197/TTR-BVHTTDL

BT Hoàng Tuấn Anh Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

Tờ trình Về việc phê duyệt Đề án "Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020"

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới và Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Đề án "Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020" với các nội dung sau:

I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Tại phiên họp Đại hội đồng lần thứ 25 ngày 15 tháng 11 năm 1989 tại Pari (Thủ đô Cộng hòa Pháp), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã khuyến nghị các quốc gia thành viên phải quan tâm, chú trọng đến các di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Năm 1993, trong phiên họp lần thứ 142 của Ban chấp hành, UNESCO lại đưa ra khuyến nghị về việc thiết lập hệ thống Báu vật nhân văn sống. Năm 2003, tại phiên họp Đại hội đồng lần thứ 32 từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 17 tháng 10 năm 2003, UNESCO đã thông qua Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Nhà nước Việt Nam đã ký văn bản đồng ý tham gia Công ước này năm 2007. Theo nội dung của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện ở những hình thức sau: Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống.

Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, được cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.

Là một hình thức quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật biểu diễn truyền thống là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Giống như các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể, sự mai một, thậm chí hủy hoại của nghệ thuật biểu diễn truyền thống dễ xảy ra, bởi nghệ thuật biểu diễn truyền thống được lưu giữ trong ký ức của con người nên có số phận lịch sử mong manh.

Với đặc thù đó, nghệ thuật trình diễn truyền thống luôn được Đảng, Nhà nước chú trọng quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII xác định: "Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể...", "Đầu tư và tổ chức điều tra sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số’’. "Tiến hành sớm việc kiểm kê, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn hóa truyền thống của người Việt và các dân tộc thiểu số...Trọng đãi những nghệ nhân bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống". Nối tiếp văn kiện này, văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần IX, X đều nhấn mạnh việc coi trọng công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: "Coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc" và "Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc.

Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại, nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài. Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số".

Thực tiễn công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đang đặt ra nhiều vấn đề cần khẩn trương giải quyết như mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy; vấn đề khai thác tiềm năng kinh tế của nghệ thuật biểu diễn truyền thống để phục vụ phát triển du lịch bền vững, vấn đề ghi chép, lưu trữ chân dung các nghệ nhân cao tuổi...

Công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống, vì thế có ý nghĩa cấp thiết trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

1. Kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống

- Đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp

- Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn nghệ thuật truyền thống có tài, tâm huyết với nghề dược cải thiện đáng kể, với khoảng 3.000 nghệ sĩ chuyên nghiệp. Các nghệ sĩ đã nỗ lực cố gắng, khắc phục khó khăn của cuộc sống để gìn giữ, bảo tồn và tiếp tục phát huy vốn di sản nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Đến tháng 6/2011, đã có 191 nghệ sĩ được được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, 1.580 nghệ sĩ được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.

- Các đơn vị nghệ thuật truyền thống, nhất là sân khấu truyền thống chuyên nghiệp đã xây dựng được một hệ thống kịch mục đa dạng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của đông đảo công chúng. Trong cơ chế thị trường, nhiều đơn vị nghệ thuật đã khắc phục khó khăn, trụ vững để tồn tại. Các đơn vị nghệ thuật truyền thống như Tuồng, Chèo, Cải lương, Múa rối, Ca Múa Nhạc dân tộc đã có những tác phẩm tốt, những chương trình, vở diễn hấp dẫn. Nhiều đơn vị đã đổi mới phương thức hoạt động để đến với khán giả, đặc biệt là khán giả vùng sâu, vùng xa, số lượng buổi diễn ngày càng tăng.

- Công tác quy hoạch các đoàn nghệ thuật biểu diễn nghệ thuật truyền thống theo Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg ngày 28/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ đã được thực hiện, bước đầu có hiệu quả trong việc bảo tồn và phát huy biểu diễn nghệ thuật truyền thống. Các đơn vị nghệ thuật hoạt động theo phương thức xã hội hoá đang phát triển ổn định, nâng cao chất lượng biểu diễn nghệ thuật truyền thống.

- Công việc sưu tầm, sưu tập, giới thiệu một số tác phẩm Tuồng, Chèo truyền thống đã đạt được nhiều kết quả; đã dàn dựng lại những tác phẩm tiêu biểu thuộc loại hình kịch hát truyền thống như: Quan Âm Thị Kính, Tấm Cám, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Viên, Trinh Nguyên, Từ Thức (Chèo); Sơn Hậu, Triệu Đình Long, Nghêu Sò Ốc Hến (Tuồng); Long - Ly - Quy - Phượng, Chú Tếu ra trò (Múa rối nước)…

- Hoạt động giao lưu nghệ thuật với nước ngoài được phát triển, số các đoàn, nhóm của nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam ra nước ngoài ngày càng tăng, với nhiều phương thức khác nhau: giao lưu nghệ thuật qua hợp tác văn hoá giữa Việt Nam và các nước; tổ chức phi Chính phủ (hiệp hội, công ty, thanh niên, sinh viên...); các đoàn nghệ thuật tự tìm đối tác để lưu diễn ở nước ngoài...

- Chất lượng công tác đào tạo diễn viên, đạo diễn nghệ thuật truyền thống tại các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật Trung ương và địa phương được chú trọng; số học sinh, sinh viên, học viên tốt nghiệp được phát huy trong thực tiên.

- Dự án Sân khấu học đường do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì thực hiện được triển khai trên 29 tỉnh/thành trong cả nước, tại 83 trường trung học cơ sở, trong đó riêng nghệ thuật Tuồng đã có hơn 500 học sinh, sinh viên, học viên trực tiếp học biểu diễn Tuồng trong vòng 9 năm.

Đối với nghệ thuật tiêu diễn truyền thống không chuyên nghiệp

- Công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống cộng đồng những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định. Các chương trình liên hoan dân ca các miền do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức định kỳ hàng năm đã có hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Với ý thức và trách nhiệm bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống, tại một số địa phương đã duy trì và thành lập thêm những nhóm, câu lạc bộ biểu diễn và truyền dạy nghệ thuật truyền thống hoạt động tích cực và hiệu quả như các câu lạc bộ Quan họ Bắc Ninh ở các làng, xã thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, các câu lạc bộ Ca trù ở thành phố Hà Nội, các nhóm nghệ nhân trình diễn cồng chiêng ở các tỉnh Tây Nguyên, các vùng dân tộc miền núi phía Bắc, các nhóm đờn ca tài tử ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long...

Một số đơn vị nghệ thuật ngoài công lập hoạt động hoàn toàn tự túc về kinh phí nhưng khá hiệu quả như Nhà hát Sân khấu thể nghiệm của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, phường Rối Tế Tiêu, phường Rồi Nguyên Xá, phường Rối Đào Thục...

-Trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đã có một số dự án sưu tầm bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhiều loại hình, tác phẩm nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Từ năm 1997 đến năm 2010, 60 dự án sưu tầm, bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Viện âm nhạc - Học viện Âm nhạc quốc gia, 170 dự án sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đã được 63 tỉnh/thành thực hiện.Thông qua các dự án, ý thức tự hào, tinh thần trách nhiệm với nghệ thuật biểu diễn truyền thống của cộng đồng đã được nâng cao. Năm 2008, Chính phủ đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam thực hiện dự án Công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc ở Việt Nam trong thời gian từ 2009-2012, trong đó có các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Những năm qua, công tác bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở cộng đồng đã được quan tâm, chú trọng. Chính phủ đã cho phép ngành văn hóa, thể thao và du lịch lập các hồ sơ quốc gia đề cử các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam để được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù. Sự vinh danh của UNESCO đã ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Từ hiệu quả thực tế, UNESCO đã hỗ trợ cho 02 dự án bảo tồn Nhã nhạc Cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

- Các di sản nghệ thuật biểu diễn truyền thống đã được sưu tầm, bảo tồn, lưu giữ tại Ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Viện âm nhạc - Học viện Âm nhạc quốc gia bằng các phương tiện khoa học - công nghệ tiên tiến.

2. Những hạn chế

Đối với các đơn vi nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp

- Nhận thức về giá trị của nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng như trách nhiệm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống chưa được đồng đều trong xã hội, trong đó có một bộ phận cán bộ quản lý.

- Công tác quy hoạch các đơn vị nghệ thuật nói chung, các đoàn nghệ thuật truyền thống nói riêng triển khai chậm, hiệu quả chưa cao. Vẫn còn hiện tượng chồng chéo về tổ chức giữa các đoàn nghệ thuật của các địa phương. Không ít địa phương do chưa tìm ra hướng đi, đã tiến hành sáp nhập các đơn vị nghệ thuật trên địa bàn để tinh giản bộ máy và đầu mối quản lý, hoạt động lúng túng, kém hiệu quả. Chủ trương xã hội hóa hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống hiệu quả chưa cao.

- Đội ngũ tác giả sáng tác kịch bản Tuồng, Chèo và Cải lương từ xưa vốn đã ít ỏi, hiếm hoi, nay lại càng hiếm vì phần lớn đã qua đời hoặc tuổi cao. Đội ngũ đạo diễn, đội ngũ diễn viên gặp khó khăn tương tự. Đội ngũ nghiên cứu, lý luận phê bình nghệ thuật biểu diễn truyền thống thưa vắng, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu. Các nghệ sĩ, nghệ nhân tài năng hiện còn sống tuổi đã cao (trên 70-80 tuổi).

- Hầu hết các đơn vị nghệ thuật truyền thống chuyên nghiệp đang bế tắc về phương pháp bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, việc bảo tồn chủ yếu thực hiện bằng các hình thức: lưu giữ bằng băng đĩa, tác phẩm tại đơn vị, ít được quảng bá, chưa phát huy được chức năng giáo dục nhận thức của người dân về bản sắc văn hóa dân tộc, thông qua nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Công tác đào tạo diễn viên, đạo diễn nghệ thuật biểu diễn truyền thống đang có nhiều bất cập. Nội dung giáo trình giảng dạy chưa được bổ sung tư liệu khai thác từ các nghệ nhân, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống. Do đặc thù đòi hỏi cao về năng khiếu, nên số lượng người dự thi vào học các ngành nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong các trường văn hóa nghệ thuật không nhiều.

-Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đối với các đơn vị tổ chức biểu diễn nghệ thuật, về chi phí quản lý hành chính, tiền lương, xây dựng tiết mục, bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn, quy định chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm... nhưng một số chính sách đã không còn phù hợp với thực tế, không kịp thời động viên khích lệ các nghệ sĩ, nghệ nhân yên tâm cống hiến do cuộc sống khó khăn.

- Các đơn vị nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp đều có trụ sở và đất do Nhà nước cấp, tuy nhiên chỉ tập trung ở một số đơn vị đóng tại thành phố lớn, còn hơn 80% đơn vị chỉ có nơi làm việc, nơi luyện tập ở mức khiêm tốn và không có nhà hát riêng để biểu diễn. Phần lớn các nhà hát, điểm diễn chưa được đầu tư tương xứng, trang thiết bị không đồng bộ, chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của khán giả.

- Trong công chúng, nhất là lớp trẻ, sự say mê, ưa thích nghệ thuật biểu diễn truyền thống có chiều hướng giảm sút.

- Kinh phí hoạt động nghệ thuật được tăng lên hàng năm song vẫn còn quá eo hẹp so với yêu cầu và bị dàn trải. Ngân sách dành cho sáng tác và biểu diễn của các đơn vị nghệ thuật truyền thống không nhiều, chỉ đủ cho các khoản chi phí thường xuyên, mà không có kinh phí cho hoạt động bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Hoạt động giao lưu nghệ thuật trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống được chú trọng, nhưng chưa có chiến lược và sự đầu tư thích đáng cho việc biểu diễn nghệ thuật truyền thống ở nước ngoài, nên hiệu quả của việc giới thiệu nghệ thuật biểu diễn truyền thống với bạn bè quốc tế chưa cao.

- Đối với nghệ thuật biểu diễn truyền thống không chuyên nghiệp - Nghệ thuật biểu diễn truyền thống không chuyên ở các địa phương nhiều năm qua chủ yếu là tự phát để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng các cơ quan quản lý chưa có chiến lược để phát huy tiềm năng và khai thác hiệu quả...

Lực lượng nghệ nhân chưa được trang bị một cách đầy đủ kiến thức lý luận về bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống nên hiệu quả của công tác này chưa cao, thậm chí còn dẫn tới tình trạng làm biến dạng các tác phẩm.

- Công tác xã hội hóa việc sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong cộng đồng hiệu quả chưa cao. Các thành phần kinh tế chưa thực sự quan tâm đầu tư cho công việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở cộng đồng.

- Đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống mới chi dừng ở việc sưu tầm, lưu trữ với mức kinh phí còn ít, chưa có kinh phí cho quảng bá, phát huy giá trị của các tác phẩm, tác giả, loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

3. Nguyên nhân hạn chế

- Nhận thức về vai trò, giá trị to lớn của nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong xã hội, nhất là giới trẻ chưa sâu sắc, khiến công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống còn nhiều hạn chế;

- Chưa có chiến lược bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống xứng đáng với giá trị to lớn của các loại hình, tác phẩm;

- Quy hoạch nghệ thuật biểu diễn đến năm 2010 triển khai thực hiện chậm; Chưa có chính sách thích hợp để huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia xã hội hoá công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống chưa được đánh giá, phân tích, nghiên cứu, phê bình một cách sâu sắc nên việc bảo tồn, phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở cộng đồng và các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp còn gặp nhiều lúng túng, trở ngại, chưa có giải pháp hiệu quả.

II. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Thành lập Ban soạn thảo

Thực hiện sự chỉ đạo và phân công của Ban chỉ đạo Trung ương triển khai Nghị quyết số 23-NQQ-TW, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối hợp cùng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Đào tạo, Văn phòng Bộ thực hiện soạn thảo đề án.

2. Phường pháp và các bước tiến hành xây dựng Đề án

a) Phương pháp

- Tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin thu thập từ các Cục, Vụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố và các đơn vị nghệ thuật trên toàn quốc; Đề xuất mục tiêu, mục đích của việc xây dựng, triển khai thực hiện.

b) Các bước tiến hành

- Chuẩn bị: xây dựng kế hoạch, đề cương, biểu mẫu thống kê, xin ý kiến; Thu thập tài liệu tham khảo, thông tin của các Cục, Vụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố và các đơn vị nghệ thuật trên toàn quốc; Dự thảo Đề án;

- Báo cáo tiến độ, lấy ý kiến góp ý cho dự thảo; hoàn chỉnh dự thảo và tổ chức thẩm định Đề án;

- Báo cáo lãnh đạo Bộ, các Cục, Vụ, Viện có liên quan.

3. Tổ chức lấy ý kiến

Ban soạn thảo đã xây dựng đề cương và dự thảo Đề án xin ý kiến đóng góp của các thành viên trong Ban soạn thảo, các Cục, Vụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố và các đơn vị nghệ thuật trên toàn quốc.

Ban soạn thảo đã nhận được ý kiến đóng góp của 35 đơn vị gồm: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch các tỉnh Bạc Liêu, Bình Dương, Bình Định, Bình Thuận, Cao Bằng, Đắk Nông, Hà Giang, Hậu Giang, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kon Tum, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ninh, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vinh Long, Yên Bái và các thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Vụ Đào tạo, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Pháp chế, Văn phòng Bộ, Hội Nghệ sĩ Sân khấu, Nhà hát Cải lương Việt Nam, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Nhà hát Tuồng Việt Nam.

Ban soạn thảo đã nhận được ý kiến góp ý của các Bộ: Xây dựng; Ngoại giao; Thông tin và Truyền thông; Tài nguyên và Môi trường Tài chính; Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban Dân tộc (Các Bộ: Nội vụ; Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam không có góp ý, dù Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã gửi công văn đề nghị 02 lần).

4. Tổng hợp ý kiến tham gia góp ý

Hầu hết các ý kiến nhất trí cơ bản với nội dung dự thảo Đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị, đồng thời góp ý, bổ sung một số cụm từ, kỹ thuật văn bản và đề nghị bổ sung một vài vấn đề nội dung để Đề án có chất lượng hơn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tiếp thu nghiêm túc và chỉnh sửa tại Dự thảo đề án. Ba vấn đề mà Ban soạn thảo tiếp thu là: 1) Việc lựa chọn một số loại hình nghệ thuật biểu diễn tiêu biểu của các vùng, miền, các dân tộc để làm hồ sơ quốc gia đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; 2) Tiêu chí lựa chọn để xây dựng các dự án; 3) Dự kiến các nguồn kinh phí thực hiện Đề án. Ba vấn đề mà Ban soạn thảo không tiếp thu là: 1) Không ghi khái toán kinh phí của Đề án vào văn bản: đây là vấn đề cần thiết đế xác định hiệu quả của việc đầu tư; 2) Vai trò của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước, giữ vai trò định hướng, hoạch định chính sách, còn địa phương là chủ thể thực hiện chính: Ban soạn thảo thấy rằng quan niệm đó là đúng, nhưng chưa đủ, bởi một số di sản văn hóa phi vật thể là đối tượng của Đề án nằm trên địa bàn nhiều tỉnh khác nhau (Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ...) thì không thể giao cho một địa phương được; khả năng chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ cơ sở đa phần là tốt, nhưng chưa đủ "sức" gánh vác công việc; vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống cần có vai trò của các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; 3) Kiến nghị của Bộ Tài chính không ghi nhiệm vụ của Bộ Tài chính trong Đề án và Quyết định phê duyệt của Thủ tướng: bởi các đề án phải có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các Ban, Bộ, Ngành Trung ương.

III. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Các văn bản chỉ đạo của Đảng

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII;

Nghị quyết số 23-NQ-TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị (Ban chấp hành Trung ương khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới.

- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;

- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011);

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam đến năm 2020 đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua.

2. Văn bản pháp lý

- Luật Di sản văn hoá ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

- Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg ngày 28 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến năm 2010;

- Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020;

IV. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Nâng cao nhận thức trong cộng đồng, các nhà quản lý về giá trị, vai trò của nghệ thuật biểu diễn truyền thống, từ đó xác định trách nhiệm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống để nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật biểu diễn truyền thống thực sự là tinh hoa văn hóa dân tộc.

2. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống nhằm giữ gìn và phát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam phong phú về loại hình, giàu có về tác phẩm, đa dạng về phong cách, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

3. Đổi mới công tác đào tạo diễn viên, nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống ở các trường đào tạo văn hóa nghệ thuật; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng truyền dạy, trao nghề cho thế hệ trẻ ở cộng đồng về nghệ thuật truyền thông.

4. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động biểu diễn và hoạt động bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Huy động tối đa các nguồn lực trong nước và ngoài nước với sự tham gia đóng góp của toàn xã hội.

V. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Phụ lục, nội dung Đề án gồm 3 phần:

Phần 1. Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống

- Bối cảnh chính trị, kinh tế-xã hội tác động đến bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Nguyên nhân.

Phần II. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống

-Quan điểm chỉ đạo:

1. Nâng cao nhận thức trong cộng đồng;

2. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

3. Đổi mới công tác đào tạo diễn viên, nghệ sỹ;

4. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động biểu diễn và bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

- Mục tiêu:

1. Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

2. Tuyên truyền, phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân về giá trị của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

3. Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo và truyền dạy tài năng trẻ;

4. Tổ chức quy hoạch lại các đơn vị nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

5. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các vở diễn có chất lượng nghệ thuật cao.

- Nhiệm vụ:

1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những giá trị của nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc Việt Nam trong cộng đồng;

2. Sưu tầm, lưu trữ các tác phẩm, các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống của 54 dân tộc ở Việt Nam;

3. Phát triển đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn nghệ thuật truyền thống;

4. Thành lập Hội đồng tư vấn quốc gia về nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

5. Tăng cường đầu tư của Nhà nước với hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

6. Xây dựng mới một số nhà hát nghệ thuật truyền thống theo phương châm dân tộc và hiện đại;

7. Tăng cường đầu tư kinh phí trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 2011-2015 và những năm kế tiếp cho hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống;

8. Khẩn trương phục hồi, có biện pháp tích cực bảo vệ một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống có nguy cơ thất truyền để lưu trữ, bảo tồn và quảng bá;

9. Thực hiện phục hồi, phục dựng lại những tác phẩm nghệ thuật truyền thống tiêu biểu;

10. Tăng cường quảng bá, giới thiệu các loại hình nghệ thuật truyền thống ở trong nước và ngoài nước;

11. Xây dựng chương trình gắn kết giữa bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống và phát triển du lịch bền vững;

12. Lựa chọn một số loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống tiêu biểu cho các vùng, các dân tộc, xây dựng lộ trình để làm hồ sơ quốc gia đệ trình UNESCO công nhận vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

13. Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học về nghệ thuật biểu diễn truyền thống ở Trung ương và địa phương.

Phần III. Giải pháp và các dự án báo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống

- Giải pháp:

1. Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong cộng đồng.

2. Xây dựng chính sách ưu tiên đối với các đơn vị nghệ thuật truyền thống và đội ngũ làm nghề trong lĩnh vực này.

3. Thực hiện chính sách ưu tiên đối với hoạt động đào tạo và truyền dạy nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

4. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ kế cận cho nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

5. Tăng cường gắn kết giữa bảo tồn, phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống với phát triển du lịch bền vững.

6. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật trình diễn truyền thống.

7. Phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp.

- Các dự án thành phần:

1. Bảo tồn và phát huy Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.

2. Bảo tồn và phát huy Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

3. Bảo tồn và phát huy Nhã nhạc Cung đình Huế.

4. Bảo tồn và phát huy Ca trù.

5. Bảo tồn và phát huy Hát xoan ở Phú Thọ.

6. Bảo tồn và phát huy Đờn ca tài tử Nam Bộ.

7. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ.

8. Xây dựng các văn bản pháp quy về tổ chức các hoạt động trình diễn truyền thống và các đơn vị nghệ thuật truyền thống. Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách để bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

9. Phổ cập, nâng cao hiểu biết về nghệ thuật trình diễn truyền thống trong cộng đồng.

10. Xây dựng cơ sở vật chất cho các nhà hát biểu diễn nghệ thuật truyền thống ở Trung ương và địa phương.

11. Đổi mới hoạt động đào tạo và truyền dạy nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong nhà trường và cộng đồng.

12. Hỗ trợ các câu lạc bộ, nhóm nghệ nhân không chuyên nghiệp ở các địa phương hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống.

13. Sưu tầm, tư liệu hoá, số hóa dân ca, dân vũ của các dân tộc ở Việt Nam.

14. Phục dựng, lưu trữ, số hóa tác phẩm, tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực nghệ thuật trình diễn truyền thông các dân tộc Việt Nam.

15. Quảng bá nghệ thuật trình diễn truyền thống Việt Nam ở nước ngoài.

16. Trao đổi, học tập kinh nghiệm bảo tồn, phát huy nghệ thuật trình diễn truyền thống của các nước trong khu vực và quốc tế.

Phần IV. Tổ chức thực hiện

- Trách nhiệm của các Bộ ngành.

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

VI. KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

- Tổng kinh phí khái toán: 995.000.000.000đ (Chín trăm chín mươi lăm tỷ đồng).

-Nguồn vốn: Từ nguồn ngân sách nhà nước, huy động các nguồn lực xã hội, sự tham gia, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, quốc tế và các nguồn vốn tài trợ hợp pháp khác, trong đó:

+ Nguồn vốn từ NSNN: 70%

+ Nguồn vốn từ NSĐP: 15%.

+ Nguồn vốn xã hội hóa: 8%

+ Nguồn vốn xin tài trợ của các tổ chức quốc tế và các nước: 7%;

VII. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ ÁN:

Từ năm 2012 đến năm 2020.

Trên đây là nội dung cơ bản của Đề án "Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống đến năm 2020", Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt./.

 

Nơi nhận:

- PTTG CP Nguyễn Thiện Nhân;

- Văn phòng Chính phủ;

- Bộ trưởng, các Thứ trưởng;

- Lưu: VT, Viện VHNTVN, NCB 10 =08.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác