147/TTR-BVHTTDL

BỘ TRƯỞNG- Hoàng Tuấn Anh Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

Tờ trình Về Dự án Luật Quảng cáo

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII và năm 2008 và Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII và năm 2008, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì, phối hợp với Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ và các Bộ: Tư pháp, Công Thương, Thông tin và Truyền thông xây dựng Dự án Luật Quảng cáo. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch kính trình Thủ tướng Chính phủ Dự án Luật Quảng cáo với những nội dung chủ yếu sau đây:

1. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT QUẢNG CÁO

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế-xã hội, hoạt động quảng cáo ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ. Việc đầu tư kinh phí cho hoạt động quảng cáo hàng hoá, dịch vụ được các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quan tâm. Do nhu cầu quảng cáo ngày một tăng nên nhiều loại hình quảng cáo mới xuất hiện và phát triển mạnh, đặc biệt là quảng cáo trên Intemet và các phương tiện điện tử.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về quảng cáo ở nước ta đang tồn tại nhiều bất cập, không còn đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của hoạt động quảng cáo trong nền kinh tế thị trường. Hiện nay, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật về quảng cáo là Pháp lệnh Quảng cáo được ban hành năm 2001, bên cạnh đó, một số quy định về quảng cáo trong các lĩnh vực chuyên ngành vẫn được quy định tại nhiều văn bản Luật như: Luật Thương mại, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Dược và nhiều văn bản khác. Vì vậy, việc áp dụng các quy định về hoạt động quảng cáo gặp nhiều khó khăn, nhất là trong trường hợp các văn bản có quy định khác nhau. Pháp lệnh Quảng cáo là văn bản quy định tương đối toàn diện về hoạt động quảng cáo tuy nhiên do sự phát triển của hoạt động quảng cáo nên cũng đã có nhiều nội dung chưa được điều chỉnh hoặc không còn phù hợp với tình hình thực tiễn, cụ thể như sau:

- Về hoạt động quảng cáo có yếu tố nước ngoài: Pháp lệnh Quảng cáo quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được đặt Chi nhánh tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được hợp đồng, hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam nhưng không được thành lập chi nhánh. Như vậy, quy định về quảng cáo có yếu tố nước ngoài tại Pháp lệnh quảng cáo không còn phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO.

- Về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo: Pháp lệnh Quảng cáo chưa quy định cụ thể về hành vi quảng cáo so sánh; sử dụng sản phẩm quảng cáo gây hại cho cho sức khoẻ và sự hình thành nhân cách của trẻ em; quảng cáo bằng hình thức phát tờ rơi, tờ gấp, dán vẽ sản phẩm quảng cáo nơi công cộng không theo quy định, dùng đoàn người để quảng cáo. Việc quy định về "cấm quảng cáo sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép thực hiện tại thời điểm quảng cáo" không phù hợp với chiến lược tiếp thị, khai thác thị trường của các doanh nghiệp (trừ trường hợp hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm kinh doanh hoặc cấm quảng cáo).

- Về phương tiện quảng cáo: Pháp lệnh Quảng cáo chưa có định nghĩa về phương tiện quảng cáo; bên cạnh đó, một số phương tiện quảng cáo như hội chợ, triển lãm, mạng thông tin máy tính quy định trong Pháp lệnh không phù hợp với thực tế; các phương tiện quảng cáo đang phát triển như mạng viễn thông, phương tiện điện tử, người,..chuyển tải khối lượng lớn sản phẩm quảng cáo chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh.

- Về quảng cáo trên báo chí: Pháp lệnh Quảng cáo đã quy định về tỷ lệ diện tích, thời lượng quảng cáo trên báo chí, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng, quy định này đã bộc nhiều bất cập và chưa phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính của các cơ quan báo chí, thúc đẩy sự phát triển hoạt động quảng cáo, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt khác, quy định phải cấp phép phụ trang, phụ bản, kênh, chương trình chuyên quảng cáo, quy định không được quảng cáo trên trang nhất, bìa một của báo in áp dụng tương tự vớt báo điện tử tại Pháp lệnh quảng cáo cũng không còn phù hợp.

- Về quảng cáo nên mạng thông tin máy tính: Pháp lệnh Quảng cáo quy định việc cấp phép thực hiện quảng cáo trên phương tiện này. trên thực tế, đây là quy định không có tính khả thi vì nội dung quảng cáo trên mạng thông tin máy tính chuyển tải liên tục, thay đổi thường xuyên với số lượng rất lớn nên không thể quản lý bằng cấp phép mà nên áp dụng phương pháp quản lý bằng hậu kiểm.

- Về quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, băng-rôn: trong thực tế, quảng cáo trên bảng, biên, pa-nô, băng-rôn là một hoạt động cần phải có sự quản lý của nhiều ngành tại địa phương, tuy nhiên, Pháp lệnh Quảng cáo chưa quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan có liên quan, nhất là trong việc xây dựng quy hoạch quảng cáo ngoài trời để đảm bảo trật tự, mỹ quan đô thị.

Như vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về phát triển quảng cáo, những bất cập của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành thì việc ban hành Luật Quảng cáo - văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao để điều chỉnh toàn diện hoạt động quảng cáo ở nước ta là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

II. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT QUẢNG CÁO

Để xây dựng Dự án Luật Quảng cáo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã thực hiện các quy định theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 như sau:

1. Thành lập Ban Soạn thảo, với sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ và các Bộ: Tư pháp, Công Thương, Thông tin và Truyền thông, đồng thời thành lập Tổ Biên tập giúp việc cho Ban Soạn thảo; xây dựng kế hoạch hoạt động của Ban Soạn thảo.

2. Tiến hành tổng kết tình hình thực hiện Pháp lệnh Quảng cáo từ năm 2002 đến nay.

3. Rà soát các văn bản pháp luật về quảng cáo và các văn bản pháp luật có liên quan.

4. Tổ chức khảo sát thực tiễn ở các địa phương, tham khảo kinh nghiệm và sưu tầm, nghiên cứu pháp luật về quảng cáo của một số nước.

5. Tiến hành xây dựng dự thảo Dự án Luật Quảng cáo; tổ chức các cuộc họp Ban soạn thảo, Tổ biên tập chỉnh sửa, bổ sung dự thảo.

6. Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng thông qua các hội thảo, toạ đàm; xin ý kiến trực tiếp và lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, địa phương; tổng hợp và nghiên cứu, tiếp thu chỉnh sửa, bổ sung dự thảo.

7. Gửi Dự thảo và các tài liệu có liên quan đề nghị Bộ Tư pháp thẩm định và nghiên cứu và tiếp thu các ý kiến thẩm định để hoàn chỉnh Dự thảo.

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT QUẢNG CÁO

Dự án Luật Quảng cáo được xây dựng trên những quan điểm sau đây:

1. Thể chế hoá chủ trương đường lối phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

2. Đảm bảo tính thống nhất của bộ máy quản lý nhà nước, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta; cam kết của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và các Điều ước quốc tế khác mà Việt Nam đã tham gia trong lĩnh vực quảng cáo.

3. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh Quảng cáo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động quảng cáo của nước ngoài.

4. Điều chỉnh toàn diện hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam với các quy định tương đối cụ thể, rõ ràng để khi ban hành tạo cơ sở pháp lý thích hợp.

5. Thúc đẩy hoạt động quảng cáo phát triển lành mạnh, bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động quảng cáo.

IV. BỐ CỤC VÀ TÓM TẮT NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO LUẬT QUẢNG CÁO.

Dự thảo Luật Quảng cáo có 5 chương, 43 điều, được bố cục như sau:

Chương I: Những quy định chung

Chương này gồm 12 điều (từ Điều 1 đến Điều 1) quy định những vấn đề có tính nguyên tắc chung, bao gồm: phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; chính sách của Nhà nước về phát triển hoạt động quảng cáo; nội dung quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo; cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo; tổ chức nghề nghiệp; bảo hộ sở hữu trí tuệ; xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo; hàng hoá, dịch vụ cấm quảng cáo; những hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo; hợp đồng dịch vụ quảng cáo.

Trong nội dung của Chương này ngoài việc sửa đổi một số điều tại Pháp lệnh Quảng cáo như tách phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng thành 2 điều, bổ sung thêm một số nội dung về chính sách nhà nước đối với hoạt động quảng cáo chỉnh sửa các khái niệm trong phần giải thích từ ngữ cho chuẩn xác thì dự thảo còn bổ sung một số điều khoản mới, cụ thể:

- Quy định về tổ chức nghề nghiệp: Tổ chức nghề nghiệp về quảng cáo được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội nghề nghiệp. Đồng thời có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia quảng cáo; hỗ trợ, nâng cao nhận thức xã hội về quảng cáo; đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo; góp ý xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo; tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch quảng cáo. Đồng thời dự thảo luật cũng quy định tổ chức nghề nghiệp về quảng cáo có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho tổ chức, cá nhân tham gia quảng cáo; hướng dẫn các hội viên hoạt động theo đúng pháp luật và quy hoạch quảng cáo.

- Quy định về Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong quảng cáo: Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo của mình theo quy định của pháp luật vế sở hữu trí tuệ; tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực quảng cáo thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Quy định có tính nguyên tắc về xử lý vi phạm trong quảng cáo: Người có hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Quy định cấm những hàng hoá, dịch vụ sau: Hàng hóa. dịch vụ cấm kinh doanh; Thuốc lá; Rượu có nồng độ cồn từ 30 độ trở lên; Đánh bạc dưới mọi hình thức; Sữa, bình bú và vú ngậm giả dùng cho trẻ từ khi sinh cho đến sáu tháng tuổi.

Thuốc kê đơn; thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần theo quy định của pháp luật về y tế

Chương II: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động quảng cáo Chương này gồm 4 điều (từ Điều 13 đến điều 16) quy định những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo; quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo.

Nội dung của chương này còn quy định quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo như được phép lựa chọn người kinh doanh dịch vụ quảng cáo; quyết định phương tiện và thời gian thực hiện; được biết nội dung của quy hoạch ra phê duyệt đồng thời cũng có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về nội dung, hình thức sản phẩm quảng cáo; cung cấp các thông tin trung thực, chính xác về cơ quan, doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ cần quảng cáo.

So với Pháp lệnh Quảng cáo thì nội dung của dự thảo Luật bỏ 3 điều quy định về quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo; quyền và nghĩa vụ của người cho thuê phương tiện quảng cáo và quy định về thuế, phí, lệ phí trong quảng cáo.

Chương III: Hoạt động quảng cáo

Chương này gồm 21 điều (từ Điều 17 đến Điều 37) quy định những nội dung về phương tiện quảng cáo, yêu cầu đối với nội dung, hình thức quảng cáo; tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo; điều kiện thực hiện quảng cáo đối với các loại hàng hoá, dịch vụ; quảng cáo trên báo in, báo điện tử, báo nói, báo hình; quảng cáo trên trang tin điện tử Intemet, trên các phương tiện được truyền dẫn, phát sóng trên mạng viễn thông, phương tiện điện tử; quảng cáo trên xuất bản phẩm, trong băng hình, đĩa hình, băng âm thanh, (đĩa âm thanh và các sản phẩm in khác; quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng-rôn; quảng cán trên màn hình chuyên quảng cáo; quảng cáo trên phương tiện giao thông; các yêu cầu đối với hoạt động quảng cáo thông qua chương trình văn hoá, thể thao; quảng cáo trên vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, người và các phương tiện quảng cáo khác.

 Trong nội dung của Chương này ngoài việc sửa đổi một số điều tại Pháp lệnh Quảng cáo như yêu cầu trong các sản phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng nói, chữ viết Việt Nam; bổ sung thêm hai loại phương tiện quảng cáo gồm: các trang thông tin điện tử trên Intemet, các phương tiện truyền dẫn phát sóng, phương tiện điện tử và người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; bãi bỏ việc cấp giấy phép thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính; kênh, chương trình phát thanh; kênh, chương trình chuyên quảng cáo; phụ trang, phụ bản chuyên quảng cáo, Dự thảo Luật có bổ sung một số điều khoản mới, cụ thể:

- Yêu cầu đối với nội dung quảng cáo: Nội dung quảng cáo phải đảm bảo yêu cầu trung thực, rõ ràng, chính xác; đúng với quy cách, chất lượng, công dụng, nhãn hiệu, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, xuất xứ; đúng với phương thức phục vụ, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản, bảo hành. Không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo.

- Yêu cầu đối với hình thức quảng cáo: anh thức quảng cáo phải đảm bảo yêu cầu rõ ràng, dễ hiểu, có tính thẩm mỹ; phải có dấu hiệu phân biệt với những nội dung không phải là quảng cáo; không gây nhầm lẫn cho công chúng.

- Quảng cáo trên báo điện tử không được vượt quá 15% diện tích mỗi trang thể hiện trên khuôn hình của báo, trừ chuyên trang chuyên quảng cáo và cơ quan báo điện tử có nhu cầu quảng cáo quá diện tích cho phép được ra chuyên trang chuyên quảng cáo và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý về báo chí trước ít nhất 30 ngày làm việc tính đến ngày phát hành đầu tiên của chuyên trang chuyên quảng cáo.

- Quảng cáo trên các phương tiện được truyền dẫn, phát sóng, phương tiện điện tử được quy định: Tổ chức, cá nhân gửi nội dung các sản phẩm quảng cáo trên các phương tiện truyền dẫn, phát sóng, phương tiện điện tử phải bảo đảm cho người tiếp nhận quảng cáo khả năng từ chối nhận nội dung quảng cáo. Tổ chức, cá nhân không được tiếp tục gửi sản phẩm quảng cáo nếu người tiếp nhận sản phẩm quảng cáo đó thông báo không đồng ý nhận các nội dung quảng cáo. Không được quảng cáo trên điện thoại từ 23giờ đến 7giờ

- Quảng cáo trong băng hình, đĩa hình; băng âm thanh, đĩa âm thanh chuyên quảng cáo hoặc xen trong chương trình băng, đĩa có nội dung văn hoá, nghệ thuật, thể thao phải được cơ quan có thẩm quyền duyệt và cho phép; thời lượng quảng cáo không được quá 7% tổng thời lượng của băng, đĩa.

- Quảng cáo về cơ quan, doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ trên tranh, ảnh, áp-phích, catalo, tờ rơi, tờ gấp và các sản phẩm in không phải xuất bản phẩm phải ghi rõ tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc người quảng cáo, số lượng in, nơi in.

Bên cạnh đó, chương này cũng đưa ra các quy định về việc viết, đặt biển hiệu, nội dung thể hiện trên biển hiệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quy định về công tác xây dựng quy hoạch quảng cáo tại địa phương với yêu cầu của nội dung quy hoạch và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương trong việc xây dựng quy hoạch quảng cáo đề đảm bảo cảnh quan môi trường, mỹ quan đô thị và trật tự an toàn xã hội.

Chương IV: Quảng cáo có yếu tố nước ngoài

Chương này gồm 04 điều, từ Điều 38 đến Điều 41 quy định những vấn đề liên quan đến hoạt động quảng cáo của tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài; hoạt động quảng cáo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; hợp tác đầu tư nước ngoài trong hoạt động quảng cáo; văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam.

Trong Pháp lệnh Quảng cáo có quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được đặt Chi nhánh tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được hợp đồng, hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam nhưng không được thành lập chi nhánh. Vì vậy trong dự thảo Luật đã bãi bỏ việc cho phép thành lập chi nhánh cho phù hợp cam kết của Việt Nam với WTO.

Chương V: Điều khoản thi hành

Chương này gồm 2 điều, Điều 42 và Điều 43 , quy định về hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XIN Ý KIẾN CHÍNH PHỦ

Trong quá trình soạn thào, cơ bản các nội dung của Dự thảo Luật Quảng cáo đã được sự thống nhất trong Ban soạn thảo và Tổ biên tập. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung có ý kiến khác nhau, Ban soạn thảo xin được trình bày các nội dung đó để Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo, cụ thể như sau:

1. Khái niệm quảng cáo.

* Phương án thứ nhất: Quảng cáo là việc giới thiệu đến công chúng về cơ quan, doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời.

Lý do:

- Khái niệm quảng cáo cần bao quát toàn bộ các hoạt động chịu sự điều chỉnh của Luật quảng cáo, bao hàm cả quảng cáo mang tính thương mại, quảng cáo văn hóa, xã hội (trong Dự thảo được thể hiện là dịch vụ không sinh lời).

- Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các loại dịch vụ không có mục đích sinh lời, nhất là các hoạt động có tính xã hội cao như tuyên truyền an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống tai nạn, phòng chống dịch bệnh, sử dụng muối i-ốt, kế hoạch hóa gia đình, các sự kiện văn hoá, xã hội,...ngày càng xuất hiện nhiều trên các phương tiện quảng cáo, các hoạt động đó có tác động rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vì vậy, hoạt động quảng cáo cho các dịch vụ này cần được điều chỉnh đề đảm bảo quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có nhu cầu quảng cáo, có căn cứ pháp luật để bảo đảm cho việc quảng cáo các nội dung đó trung thực, chính xác, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Hơn nữa, khái niệm này đã được thể hiện trong Pháp lệnh Quảng cáo và thực tế đã chứng minh quy định này là phù hợp

* Phương án thứ hai: "Quảng cáo là hoạt động xúc tiến thương mại của tổ chức, cá nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình .

Lý do:

Một số ý kiến khác cho rằng quảng cáo là hoạt động nhằm mục đích chủ yếu là thương mại, vì vậy, nên thể hiện khái niệm quảng cáo như trên theo quy định tại Luật Thương mại, không nên bao gồm cả hoạt động quảng cáo văn hoá, xã hội (không có mục đích sinh lời).

2. Cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo:

* Phương án 1: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về quảng cáo.

Lý do:

Quảng cáo là một hoạt động có tác động mạnh đến kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đặc biệt là đối với đời sống hàng ngày của nhân dân, vì vậy, nội dung quảng cáo phải đảm bảo tính văn hóa, tính thẩm mỹ, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục...của dân tộc ta, với nhưng yêu cầu về nội dung quảng cáo như trên thì việc quy định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhả nước về quảng cáo là hợp lý.

- Trong quá trình thực hiện quản lý quảng cáo theo quy định của Pháp lệnh quảng cáo từ năm 2001 đến nay, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan được giao quản lý nhà nước về quảng cáo đã tổ chức phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thống nhất quản lý nhà nước về quảng cáo từ Trung ương và địa phương. Trong những năm qua, bộ máy đó ra hoạt động hiệu quả, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong việc quản lý toàn diện về hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam .

* Phương án 2: Bộ Công thương là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về quảng cáo.

Lý do:

Do quan niệm hoạt động quảng cáo chủ yếu nhằm mục đích thương mại, vì vậy, nên quy định cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về quảng cáo là Bộ Công thương.

* Phương án 3: Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về quảng cáo.

Lý do:

Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý báo chí là loại phương tiện chiếm tỷ lệ lớn trong doanh thu từ quảng cáo ở nước ta, vì vậy, cần quy định cơ quan có chức năng giúp  Chính phủ quản lý nhà nước về quảng cáo là Bộ Thông tin và Truyền thông .

3. Về phương pháp quản lý hoạt động quảng cáo trên bảng, băng  rôn quảng cáo ngoài trời:

* Phương án 1: Cấp phép quảng cáo trên bảng, băng-rôn quảng cáo như quy định tại Pháp lệnh Quảng cáo:

Lý do:

Quảng cáo là một hoạt động quan trọng, góp phần thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường, nó là kênh thông tin giúp người tiêu dùng lựa chọn những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp, do vậy nội dung, hình thức của sản phẩm quảng cáo phải thể hiện tính trung thực, chính xác, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Hơn nữa, đối với phương tiện quảng cáo trên bảng, băng-rôn quảng cáo thường tác dụng lâu dài, trực tiếp đến người tiêu dùng và có ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan môi trường nên cần phải có sự quản lý chặt chẽ về mặt nội dung, hình thức trước khi thực hiện. Mặt khác, các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động quảng cáo hiện nay còn chưa đầy đủ, toàn diện; các chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, tính răn đe chưa cao; lực lượng thanh tra tại các địa phương chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng để đảm bảo công tác hậu kiểm có hiệu quả, vì vậy, cần phải thực hiện cấp phép quảng cáo trên phương tiện này như quy định tại Pháp lệnh Quảng cáo.

* Phương án 2: Bãi bỏ cấp phép quảng cáo trên bảng, băng-rôn quảng cáo và quản lý bằng phương pháp hậu kiểm.

Lý do:

Một là, thủ tục cấp phép quảng cáo là hoạt động nhằm kiểm soát nội dung, hình thức của sán phẩm quảng cáo trước khi thực hiện. Tuy nhiên, nội dung, hình thức quảng cáo đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật nên phần lớn các phương tiện quảng cáo hiện nay, trong đó báo chí là phương tiện quảng cáo chiếm tỷ trọng lớn nhất đều tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động quảng cáo của mình. Cho tới nay, hoạt động quảng cáo trên tất cả các phương tiện này đều nghiêm túc, các vi phạm pháp luật rất ít và nếu có đều được phát hiện, xử lý kịp thời. Điều đó cho thấy trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của các chủ phương tiện trong quá trình tham gia hoạt động quảng cáo là khá cao và công tác hậu kiểm thực sự đã có hiệu quả.

Hơn nữa, thực tế cho thấy khi cấp phép thì yếu tố cảm tính của nhà quản lý khi duyệt nội dung quảng cáo vẫn thể hiện khá rõ, nhất là đối với các nội dung quảng cáo có nên quan đến những khái niệm không cụ thể như thẩm mỹ, thuần phong mỹ tục... vì vậy, có nhiều trường hợp nội dung quảng cáo được cấp phép nhưng không nhận được sự đồng tình của người quảng cáo và công chứng. Như vậy, việc xóa bỏ cấp phép thực hiện quảng cáo trên phương tiện này sẽ thúc đẩy người quảng cáo phải nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật để tự chịu trách nhiệm về các nội dung quảng cáo của mình để thực hiện chiến lược quảng cáo một cách có hiệu quả, phù hợp quy định của pháp luật và yêu cầu của công chúng.

Hai là, thủ tục cấp phép quảng cáo đã và đang là rào cản cho hoạt động của các doanh nghiệp. Theo quy định các doanh nghiệp thực hiện quảng cáo đối với bảng, biển, pa nô, mỗi doanh nghiệp quảng cáo phải hoàn tất tối thiểu 8 loại giấy tờ trong thành phần hồ sơ, trong đó có một số giấy phép con không cần thiết. Mặt khác, khi thực hiện một chiến lược quảng cáo thì doanh nghiệp thường sử dụng một sản phẩm quảng cáo ở nhiều địa phương, như vậy, doanh nghiệp sẽ phải xin cấp phép tại cơ quan quản lý quảng cáo ở tất cả các tỉnh, thành phố dự định thực hiện, có nhiều trường hợp cơ quan quản lý ở các địa phương có ý kiến khác nhau gây những bức xúc, khiếu kiện. Sự phức tạp này là một trong các yếu tố hạn chế cơ hội thành công của doanh nghiệp khi thực hiện tiếp án thị trường của ấn phẩm cần quảng cáo. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp vì để đáp ứng kịp thời chiến lược kinh doanh của mình nên đã chấp nhận việc quảng cáo không phép.

Ba là, giấy phép quảng cáo không phải là một giấy bảo đảm về chất lượng sản phẩm, vấn đề này đã có các văn bản chuyên ngành về quản lý chất lượng hàng hóa và bảo vệ người tiêu dùng điều chỉnh thể hiện qua các giấy phép như giấy phép lưu hành sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp, giấy phép lưu hành sản phẩm trong lĩnh vực y tế....Hơn nữa, điều kiện và các nội dung bắt buộc phải thể hiện trong sản phẩm quảng cáo của các loại hàng hóa đặc biệt có thể ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân như sữa, mỹ phẩm, thuốc dùng cho người đều được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật, vì vậy, hầu hết các phương tiện quảng cáo hiện nay đều không phải cấp phép thực hiện quảng cáo nhưng các nội dung quảng cáo hoàn toàn không có ảnh hưởng đến người tiêu dùng.

Như vậy, việc bãi bỏ cấp phép quảng cáo trên các phương tiện bảng quảng cáo, băng-rôn và quản lý thông qua phương pháp hậu kiểm như đối với tất cả các phương tiện quảng cáo khác là hoàn toàn có cơ sở. Đây là giải pháp quan trọng nhằm thống nhất phương pháp quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đẩy mạnh việc giảm thiểu cơ chế xin-cho trong quá trình cải cách thủ tục hành chính, phù hợp xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.

Trên đây là những nội dung cơ bản và những vấn đề cần xin ý kiến, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch kính trình Chính phủ xem xét, quyết định./.

 

Nơi nhận:

- Như trên;

- Văn phòng Chính phủ;

- Bộ Tư pháp;

- Lãnh đạo Bộ VHTTDL (để báo cáo);

- Vụ Pháp chế Bộ VHTTDL (để phối hợp);

- Lưu: VT. VHCS (2) TT 10.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác