265/TTR-BVHTTDL

BỘ TRƯỞNG Hoàng Tuấn Anh Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

TỜ TRÌNH Nghị định quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Ban Soạn thảo xây dựng Dự thảo Nghị định quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, gửi Dự thảo lấy ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các nhà khoa học và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.

Sau khi nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến đóng góp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉnh sửa, bổ sung hoàn chỉnh Dự thảo Nghị định và xin trình Chính phủ về những nội dung chủ yếu của Dự thảo Nghị định như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

Đến thời điểm hiện nay, cả nước có 10 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 3.054 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, hơn 6.000 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh trên tổng số khoảng 4 vạn di tích được tổng kiểm kê.

Các di tích này là những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, trong đó có nhiều di tích đang cần được bảo quản, tu bổ và phục hồi để phát huy giá trị.

Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trong những năm qua đã được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã được triển khai qua nhiều giai đoạn, nhờ đó hàng nghìn lượt di tích đã được đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi. Nhiều di tích đã và đang trở thành những sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, có sức hấp dẫn khách tham quan ở trong và ngoài nước, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách Nhà nước, đồng thời, tạo thêm việc làm góp phần nâng cao đời sống của nhân dân địa phương như: Vịnh Hạ Long, Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Khu di tích Chăm Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Khu di tích ATK Tân Trào, ATK Định Hóa, Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích Cố đô Hoa Lư, Địa đạo Củ Chi, Thắng cảnh Hương Sơn, Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, Núi Bà Đen, Đền Bà chúa Xứ... Bên cạnh kinh phí đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho việc tư bổ, tôn tạo di tích cũng ngày một tăng lên, do đó nhiều di tích và danh lam thắng cảnh được tu bổ, tôn tạo, nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống được phục hồi và tổ chức tại di tích, góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Hoạt động tu bổ di tích từng bước đi vào nề nếp và tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định của pháp luật. Việc thẩm định về chuyên môn đối với các dự án đầu tư được làm khả chặt chẽ, góp phần nâng cao chất lượng tu bổ di tích.

Để tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được và ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích - một lĩnh vực hoạt động chuyên ngành, có nhiều nét đặc thù, khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, Quốc hội đã quyết định giao: chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục tập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích" (khoản 15, Điều l). Vì vậy, việc xây dựng và ban hành Nghị định này là hết sức cần thiết.

II. NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH

1. Các quy định pháp luật của Nhà nước

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10.

Luật tổ chức Chỉnh phủ số 32/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001.

- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008.

- Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009.

Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 .

- Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2009.

2. Căn cứ hoạt động thực tiễn

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được thì thực tiễn hoạt động bản quản, tu bổ, phục hồi di tích đang đặt ra những yêu cầu đòi hỏi phải tăng cường việc quản lý và nâng cao hơn nữa chất lượng chuyên môn. Hiện nay, do đội ngũ cán bộ quản lý về tu bổ di tích, đội ngũ cán bộ tư vấn, thiết kế, giám sát, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề về bảo tồn di tích còn mỏng, năng lực không đồng đều, đã dẫn đến chất lượng quản lý và tu bổ di tích chưa đáp ứng những yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhiều địa phương còn quan niệm sai lầm, cho rằng công tác tu bổ, tôn tạo di tích chỉ như các hoạt động xây dựng cơ bản đơn thuần, từ đó dẫn đến việc phân cấp cho cấp huyện, thậm chí là cấp xã làm chủ đầu tư một số công trình tu bổ di tích, trong khi lực lượng cán bộ chuyên môn của cấp huyện, xã về lĩnh vực này rất ít kinh nghiệm, làm ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn.

Trên thực tế, hiện nay cũng còn nhiều di tích bị sửa chữa sai quy cách, nhất là các di tích được sửa chữa bằng nguồn kinh phí xã hội hóa, do buông lỏng quản lý, do sự thiếu hiểu biết của chính quyền và nhân dân ở các địa phương, của những người trụ trì đền, chùa và cả đơn vị thi công, nhất là việc do chỉ muốn thay mới toàn bộ các cấu kiện kiến trúc cho bền chắc nên phản đối việc áp dụng các biện pháp nối vá, gắn chắp...; muốn di tích được "xứng tầm" hoặc vì chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến làm mới di tích; việc tu bổ di tích còn đơn thuần dựa vào kinh nghiệm, nhiều trường hợp không căn cứ vào luật và các văn bản dưới luật, kết quả là di tích gốc bị biến dạng, nhất là đối với các di tích kiến trúc nghệ thuật.

Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích là một lĩnh vực quan trọng của công tác bản tồn di tích. Muốn di tích tồn tại lâu dài thì rất cần được thường xuyên bảo quản và định kỳ tu bổ. Hoạt động tu bổ di tích từ trước đến nay ở nước ta vẫn chủ yếu áp dụng các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng từ khâu lập quy hoạch cho đến lập dự án và trong thực tế đã bộc lộ một số bất cập.

Về quy hoạch, trước đây quy hoạch di tích được áp dụng theo quy định của Luật xây dựng và Nghị định số 08/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quy hoạch xây dựng. Nhưng các văn bản này chỉ quy định về quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn mà chưa có quy định về quy hoạch di tích lịch sử - văn hóa. Việc lập dự án bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích cũng được áp dụng theo quy định của Luật xây dựng và Nghị định số 16/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Nghị định số 112/2006/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005NĐ-CP. Do đặc thù của hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích cho nên khi áp dụng những quy định trên đã gặp một số khó khăn như việc triển khai công tác khảo sát trước khi lập đồ án quy hoạch, dự án và khảo sát, nghiên cứu trong quá trình thi công tu bổ di tích… Hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là một khoa học chuyên ngành, mang nhiêu nét đặc thù, vì lẽ đó, cần phải có quy định riêng cho hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích. Tuy nhiên, những quy định của Dự thảo Nghị định này chỉ quy định một số nội dung đặc thù. Khi thực hiện dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích vẫn phải áp dụng các quy định có liên quan của pháp luật về xây dựng.

3. Căn cứ khoa học

Đối với các nước phát triển, hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là một ngành khoa học có lịch sử khá lâu đời. UNESCO đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến lĩnh vực này: Năm 1931, Hiến chương Athens về trùng tu di tích lịch sử đã được ban hành; năm 1964 ban hành Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ; năm 1987 ban hành Hiến chương về bảo vệ thành phố và đô thị lịch sử; năm 1990 có Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học; năm 1994 có Văn kiện Năm về tính xác thực; năm 1999 Nguyên tắc bảo tồn các kiến trúc lịch sử bằng gỗ được ban hành… Hệ thống lý luận về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích rất đa dạng, các tổ chức quốc tế và các viện nghiên cứu về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được thành lập ở nhiều nước như Mỹ, Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc…và đã có nhiều hoạt động hợp tác, hỗ trợ đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam. Đức rút những nguyên tắc khoa học của thế giới thành một số quy định của pháp luật, nhưng bảo đảm phù hợp với thực tiễn Việt Nam là một trong những cơ sở quan trọng để soạn thảo Nghị định này.

Do đó, việc ban hành Nghị định sẽ cụ thể hóa những vấn đề còn vướng mắc, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, phục vụ có hiệu quả quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Ban Soạn thảo Nghị định quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, gồm các cán bộ chuyên môn về các lĩnh vực quản lý về di sản văn hóa, pháp luật, xây dựng, tài chính.

Ban Soạn thảo đã khẩn trương nghiên cứu xây dựng Dự thảo Nghị định.

Ngày 20 tháng 8 năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã gửi Dự thảo Nghị định lấy ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 24 tháng 9 năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức Hội thảo xin ý kiến các nhà khoa học thuộc lĩnh vực: sử học, khảo cổ học, bảo tồn, bảo tàng, kiến trúc, xây dựng và các cán bộ quản lý nhiều kinh nghiệm trong ngành di sản văn hóa.

Hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến góp ý bổ ích cho việc hoàn thiện Dự thảo.

Từ ngày 25 tháng 8 năm 2010, Dự thảo Nghị định đã được đăng tải toàn văn trên các trang thông tin điện tử của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (http://www.bvhttdl.gov.vn và http://www.cinet.gov.vn) để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể nghiên cứu và trực tiếp góp ý.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Dụ lịch đã tiến hành chỉnh sửa, bổ sung Dự thảo Nghị định trên cơ sở tổng hợp, tiếp thu văn bản góp ý của các Bộ, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các nhà khoa học và các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Ngày 10 tháng 11 năm 2010, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã gửi Dự thảo Tờ trình và Dự thảo Nghị định xin ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, và ngày 03 tháng 12 năm 2010, Bộ Tư pháp đã có văn bản thẩm định (Công văn số 4243/BTP-PLHSHC).

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã thực hiện đúng quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, nghiêm túc tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các tổ chức, cá nhân và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp để chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện Dự thảo Nghị định.

IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH

Dự thảo Nghị định quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích gồm 04 chương, 25 điều. Nội dung cụ thể của Dự thảo Nghị định như sau:

Chương I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Chương này gồm 05 điều, từ Điều 1 đến Điều 5, quy định những vấn đề có tính nguyên tắc chung, bao gồm: phạm vi điều chỉnh của Nghị định; giải thích những khái niệm chính trong công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; nguyên tắc cơ bản trong công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân trong việc quy hoạch di tích và bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; kinh phí lập quy hoạch di tích. Các điều của Chương này có nội dung cụ thể như sau:

Điều 1 Quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định, cụ thể:

“Nghị định này quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích).

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam khi tiến hành các hoạt động lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trên lãnh thổ Việt Nam.".

Điều 2 quy định về các khái niệm chuyên ngành trong lĩnh vực bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, bao gồm: 1) Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; 2) Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; 3) Báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; 4) Quy chuẩn bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; 5) Tiêu chuẩn bảo quản, tu bổ phục hồi di tích. Việc quy định rõ nội dung các khái niệm chuyên ngành này nhằm tạo sự thông nhất về nhận thức liên quan đến việc lập và phê duyệt quy hoạch, dự án về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

Điều 3 quy định về nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, cụ thể là:

“1.  Tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng, di sản văn hóa, các Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các quy định pháp luật khác có liên quan.

2. Phù hợp với mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và quy hoạch phát triển các ngành trong phạm vi khu vực quy hoạch, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển trong khu vực.

3. Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải được lập, phê duyệt với định hướng lâu dài từ 10 năm đến 20 năm để làm cơ sở cho các hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải được định kỳ xem xét điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn bảo vệ di tích và tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.

4. Quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải xuất phát từ nhiệm vụ giữ gìn tối đa các yếu tố gốc của di tích để phát huy giá trị. Đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp về không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, môi trường cảnh quan trong khu vực quy hoạch, dự án.

5. Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và phù hợp với quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

6. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ và phát huy giá trị dí tích. " Điều 4 của Dự thảo Nghị định quy định về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân trong việc quy hoạch di tích và bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, cụ thể:

"1. Tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch di tích, lập dự án tu bổ di tích, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích, lập thiết kế kỹ thuật thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật về xây dựng.

2. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định chi tiết điều kiện chuyên môn của tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện lập quy hoạch di tích, lập dự án tu bổ di tích, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích, lập thiết kế kỹ thuật thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích."

Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, các tổ chức, cá nhân dù chủ trì hoặc tham gia đều phải có trình độ chuyên môn chuyên ngành phù hợp, đồng thời phải có kinh nghiệm thực tế cần thiết. Do đó, Nghị định này giao thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cụ thể hóa các điều kiện đối với tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch, dự án tu bổ di tích.

 Điều 5 của Dự thảo Nghị định quy định về kinh phí lập quy hoạch di tích, cụ thể: "Kinh phí lập quy hoạch di tích được cân đối từ nguồn kinh phí sự nghiệp hàng năm của ngân sách địa phương, ngân sách của Bộ, ngành được giao quản lý di tích và các nguồn tài trợ hợp pháp khác.".

Do từ trước đến nay, đây là lần đầu tiên Chính phủ ban hành Nghị định riêng quy định về hoạt động lập, phê duyệt quy hoạch tu bổ di tích. Đồng thời, cáo văn bản pháp luật khác của Chính phủ về quy hoạch và đầu tư xây dựng công trình đều quy định rõ về kinh phí lập quy hoạch. Vì vậy, cần phải đưa quy định này vào Nghị định để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích có căn cứ pháp lý bố trí kinh phí triển khai lập quy hoạch di tích.

Chương II. QUY HOẠCH BẢO QUẢN, TU BỔ, PHỤC HỒI DI TÍCH

Chương này gồm 10 điều, từ Điều 6 đến Điều 15, quy định những vấn đề liên quan đến quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, tập trung vào các vấn vẩn: phân loại quy hoạch; trình tự lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch; nhiệm vụ quy hoạch; nội dung từng loại quy hoạch; thẩm định, phê duyệt quy hoạch; hồ sơ quy hoạch; điều chỉnh quy hoạch và quản lý quy hoạch. Các điều của chương này có nội dung cụ thể như sau:

Điều 6 quy định về việc phân loại quy hoạch. Căn cứ yêu cầu của thực tiễn quản lý di tích, nội dung điều này quy định hai loại quy hoạch, gồm: quy hoạch đối với toàn bộ di tích trong phạm vi cấp tỉnh, gọi là quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ thông di tích (gọi chung là quy hoạch hệ thống di tích), và quy hoạch đối với một di tích quốc gia đặc biệt hoặc một cụm (quần thể) di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh, gọi là quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (gọi chung là quy hoạch tổng thể di tích). Theo đó, quy hoạch hệ thống di tích chỉ đưa ra định hướng lớn, cơ bản (không đưa phương án chi tiết) nhằm làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và triển khai kế hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trên phạm vi địa bàn cấp tỉnh một cách chủ động, có tính toán trên cơ sở điều tra, khảo sát kỹ lưỡng. Trước đây, Thủ tướng Chính phủ đã ủy quyền Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quy hoạch tổng thể hệ thống di tích lịch sử ở cấp tỉnh, thì đến nay hầu hết vẫn chưa xây dựng được quy hoạch hệ thống di tích có trên địa bàn. Vì vậy, nay rất cần có quy định hướng dẫn ở Nghị định này.

Loại quy hoạch thứ hai là quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đối với một di tích quốc gia đặc biệt hoặc cụm di tích tạo thành một quần thể phân bố trong cùng một khu vực địa lý, có mối quan hệ mật thiết về lịch sử, văn hóa, khoa học. Quy hoạch này sẽ đưa ra các phương án cụ thể trong công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Loại quy hoạch này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ở một số di tích như Cố đô Huế, Khu di tích đền tháp Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long…và sắp tới sẽ là Quy hoạch Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Điều 7 quy định về trình tự lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Trình tự này chính là các quy định bắt buộc chủ đầu tư, các tổ chức cá nhân khi lập quy hoạch cần phải tuân theo trình tự này.

Điều 8 quy định về nhiệm vụ quy hoạch hệ thống di tích.

Điều 9 quy định về nội đúng quy hoạch hệ thống di tích.

Điều 10 quy định về nhiệm vụ quy hoạch tổng thể di tích.

Điều 11 quy định về nội dung quy hoạch tổng thể di tích.

Về cơ bản, nội dung các Điều 7, 8, 9, 10 và 11 trên đây đều được thiết kế trên cơ sở tuân thủ những quy định chung của pháp luật về quy hoạch xây dựng, từ đó áp dụng và cụ thể hóa vào lĩnh vực quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Từ những quy định này, một số vấn đề liên quan và thể hiện tính đặc thù của quy hoạch di tích đã được thể hiện như: quy định về việc cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích; phương hướng, nguyên tắc, giải pháp cơ bản đối với việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; việc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan di tích (bao gồm cả kiến trúc cảnh quan vốn có của di tích và kiến trúc cảnh quan được hình thành trong quá trình tôn tạo di tích); việc bảo tồn những yếu tố gốc cấu thành di tích và việc xây dựng mới những công trình phục vụ việc phát huy giá trị di tích; việc đề xuất kế hoạch xếp hạng di tích đối với đối tượng có dấu hiệu là di tích đã được đưa vào danh mục kiểm kê di tích…

Điều 12 quy định thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích và quy hoạch di tích, cụ thể:

"1. Thẩm quyền lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích và quy hoạch di tích:

a) Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch tổng thể di tích, đồ án quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt;

b) Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: phối hợp với Bộ, ngành liên quan để đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt và đồ án quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt; thỏa thuận chủ trương, thẩm định nhiệm vụ quy hoạch hệ thống di tích, đồ án quy hoạch hệ thống di tích, nhiệm vụ quy hoạch tổng thể di tích quốc gia, đồ án quy hoạch tổng thể dí tích quốc gia;

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thỏa thuận chủ trương, phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích, đồ án quy hoạch di tích không thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ hoặc Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích.

Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích phê duyệt quy hoạch tổng thể di tích thuộc thẩm quyền quản lý.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch di tích thuộc thẩm quyền.

2. Thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích và quy hoạch di tích:

a) Đối với di tích quốc gia đặc biệt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ đến người có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch tổng thể di tích và đồ án quy hoạch tổng thể di tích quy định tại điểm a, điểm b, khoản 1 Điều này.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kề từ ngày nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ hợp lệ, người có thẩm quyền quy định tại điểm a, điểm b, khoản 1 Điều này có trách nhiệm xem xét thỏa thuận hoặc phê duyệt chủ trương, thẩm định hoặc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch tổng thể di tích, thẩm định hoặc phê duyệt đồ án quy hoạch tổng thể di tích theo thẩm quyền.

b) Đối với di tích quốc gia, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ đến người có thẩm quyền thỏa thuận chủ trương, thẩm định nhiệm vụ quy hoạch di tích quốc gia, đồ án quy hoạch di tích quốc gia quy định tại điểm b, khoản 1 Điều này.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ hợp lệ, người có thẩm quyền quy định tại điểm b, khoản 1 Điều này có trách nhiệm xem xét thỏa thuận chủ trương, thẩm định nhiệm vụ quy hoạch di tích quốc gia, đồ án quy hoạch di tích quốc đồ án quy hoạch di tích thuộc thẩm quyền.

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thỏa thuận chủ trương, phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích và đồ án quy hoạch di tích thuộc thẩm quyền theo đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

d) Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích thuộc thẩm quyền theo đề nghị của người đứng đầu cơ quan quản lý di tích trực thuộc và ý kiến thỏa thuận của người có thẩm quyền quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều này.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản và hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích có trách nhiệm phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch di tích, đồ án quy hoạch di tích thuộc thẩm quyền quản lý.

3. Trường hợp lập quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt mà di tích đó gồm nhiều điểm phân bố trên địa bàn nhiều tỉnh thì Thủ tướng Chính phủ quyết định việc chọn địa phương chịu trách nhiệm chủ trì lập quy hoạch. Đối với trường hợp lập quy hoạch tổng thể không phải là di tích quốc gia đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định."

Các quy định của Điều này vừa thể hiện rõ quan điểm phân cấp rõ ràng, cụ thể thẩm quyền của các cấp, các ngành đối với việc lập, thẩm định và phê duyệt chủ trương, nhiệm vụ quy hoạch và quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích theo quy định của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, vừa sát hợp với thực tiễn. Đây chính là cơ sở để thực hiện việc đổi mới nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc triển khai quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, đồng thời đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Điều 13 quy định hồ sơ quy hoạch di tích. Điều này quy định cụ thể các loại hồ sơ cần phải cỏ khi tập quy hoạch hệ thống di tích và quy hoạch tổng thể di tích. Tên gọi, số lượng và tỷ lệ các loại bản đồ của hai loại quy hoạch trên đã được tính toán cụ thể, dựa trên các quy định về nội dung của từng loại quy hoạch và quy định về các loại bản đồ quy hoạch của Luật xây dựng. Trong Điều này có một số loại bản đồ phản ánh đặc thù về quy hoạch bảo tồn di tích, đó là các bản đồ quy định các vùng di tích trọng điểm, các khu vực bảo vệ, cắm mốc giới di tích, khu vực cần giải tỏa vi phạm…mà trong các loại quy hoạch khác không quy định.

Điều 14 quy định việc điều chỉnh quy hoạch di tích. Điều này quy định ba trường hợp cho phép điều chỉnh quy hoạch di tích đã được phê duyệt là: Khi điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh có ảnh hưởng đến di tích; khi có sự thay đổi về địa giới hành chính hoặc điều kiện địa lý, tự nhiên; khi có sự thay đổi hoặc có sự phát hiện mới về di tích trong khu vực quy hoạch là quy định cần thiết và mang tính đặc thù, vì nhiều di tích khi được xếp hạng chưa đủ điều kiện để làm rõ và xác định được hết yếu tố gốc phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Ví dụ: không phải bất cứ di tích khảo cổ nào khi được xếp hạng đều có thể được khai quật khảo cổ toàn diện, hoặc do tính cấp thiết, hoặc do chưa có đủ điều kiện về con người, về tư liệu khoa học, về kinh phí phục vụ việc khai quật và việc phải bảo vệ hiện vật và địa điểm khảo cổ sau khai quật …

Điều 15 quy định về việc quản lý quy hoạch di tích. Điều này quy định giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích chịu trách nhiệm quản lý và thực hiện quy hoạch di tích sau khi quy hoạch di tích được phê duyệt.

Chương III. DỰ ÁN BẢO QUẢN, TU BỔ, PHỤC HỒI DI TÍCH

Chương này gồm 08 điều, từ Điều 16 đến Điều 23, quy định về dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, tập trung vào các vấn đề: trình tự, thẩm quyền lập, thẩm định, phê duyệt dự án; nội dung dự án; thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt dự án hồ sơ dự án; điều chỉnh dự án. Các điều của Chương này có nội dung cụ thể như sau:

Điều 16, Điều 17, Điều 18 và Điều 19 quy định về nội dung dự án, hồ sơ dự án, trình tự, thẩm quyền lập, thẩm định, phê duyệt dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích. Về cơ bản, nội dung các điều trên đây đều được thiết kế trên cơ sở tuân thủ những quy định chung của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng, từ đó áp dụng và cụ thể hóa vào lĩnh vực lập dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Từ những quy định này, một số vấn đề liên quan và thể hiện tính đặc thù của dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đã được thể hiện như: khảo sát, thu thập tài liệu về di tích và những vấn đề liên quan đến di tích; phương án bảo quản, tu bổ, phục hồi từng hạng mục di tích; phương án bảo vệ hiện vật trong quá trình thi công; phương án phòng chống mối mọt; lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân về dự án; xác định các quan điểm, nguyên tắc bảo quản, tư bổ, phục hồi di tích; phương án thiết kế; giải pháp, công nghệ, vật liệu sử dựng và hồ sơ kèm theo.

Điều 20 quy định thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích và dự án tu bổ di tích, cụ thể:

"1. Thẩm quyền lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích và dự án tu bổ di tích:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng Bộ, ngành được gian trực tiếp quản lý di tích phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích, dự án tu bổ di tích và có trách nhiệm tổ chức lập dự án tu bổ di tích thuộc thẩm quyền quản lý;

b) Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thỏa thuận chủ trương lập dự án tu bổ di tích, thẩm định dự án tu bổ di tích quốc gia đặc biệt, dự án tu bổ di tích quốc gia;

c) Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thỏa thuận chủ trương lập dự án tu bổ di tích, thẩm định dự án tu bổ di tích cấp tỉnh.

2. Thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích và dự án tu bổ di tích:

a) Đối vơi di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ đến Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thế thao và Du lịch.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm xem xét thỏa thuận chủ trương lập dự án tu bổ di tích hoặc thẩm định dự án tu bổ di tích.

b) Đối với di tích cấp tỉnh thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích hoặc phê duyệt dự án tu bổ di tích.

c) Đối với di tích cấp tỉnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, ngành, Thủ trưởng cơ quan được giao trực tiếp quản lý di tích gửi văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ và văn bản thẩm định của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ hợp lệ, Thủ trưởng Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý di tích có trách nhiệm phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích hoặc phê duyệt dự án tu bổ di tích.

3. Thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật được thực hiện như quy định thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích, dự án tu bổ di tích tại Điều này".

Quy định của Điều này đã phân cấp cụ thể trách nhiệm giữa trung ương và địa phương trong việc quản lý tu bổ di tích, là cơ sở để thực hiện việc đổi mới nhằm nâng cao chất lượng của việc triển khai dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, đồng thời đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Điều 21 quy định về Hồ sơ trình phê duyệt dự án tư bổ di tích. Đây là các quy định để cơ quan phê duyệt dự án tu bổ di tích có căn cứ tiếp nhận hồ sơ phê duyệt dự án tu bổ di tích, đồng thời tạo điều kiện để chủ đầu tư chủ động hoàn thiện đầy đủ những hồ sơ cần thiết trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Điều 22 quy định về việc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Nội dung Điều này quy định cụ thể về trường hợp chủ đầu tư không phải lập dự án, mà chỉ phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ phục hồi di tích khi chỉ gia cố, sửa chữa nhỏ ít ảnh hưởng tới yếu tố gốc cấu thành di tích hoặc khi xây dựng công trình mới phục vụ bảo vệ và phát huy giá trí di tích nhằm cụ thể hóa quy định về "trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích thì không phải lập dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi, được quy định tại khoản 15, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dí sản văn hóa.

Điều 23 quy định điều chỉnh dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích…Việc điều chỉnh thực hiện trong các trường hợp: có quy định mới của pháp luật về xây dựng, về di sản văn hóa; có phát hiện mới về di tích; có sự điều chỉnh lớn về quy hoạch và phương án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, xuất hiện yếu tố tác động mới của môi trường có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng tới di tích.

Chương IV. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Chương này gồm 02 điều, Điều 24 và Điều 25, quy định về tổ chức thực hiện; hiệu lực thi hành. Nội dung các Điều của Chương này cụ thể như sau: Điều 24 quy định về tổ chức thực hiện. Thủ tướng Chính phủ giao trách nhiệm cho các Bộ, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các quy định của Nghị định này. Đồng thời, quy định các quy hoạch, dự án đã được phê duyệt trước khi Nghị định này có hiệu lực thì không phải phê duyệt lại.

Khoản 2 Điều 24 quy định về định mức chi phí lập quy hoạch di tích, dự án tu bổ di tích, báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích, thiết kế kỹ thuật thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, cụ thể: "Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành định mức chi phí lập quy hoạch di tích, lập dự án tu bổ di tích, lập báo cáo kinh tế kỹ thuật tu bổ di tích, tập thiết kể kỹ thuật thi công tu bổ di tích.". Do tính đặc thù của việc lập quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, nên rất cần thiết có quy định về định mức chi phí đặc thù cho công việc này. Tuy nhiên, định mức chi phí là những quy định hết sức cụ thể, chi tiết và thường được ban hành dưới hình thức một văn bản Thông tư. Trong trường hợp này, định mức chi phí lập quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành (Thông tư liên tịch) là phù hợp.

Điều 25 của Dự thảo Nghị định quy định hiệu lực thi hành của Nghị định này.

V. VỀ VIỆC TIẾP THU Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN

Các ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các nhà khoa học đã được Ban Soạn thảo nghiêm túc tiếp thu thể hiện trong nội dung Dự thảo Nghị định.

Ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp tại Công văn số 4243/BTP-PLHSHC ngày 03 tháng 12 năm 2010 đã được Ban Soạn thảo tiếp thu thể hiện trong Dự thảo Nghị định và giải trình một số nội dung có liên quan.

Bản tổng hợp ý kiến góp ý và Báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến góp ý Dự thảo Nghị định và Bảo cáo giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp được gửi kèm Tờ trình này.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.

 

Nơi nhận:

- Như trên;

- Các PTTg CP (để b/c);

- Văn phòng CP (để phối hợp);

- Bộ Tư pháp (để phối hợp);

- Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh;

- Thứ trưởng Lê Khánh Hải (để biết);

- Lưu: VT, DSVH (05), PC, TĐT.20.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác