp luật khác mà hiện nay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang soạn thảo là Thông tư hướng dẫn về đặt hàng, tài trợ, đấu thầu sản xuất phim từ nguồn ngân sách nhà nước. Vì vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị được giữ nguyên như Dự thảo.

2. Về Quỹ hỗ trợ và phát triển điện ảnh

Bộ Tài chính đề nghị cần nghiên cứu cho thấu đáo về tính khả thi của Quỹ khi đưa vào Quy hoạch Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thấy rằng, Luật Điện ảnh và Nghị định hướng dẫn thi hành đã quy định về nội dung này. Mặt khác, hầu hết các nước đều thành lập Quỹ phát triển điện ảnh. Sở dĩ như vậy vì đầu tư cho điện ảnh rất tốn kém, nếu chỉ riêng Nhà nước hay tư nhân thì sẽ gánh nặng lớn cho nhà đầu tư. Trong khi đó, hiện nay Nhà nước đang có chính sách quan tâm đến văn học, nghệ thuật, đặc biệt đối với những tác phầm, tác giả có giá trị, có khả năng phát riển thì cần hỗ trợ khuyến khích. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang trình Thủ tướng Chính phử ký Quyết định thành lập Quỹ này. Vì vậy Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị giữ nguyên như Dự thảo.

3. Về nguồn vớn đầu tư thực hiện Quy hoạch

Bộ Tài chính cho rằng nguồn vốn đầu tư thực hiện Quy hoạch là chưa có cơ sở tính toán, vì vậy không nếu cụ thể, Phần ngân sách nhà nước thực hiện Quy hoạch sẽ bố trí trong phạm vi tổng chi ngân sách nhà nước cân đối cho lĩnh vực văn hóa phân cấp quản lý ngân sách hiện hành, đồng thời đảm bảo sự hài hòa với các lĩnh vực khác của sự nghiệp văn hóa.

Sau khi nghiên cứu và tham khảo các cơ quan chức năng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thấy rằng Quy hoạch các ngành, lĩnh vực khác đều có quy định kinh phí cụ thể, nếu không có quy định thì khó có tính khả thi. Ngân sách phụ vụ Quy hoạch vẫn có thể đều tiết với các ngành khác phụ thuộc vào tình hình kinh tết, chính trị, xã hội của đất nước. Mặt khác, việc dự trù kinh phí của Dự thảo được xây dựng trên cơ sở số liệu của từng lĩnh vực trong 5 năm trở lại đây và kế hoạch cho thời gian tới. Vì vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị được giữ nguyên như dự thảo.

Trên đây là những nội dung chủ yếu của Dự thảo Đề án Quy hoạch ngành điện ảnh đến năm 2020, thầm nhìn đến năm 2030. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.

 

Nơi nhận:

-Như trên;

-Lưu: VT, ĐA (2), Hh.5.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác