146/TTR-BVHTTDL

KT BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Trần Chiến Thắng Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

TỜ TRÌNH Về việc tăng cường hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2011-2015;

 Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

 

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phát triển du lịch đang là xu thế của các quốc gia trên thế giới. Với điều kiện tài nguyên du lịch phong phú sự ổn định về an ninh, chính trị và thành công trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, du lịch Việt Nam đang có nhiều thuận lợi để phát triển, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước. Trong những năm qua, ngành du lịch luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Ngày 11/11/1998, Bộ Chính trị đã có kết luận tại Thông báo số 179/TB-TW về việc phát triển du lịch trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX xác định mục tiêu "Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn" và ngày 22/7/2002, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010.

Nhằm thực hiện chủ trương và Chiến lược trên. Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 1095/CP-KTTH ngày 28/11/2000 về việc xây dựng các khu du lịch. Theo đó, ngân sách Nhà nước hỗ trợ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch (CSHT) du lịch cho các khu du lịch quốc gia các khu du lịch có khả năng tạo thế liên hoàn, hình thành các tour, tuyến để thu hút khách du lịch. Trong giai đoạn 2001-2005, ngành du lịch đã được hỗ trợ từ ngân sách 2.146 tỷ đồng và 62 tỉnh/thành được nhận hỗ trợ từ Chương trình này Các tỉnh/thành có khả năng tự cân đối, không thụ hưởng hỗ trợ vốn đầu tư CSHT du lịch từ năm 2004 là TP.Hà Nội. TP Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương).

Giai đoạn 2006-2010, ngân sách nhà nước tiếp tục hỗ trợ CSHT du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đánh giá, tổng kết tình hình thực hiện và sử dụng Chương trình hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2006-2010 và đề xuất Chương trình hỗ trợ nguồn vốn đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015 như sau:

I.  Tình hình đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch thời kỳ 2006-2010

1. Kế hoạch vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2006-2010

Trong giai đoạn 2006-2010, ngân sách nhà nước đã hỗ trợ 3.460 tỷ đồng với 59 tỉnh/thành được hỗ trợ vốn đầu tư. Trong đó, năm 2006 là 620 tỷ đồng với 59 tỉnh/thành; năm 2007 là 750 tỷ, với 59 tỉnh/thành; năm 2008 là 620 tỷ với 56 tỉnh/ thành (03 tỉnh, thành phố tự cân đối, không thuộc đối tượng hỗ trợ gồm tỉnh Vĩnh Phúc. TP. Đà Nẵng, tỉnh Khánh Hoà). Năm 2009 là 700 tỷ đồng, năm 2010 là 770 tỷ đồng với 55 tỉnh/ thành (Hà Tây sáp nhập với TP. Hà Nội nên không thuộc đối tượng được hỗ trợ).

Hàng năm nhu cầu vốn của các tỉnh/thành khoảng từ 2.500-3.200 tỷ năm song kế hoạch hàng năm bố  trí nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch của Chính phủ chỉ đảm bảo từ 20-25% tổng số nhu cầu. Ngoài ra, các tỉnh/thành cũng huy động các nguồn vốn của địa phương để bổ sung đầu tư CSHT du lịch với số vốn khoảng gần 26-30% tổng vốn hỗ  trợ từ ngân sách trung ương hàng năm, song vốn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hạ tầng du lịch của các địa phương.

2. Tổ chức thực hiện nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch

Nguồn vốn đầu tư CSHT du lịch được quản lý theo quy định quản lý đầu tư xây dựng cơ bản (Nghị định 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình). UHND tỉnh/thành là Chủ quản đầu tư các dự án, quyết định Chủ đầu tư và tổ chức thực hiện triển khai dự án. Sở quản lý về du lịch (nay là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch) là đơn vị tổng hợp kế hoạch và theo dõi tình hình thực hiện các dự án do địa phương quản lý. Tổng cục Du lịch và nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc trong quá trình thực hiện dự án. Cơ chế phân bổ vốn thực hiện theo Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2007-2010 (sau đây gọi tắt Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg).

3. Thực hiện ngân  sách hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch 2006-2010

Trên cơ sở kế hoạch Ngân sách nhà nước giao hàng năm nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển CSHT du lịch, các tỉnh/thành căn cứ Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg tổ chức triển khai thực hiện dự án hạ tầng kỹ thuật du lịch như: Đường vào các khu du lịch và đường trong khu du lịch; cấp nước, thoát nước, bảo vệ môi trường cho các khu du lịch với tổng số vốn trong giai đoạn 2006-2010 là 3.460 tỷ đồng.

Bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương hàng năm ngân sách các tỉnh/thành cũng bồ sung vào nguồn đầu tư CSHT du lịch khoảng gần 200-250 tỷ đồng chiếm khoảng 26-30% tổng vốn hỗ trợ từ ngân sách Trong trong giai đoạn 2006-2010. Nguồn vốn của địa phương chủ yếu bố trí cho công tác chuẩn bị đầu tư và giải phóng mặt bằng. Riêng phần vốn thực hiện dự án, hầu hết các địa phương đều bố trí thấp hơn 50% tổng số vốn đầu tư của toàn dự án, thấp hơn mức quy định theo Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg. Một số địa phương khó khăn về nguồn thu nên không thi bố trí vốn đối ứng mà chủ yếu vẫn sử dụng nguồn vốn nguồn hỗ trợ của Trung ương để thực hiện dự án.

* Về địa bàn, loại hình dự án được hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch: Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch giai đoạn 2006-2010 được ưu tiên tập trung vào các địa bàn và loại hình sau:

- Về loại hình dự án: Ưu tiên cao cho các dự án thuộc khu du lịch quốc gia.

Thực hiện theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, tập trung đầu tư CSHT du lịch của 21 khu du lịch quốc gia, bao gồm 4 khu du lịch tổng hợp và 17 khu du lịch chuyên đề. Phát triển CSHT du lịch một số khu du lịch có khả năng thu hút mạnh khách du lịch. Tổng vốn đầu tư cho các địa phương có các khu du lịch quốc gia là 1.386 tỷ đồng chiếm 40% tổng vốn đầu tư CSHT du lịch của cả nước. Mức bình quân hỗ trợ hàng năm mỗi tỉnh/thành có khu du lịch quốc gia khoảng 18.5 tỷ đồng.

- Về địa bàn:

+ Địa bàn trọng điểm phát triển du lịch Miền Trung -Tây Nguyên:

Miền Trung-Tây Nguyên là địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của Việt Nam. Với 19 tỉnh bao gồm các tỉnh ven biển từ Thanh Hoá tới Bình Thuận và 5 tỉnh Tây Nguyên. Là khu vực có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên như du lịch biển, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng... và tài nguyên du lịch nhân văn phong phú có khả năng phát triển mạnh du lịch. Ngày 5 tháng 8 năm 2005 thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 194/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển mạnh du lịch Miền Trung-Tây Nguyên. Theo đó. Miền Trung-Tây Nguyên là địa bàn động lực phát triển du lịch của cả nước. Giai đoạn 2006-2010. Nhà nhà hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch 19 tỉnh trên đìa bàn Miền Trung-Tây Nguyên với tổng mức hỗ trợ là 1.760 tỷ đồng, chiếm khoảng 50% tổng số vốn hỗ trợ của cả nước. Mức bình quân hỗ trợ hàng năm mỗi tỉnh/thành trong khu vực đạt khoảng 19 tỷ đồng.

+ Địa bàn các tỉnh phụ cận các các trung tâm du lịch (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh...) có khả năng thu hút khách du lịch để giải quyết nhu cầu du lịch cuối tuần của nhân dân và khách quốc tế chiếm 23% tổng vốn này của cả nước.

- Quan tâm đầu tư CSHT du lịch gắn với các điểm, tuyến du lịch thuộc các tỉnh khó khăn, vùng  sâu, vùng xa có khả năng liên kết với các tuyến du lịch tạo thế liên hoàn thu hút khách du lịch, góp phần xóa đói giảm nghèo, chiếm 12% tổng vốn.

* Về cơ cấu dự án được hỗ trợ đầu tư: trong tổng vốn đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2006-2010, cơ cấu như sau: Đường vào các khu du lịch và đường trong khu du lịch chiếm 89% tổng số; Cấp nước cho các khu du lịch chiếm 2.5% tống số.

Cấp điện cho các khu du lịch chiếm 2.2% tổng số, Thoát nước, bảo vệ môi trường chiếm 6.3% tồng số.

4. Đánh giá kết quả đầu tư CSHT du lịch

4.1. Những kết quả đạt được

- Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch cùng nguồn vốn của địa  phương, các nguồn vốn khác đã từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho các khu du lịch, đặc biệt là các khu du lịch quốc gia, khu du lịch chuyên đề để tạo tiến đề hình thành các khu du lịch có tầm cỡ khu vực, quốc tế, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Trong giai đoạn 2006- 2010, nguồn vốn hỗ trợ tập trung thực hiện 434 dự án, trong đó, tổng số dự án và hạng mục đã hoàn thành là 220 dự án (số dự án hoàn thành 50% tổng số dự án). Những hạng mục và dự án hoàn thành đã phát huy hiệu quả, từng bước hoàn thiện du lịch hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho các khu du lịch, đặc biệt là các khu du lịch quốc gia, khu du lịch chuyên đề như Khu du lịch Hạ Long-Cát Bà (Quảng Ninh-Hải Phòng), Khu du lịch Lăng Cô-Cảnh Dương (Thừa Thiên Huế), Khu du lịch bán đảo Sơn Trà-Mỹ Khê-Non Nước (TP. Đà Nẵng), Khu du lịch Mũi Né (Bình Thuận), Khu du lịch Tuyền Lâm, ĐanKia suối vàng (Lâm Đồng), Khu du lịch Phú Quốc (Kiên Giang)... Với điều kiện cơ sở hạ tầng du lịch được cải thiện đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào các khu du lịch, bước đầu hình thành các khu du lịch có quy mô lớn, dịch vụ cao cấp và có tầm cỡ khu vực, quốc tế, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

- Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch đã được sử dụng có hiệu quả, góp phần làm thay đổi diện mạo của ngành du lịch, tạo điều kiện thuận lợi đến các điểm du lịch, góp phần thực hiện thành công được các nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2010.

Nguồn vốn đầu tư CSHT du lịch đã được sử dụng có hiệu quả, góp phần làm thay đổi diện mạo của ngành du lịch, tăng cường khả năng đón và thu hút khách du lịch; góp phần đưa ngành du lịch về cơ bản đã đạt được những kết quả quan trọng và đã ngăn chặn sự sụt giảm lượng khách quốc tế, tăng lượng khách du lịch nội địa nâng cao doanh thu du lịch. Lượng khách du lịch nội địa năm 2009 là 23 triệu lượt khách, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9.6%/năm giai đoạn 2006-2009; khách du lịch quốc tế đạt khoảng 3.8 triệu lượt khách năm 2009; Doanh thu du lịch có xu hướng tăng và đạt khoảng 63 nghìn tỷ đồng (gần 4 tỷ USD) năm 2009, tăng trưởng trung bình 20.5%/năm giai đoạn 2006-2009. Kết quả giai đoạn này đã đảm bảo thực hiện được những chỉ tiêu cơ bản của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010.

- Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch đóng vai trò như "vốn mồi" đã làm tăng giá trị đất du lịch, thu hút nhiều nguồn đầu tư khác trực tiếp vào công trình CSHT du lịch và các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn thu hút khách du lịch và thu nhập du lịch của các tỉnh/thành, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương, đặc biệt đối với các khu du lịch tại địa bàn khó khăn có tiềm năng phát triển du lịch, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế- xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn.

Nguồn vốn hỗ trợ CSHT đóng vai trò như "vốn mồi'', đã làm tăng giá trị đất du lịch, thu hút nhiều nguồn đầu tư khác trực tiếp vào công trình CSHT du lịch và các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn. Trong giai đoạn 2006-2010, đã thu hút được 937 dự án trong và ngoài nước thu hút vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn đăng ký là 193.780 tỷ đồng, trong đó dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch (FDI) tính đến 31/12/2009 thu hút 8.8 tỷ USD (tương đương 162.800 tỷ đồng)... góp phần tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế xã hội của các địa phương.

Đồng thời, đầu tư CSHT đã tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tiếp cận các điểm, khu du lịch của một số khu vực thuộc địa bàn khó khăn đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội của địa phương như (Lào Cai) đã thu hút được 11 dự án đầu tư với tổng mức tiền 300 tỷ đồng, lượng khách du lịch quốc tế tăng lên 66.7%  năm giai đoạn 2006 2009, doanh thu đạt 664 tỷ đồng, gấp 2 lần năm 2006; khu du lịch sinh thái quốc gia ngập mặn Cà Mau đã thu hút 10 dự án với số vốn đầu tư 100 tỷ đồng, góp phần tăng lượng khách du lịch hàng năm với tốc độ trung bình 15.7% giai đoạn 2006-2009, doanh thu đạt gần 200 tỷ đồng... và một số tỉnh như Yên Bái, Tuyên Quang, Kon Tum, Đắt Lắc, Đồng Tháp...

4.2. Những vấn đề còn hạn chế và tồn tại

Thời gian qua cho thấy, việc thực hiện nguồn vốn đầu tư CSHT du lịch đã được sử dụng có hiệu quả làm thay đổi diện mạo của ngành du lịch, góp phần vào việc tăng trưởng khách du lịch, tạo điều kiện thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch tại các địa phương. Quá trình thực hiện, nhìn chung các địa phương đã chấp hành các quy định về đầu tư XDCB. Song, việc sử dụng vốn đầu tư CSHT du lịch còn có những hạn chế sau:

- Nhiều công trình còn đầu tư kéo dài, không hoàn thành đúng tiến độ dự án, nên chưa phát huy hết hiệu quả của các dự án hạ tầng du lịch

Nguyên nhân của việc này do các công trình không được cân đối đủ vốn. Tổng số vốn các địa phương đã phê duyệt trong giai đoạn vừa qua khoảng 13.000 tỷ đồng (trong đó đề xuất ngân sách trung ương hỗ trợ là 9.000 tỷ đồng), song nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch cân đối là 3.460 tỷ đồng chỉ đáp ứng khoảng 30 34% nhu cầu. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 210/2006/QĐ TTg, trong đó quy định các tỉnh/thành tự cân đối 50% tổng số vốn, nhưng chỉ một vài tỉnh/thành đảm bảo yêu cầu quy định trên; hầu hết các địa phương bố trí bổ sung nguồn vốn rất thấp (chỉ đạt khoảng từ 15-20% tổng số vốn), đặc biệt đối với các địa phương không có khả năng tự cân đối về ngân sách nên hầu hết các dư án đầu tư CSHT du lịch còn kéo dài, chưa hoàn thành đúng tiến độ (chi khoảng 38% công trình hoàn thành theo Quyết định được phê duyệt nên hiệu quả của các dự án này phát huy chưa cao.

- Mức vốn ngân sách nhà nước hàng năm hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch còn bị động

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nguyên tắc tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2007-2010 tại Quyết định 210/2006/QĐ-TTg. Nhưng do ngân sách hỗ trợ của Nhà nước phê duyệt chậm và thấp nhiều so với nhu cầu nên các địa phương không chủ động xác định được khả năng hỗ trợ của ngân sách trung ương cho dự án, cũng như mức vốn địa phương phải tự bổ sung. Do vậy, việc đầu tư hàng năm còn bị động (Kinh phí chỉ được thông báo sau khi được Quốc hội thông qua trong phiên họp cuối năm, vào thời điểm đó Hội đồng nhân dân tỉnh cũng đã phải thông qua kế hoạch ngân sách).

Đầu tư phát triển du lịch CSHT còn phân tán, dàn trải và chưa đúng danh mục

Theo cơ chế giao kế hoạch vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch, nhà nước giao cho các tỉnh, thành phố tổng vốn và không có danh mục dự án hướng dẫn. Theo đó, UBND các tỉnh, thành phố tự bố trí vốn theo các danh mục đã đăng ký kế hoạch và theo hướng dẫn lập kế hoạch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nhưng một số địa phương đã tự bố trí vốn theo hướng phân tán, dàn trải. Một số địa phương bố trí dự án không trong danh mục đăng ký kế hoạch với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc mở thêm các công trình mới trong khi các dự án chuyển tiếp thiếu nhiều vốn để hoàn thành, cá biệt có tỉnh/thành chưa phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch hoặc sử dụng vốn sai mục đích... Điều này dẫn đến việc kéo dài thời hạn hoàn thành công trình, tăng khối lượng nợ đối với các dự án chuyển tiếp và ảnh hưởng đến việc phát triển CSHT du lịch theo mục tiêu nhằm tạo tính liên hoàn, liên kết giữa các vùng và sớm hoàn chỉnh các khu du lịch lớn có tầm cỡ khu vực và quốc tế.

- Việc hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch cho trung tâm du lịch mang tính động lực phát triển du lịch cả nước chưa tương xứng, do đó chưa phát huy hết được vai trò của các trung tâm du lịch, các khu du lịch quốc gia

Các trung tâm du lịch TP.Hà Nội phụ cận, TP. Đà Nẵng, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh và phụ cận đều được xác định là các trung tâm du lịch của vùng, khu vực với vai trò thu hút và phân phối khách du lịch trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. Các tỉnh/thành trên địa bàn này đã đóng góp lớn vào thu nhập du lịch của cả nước, cũng như ngân sách của các địa phương.

Song trong những năm gần đây, các tỉnh/thành này đã không được hỗ trợ đầu tư CSHT từ ngân sách Trung ương nên mặc dù số vốn đấu tư trong cân đối của các địa phương trong giai đoạn 2006-2010 có thể tăng khá so với các địa phương có nguồn thu thấp, nhưng nhìn chung tỷ trọng đầu tư CSHT không có sự thay đổi đáng kể. Mức đầu tư này chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư với vai trò khu du lịch quốc gia để phát huy vị thế đầu tầu, thúc đẩy du lịch cả nước.

- Tổ chức thực hiện và quản lý vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch còn bất cập

Về nguyên tác, việc thực hiện nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch do ngành du lịch quản lý, theo đó. Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và lập báo cáo về tình hình thực hiện vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch. Tuy nhiên, thời gian qua, do đặc điểm riêng của mỗi địa phương, các dự án sử dựng nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch được quản lý theo nhiều cách khác nhau. Tại một số địa phương, các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã gặp khó khăn trong việc lập và tổ chức triển khai kế hoạch vốn đầu tư CSHT du lịch, quản lý, theo dõi và báo cáo tình hình thực hiện nguồn vốn này.

Ngoài ra, chế độ báo cáo của một số địa phương thực hiện chưa đúng theo quy định, đặc biệt số tỉnh/thành không báo cáo cáo hoặc có nhưng chất lượng chưa đảm bảo gây khó khăn trong công tác quản lý.

II. Đề Xuất kế hoạch hỗ trợ đầu tư phát triển CSHT du lịch giai đoạn 2010-2015

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã dự thảo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam tầm nhìn 2020, tầm nhìn 2030 để trình Thủ tướng Chính phủ (thay thế cho Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010) bao gồm các mục tiêu, quan điểm và định hướng phát triển du lịch đến năm 2020 như sau:

1. Mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020

1. 1. Mục tiêu

Đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh; mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thân thiện với môi trường; đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp trong khu vực.

1. 2. Quan điểm phát triển

Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành liên quan phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội.

Tập trung phát triển du lịch theo hướng hiện đại, có chất lượng, có thương hiệu, có trọng tâm, trọng điểm; phát triển đồng thời du lịch nội địa và quốc tế.

Phát triển du lịch bền vững, đảm bảo tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa, gắn với an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; khai thác tôi ưu lợi thế quốc gia, các nguồn lực trong và ngoài nước; phát huy mạnh vai trò nòng cốt của doanh nghiệp.

1. 3. Chỉ tiêu phát triển du lịch: .

- Về khách du lịch: Năm 2015 thu hút 7-8 triệu lượt khách du lịch quốc tế, phục vụ 32-35 triệu lượt khách nội địa. Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đạt 8,2%/năm và nội địa đạt 7.2%/năm. Năm 2020 thu hút 11-12 triệu lượt khách quốc tế phục vụ 45-48 triệu lượt khách nội địa. Tăng trưởng khách quốc tế là 8.9%/năm, nội địa là 6.7%/năm.

- Về thu nhập du lịch: thu nhập là mục tiêu tăng trưởng chính trong giai đoạn 2011 -2020 của Du lịch Việt Nam. Năm 2015 thu nhập du lịch đạt 10- 11 tỷ USD, tăng 16,5%/năm; Năm 2020 thu nhập du lịch đạt 18-19 tỷ USD, giai đoạn này tăng trung bình 12.5%/năm .

- Tỷ trọng GDP: Năm 2015, tỷ trọng GDP du lịch chiếm 5.5-6% tổng GDP cả nước, tăng trưởng trung bình giai đoạn này đạt 15,1%/năm; Năm 2020, tỷ trọng GDP du lịch chiếm 7-8% tổng GDP cả nước, tăng trung bình 11.8%/năm.

2. Định hướng đầu tư phát triển CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015

- Căn Cứ mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và nhu cầu đầu tư CSHT du lịch của các địa phương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất Chính phủ cho tiếp tục chương trình hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015 theo hướng tập trung ưu tiên lại một số địa bàn trọng điểm phát triển du lịch, hình thành các tour, tuyến du lịch liên hoàn giữa các vùng du lịch trọng điểm, giữa các địa phương. Tập trung đầu tư dứt điểm các công trình chuyển tiếp để phát huy hiệu quả dự án đầu tư và nghiên cứu ban hành cơ chế nhằm huy động các nguồn lực đầu tư CSHT du lịch, giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước trong đầu tư phát triển CSHT du lịch. Định hướng đầu tư phát triển tại CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015 như sau:

a! Mục tiêu

Phát triển cơ sở hạ tầng các khu du lịch đồng bộ, đảm bảo các điều kiện kỹ thuật tối thiểu, góp phần tạo thuận lợi cho du khách cũng như thu hút đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các khu du lịch, đặc biệt các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch, khu vực vùng sâu, vùng xa nhưng có tiềm năng du lịch nhằm hình thành các khu du lịch có tầm cỡ khu vực và thế giới theo Định hướng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

b) Địa bàn ưu tiên lập trung phát triển CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015

-Ưu tiên tập trung hỗ trợ đầu tư CSHT Du lịch thuộc các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch gắn với các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước.

Tiếp tục ưu liên nguồn hỗ trợ của Nhà nước để hoàn chỉnh đầu tư CSHT du lịch khu du lịch quốc gia (21 khu du lịch quốc gia) theo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010; tập trung nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch cho các tỉnh/thành thuộc địa bàn trọng điểm phát triển du lịch nằm trong 07 vùng lãnh thổ gắn với các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước được đề xuất trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 (dự thảo).

Trong đó, chú trọng hạ tầng du lịch các khu du lịch thuộc địa bàn trọng điểm phát triển du lịch miền Trung Tây Nguyên. Việc đầu tư CSHT trên các địa bàn này phải đồng bộ với thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch nhằm phát triển du lịch với những sản phẩm du lịch đa dạng, có khả năng cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

- Quan tâm đầu tư CSHT du lịch gắn với các điểm du lịch thuộc  các tỉnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Tại các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đầu tư CSHT du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng phát triển du lịch, khả năng liên kết với các tuyến du lịch tạo thế liên hoàn thu hút khách du lịch, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, cần lồng ghép các chương trình mục tiêu Văn hóa và các chương trình khác nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực để tạo điều kiện phát triển du lịch tại các địa bàn vùng sâu vùng xa.

- Khai thác các điểm du lịch có khả năng thu hút nhiều khách du lịch của vùng phụ cận các trung tâm du lịch

Đầu tư CSHT du lịch phải đảm bảo đồng bộ với các dịch vụ du lịch, tạo sản phẩm du lịch tại các địa bàn phụ cận các trung tâm du lịch, các đô thị lớn để giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân và khách quốc tế trong các dịp lễ tết, du lịch cuối tuần. Trong đó, tập trung phát triển CSHT du lịch tại các phụ cận các trung tâm Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP, Hồ Chí Minh.

- Việc đầu tư CSHT vào các khu du lịch, điểm du lịch phải được tiến hành động bộ nhằm hình thành được các tuyến du lịch.

Theo quy hoạch phát triển du lịch, các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế quan trọng là: Tuyến du lịch đường sắt Bắc-Nam trong hướng phát triển tuyến du lịch đường sắt xuyên Á; tuyến du lịch quốc tế bằng đường biển qua các cảng Quảng Ninh, Đà Nẵng. Khánh Hoà. TP, Hồ Chí Minh, tuyến du lịch Hành lang Đông-Tây qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo; tuyến du lịch quốc tế Vân Nam-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh; tuyến du lịch sông Mê Kông mở rộng, theo sông Mê Kông nối Việt nam. Căm Pu Chia, Lào, Thái Lan, Myanma và Trung Quốc: tuyến du lịch con đường huyền thoại theo đường mòn Hồ Chí Minh, tuyến du lịch "Con đường di sản" qua các di sản thế giới; tuyến du lịch "Con đường xanh Tây Nguyên" qua các tỉnh Tây Nguyên.

(Danh mục địa bàn ưu tiên tập trung phát triển CSHT du lịch đính kèm theo Tờ trình)

c! Nguồn vốn thực hiện đầu tư CSHT du lịch

Theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 (dự thảo); quy hoạch phát triển du lịch của các tỉnh/thành đến năm 2020 và căn cứ nhu cầu đầu tư CSHT du lịch lửa các tỉnh/thành nhu cầu đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011- 2015 khoảng 15.000 tỷ đồng.

Với nhu cầu đầu tư CSHT du lịch trên, dự kiến kế hoạch hỗ trợ nguồn vốn đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015 như sau:

- Tổng số vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015 là: 8 tỷ đồng tỷ đồng.

Trong đó, có vốn hỗ trợ cho các dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2006-2010 là 4.500 tỷ đóng.

- (Số tỉnh thụ hưởng: 59 tỉnh/thành

- Tổng số dự án thực hiện: 210 dự án. Trong đó số dự án chuyển tiếp là 114 dự án

-Số dự án khởi công mới năm 2011: 96 dự án

- Thực hiện chủ trương xã hội hóa đầu tư, ngoài nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch của Nhà nước. UBND các tỉnh/thành cần huy động các nguồn vốn khác để triển khai thực hiện đầu tư CSHT du lịch như huy động vốn đầu tư CSHT du lịch từ việc đấu giá quyền sử dụng đất; điều tiết các khoản thu ngân sách của địa phương trong việc đầu tư phát triển CSHT du lịch...

3. Các giải pháp thực hiện hiệu quả đầu tư phát triển CSHT du lịch giai loạn 2011-2015

Nhằm thực hiện và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển CSHT du lịch, cần tập trung vào một số việc chủ yếu sau:

- Chủ động xây dựng quy hoạch đầu tư CSHT du lịch. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển du lịch các tỉnh/thành, các địa phương lập quy hoạch, kế hoạch cụ thể đầu tư phát triển CSHT du lịch trên địa bàn mình. Trong đó, đưa ra các dự án ưu tiên đầu tư cho từng năm của giai đoạn 2011-2015; làm rõ các dự án ưu tiên có khu du lịch quốc gia, các dự án thuộc địa bàn trọng điểm phát triển du lịch để tạo nên được các khu du lịch nổi trội, có thương hiệu, có tính cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh lại tiêu chí hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch lại Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg: Qua việc thực hiện Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban bành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2007-2010, còn một số bất cập khi thực hiện cần điều chỉnh như sau: Việc áp dụng chung cho các tỉnh/thành tự cân đối 50% tổng số vốn đầu tư các dự án CSHT du lịch chưa phù hợp với điều kiện của từng địa phương có khó khăn về nguồn đầu tư. Do đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất cần căn cứ vào nguồn thu và khả năng cân đối của từng tỉnh/thành đưa ra các mức đối ứng vốn địa phương cho phù hợp cho từng nhóm đối tượng. Theo đó, hỗ trợ các tỉnh khó khăn về nguồn thu, đặc biệt là các tỉnh vùng sâu, vùng xa mức hỗ trợ 80% đến 100% tổng vốn đầu tư của dự án. Bổ sung định mức tiêu chí cho các tỉnh/thành là trung tâm du lịch của cả nước nhưng có nguồn thu ngân sách lớn (nguồn thu ngân sách trên 1000 tỷ đồng) được hỗ trợ từ 15-20% tổng vốn đầu tư của dự án.

- Xây dựng cơ chế huy động nguồn vốn đầu tư phát triển CSHT du lịch theo hướng: Cơ chế huy động vốn đầu tư CSHT du lịch từ việc đấu giá quyền sử dụng đất; hình thức BOT trong việc đầu tư CSHT du lịch gắn với các cơ sở dịch vụ kinh doanh du lịch; điều tiết các khoản thu ngân sách của địa phương trong việc đầu tư phát triển CSHT du lịch; cơ chế về việc sử dụng các ưu đãi đầu tư (tín dụng phát triển, thuế...) để phát triển các khu du lịch quốc gia, các dự án thuộc địa bàn khó khăn...

- Chấn chỉnh lại công tác quản lý đầu tư CSHT du lịch theo hướng phát huy trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tính chủ động của UBNĐ tỉnh/thành ngay từ khâu lập dự án, thẩm định, phân bổ vốn và suốt quá trình quản lý, thực hiện dự án. Trong đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đầu mối tham mưu cho UBND các tỉnh/thành trong việc quản lý thực hiện dự án nhằm đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tại địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đầu tư CSHT du lịch.

- Đề xuất cơ chế giao kế hoạch và chế độ báo cáo tình hình thực hiện đầu tư CSHT du lịch phù hợp, nhằm đảm bảo đầu tư đúng mục tiêu phát triển du lịch, tránh đầu tư dàn trải, phân tán; tăng tính tự chủ của các địa phương trong việc huy động các nguồn vốn và sử dụng ngân sách Nhà nước. Theo đó,  trên cơ sở đăng ký kế hoạch của UBND tỉnh/thành với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bộ Kế hoạch và Đầu tư về mục tiêu phát triển du lịch cũng như nhu cầu hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch, việc giao kế hoạch hàng năm về đầu tư CSHT du lịch phải có sự thống nhất giữa Bộ quản lý ngành với UBND tỉnh/thành đối với danh mục dự án sẽ triển khai trong năm kế hoạch.

- Tăng cường phối hợp, lồng ghép triển khai thực hiện các nguồn vốn hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch với Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, cùng các nguồn vốn khác nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn hỗ trợ CSHT du lịch nhằm tạo điều kiện phát triển du lịch trong giai đoạn 2011-2015 theo đúng các mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030.

III- Kiến nghị

1. Kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp tục Chương trình hỗ dự đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015 bằng ngân sách Nhà nước.

2. Kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2007-2010 như sau:

+ Đối với các tỉnh/thành vùng trung du miền núi Bắc Bộ. Đồng bằng sông Hồng (trừ TP.Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương), Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ (trừ TP. Đà Nẵng, Khánh Hòa), Tây Nguyên (Trừ Lâm Đồng); vùng Đông Nam Bộ. Đồng bằng sông Cửu Long (trừ TP. Cần Thơ) được hưởng mức hỗ trợ 80% đến 100% tổng vốn đầu tư của dự án.

+ Đối với các tỉnh/thành là trung tâm du lịch của cả nước nhưng có nguồn thu ngân sách lớn (nguồn thu ngân sách trên 1.000 tỷ đồng) được hỗ trợ từ 20-30% tồng vốn đầu tư của dự án trên cơ sở xem xét dự án cụ thể có chọn lọc.

3. Kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ có cơ chế giao kế hoạch hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch, theo hướng đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu phát triển du lịch theo quy hoạch, kế hoạch; tránh đầu tư dàn trải, phân tán và tăng tính chủ động của địa phương, theo đó, giao  Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở đăng ký kế hoạch của UBND tỉnh/thành tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ nhu cầu hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch. Việc giao kế hoạch hàng năm về đầu tư CSHT du lịch có sự thống nhất giữa Bộ quản lý ngành với UBNĐ tỉnh/thành đối với danh mục dự án sẽ triển khai trong năm kế hoạch.

Trên đây là đề xuất kế hoạch hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015. Bộ văn hóa, Thể thao và du lịch kính trình Thủ tướng chính phủ xemxét, quyết định./.

 

Phụ lục

Địa bàn ưu tiên tập trung hỗ trợ đầu tư phát triển CSHT du lịch giai đoạn 2011-2015:

(đính kèm theo Tờ trình số 146/TTr -BVHTTDL ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lich)

 

1) Các địa bàn trọng điểm du lịch Vùng trung du, miền núi phía Bắc gồm: Tp. Lào Cai -Sa Pa-Phan Xi Păng, Sa Pa-Bắc Hà (tỉnh Lào Cai); Tp: Điện Biện Phủ và phụ cận (tỉnh Điện Biên); Thác Bà (tỉnh Yên Bái): Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), thác Bản Giốc (tỉnh Cao bằng), Tân trào (tỉnh Tuyên Quang); Khu ATK Định hóa (tỉnh thái Nguyên); Tp. Lạng Sơn và phụ cận (tỉnh lạng Sơn) với các hành lang kinh tế và các cửa khẩu quan trọng với Trung Quốc và Thượng Lào

2) Các  địa bàn trọng điểm du lịch Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc Gồm: Thủ đô Hà Nội và phụ cận, Đồ Sơn-Cát Bà (Tp. Hải Phòng). Hạ Long- Bái Tử long (tỉnh Quảng Ninh); Tam Cốc -Bích Động (tỉnh Ninh Bình) gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Bộ.

3) Các địa bàn trọng điểm du lịch Vùng Bắc Trung Bộ: Huế và phụ cận (tỉnh thừa thiên Huế); Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình); Kim Liên- Vinh- Cửa Lò (tỉnh Nghệ An); Thiên Cầm, Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh), Cửa Tùng, Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) gắn với hệ thống cửa khẩu quốc tế với  Lào, với du lịch hành lang kinh tế Đông Tây và hệ thống biển, đảo Bắc trung Bộ.

4) Các địa bàn trọng điểm du lịch Vùng duyên hải Nam Trung Bộ gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam; Nha Trang-Bắc Cam Ranh (Khánh Hòa); Ninh Chữ (Ninh thuận): Phan Thiết- Mũi Né (Bình thuận); Nhơn Hội-Phương Mai, núi Bà (Bình định), gắn với vùng kinh tế trọng điểm miền trung, với hệ thống biển đảo Nam trung Bộ.

5) Các địa bàn trọng điểm du lịch Vùng Tây Nguyên gồm: Tp. Đà Lạt và phụ cận. Tp Buôn Mê Thuột và phụ cận; Khu vực Bờ Y, Măng Đen, Kon Tum), gắn với tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia

6). Các địa bàn trọng điểm du lịch Vùng Đông Nam Bộ gồm: Tp Hồ Chí Minh và phụ cận, tỉnh Tây Ninh, Vũng Tàu, Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa Vùng Tàu) gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hành lang du lịch xuyên Á.

7) Các địa bàn trọng điểm du lịch Vùng Tây Nam Bộ gồm: Khu vực Tp Cần Thơ và phụ cận; Hà Tiên - Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang); Thới Sơn-Cồn Phụng (tỉnh Tiền Giang -Bến Tre), Đất Mũi, tỉnh Cà Mau gắn với du lịch tiểu vùng sông Mêkông

 

Nơi nhận:

-Như trên;

-Bộ trưởng, (để b/c);

-Văn phòng Chính phủ (để b/c);

-Bộ Kế hoạch và Đầu tư , Tài chính;

-TCDL;

-Lưu: VT, KHTC.2, TH (8);

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác