4126/QĐ-BVHTTDL

KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG - Lê Khánh Hải Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

QUYẾT ĐỊNH Về việc phê duyệt Đề án trưng bày "Không gian Việt Nam" tại Nhà Châu Á, Cuba

BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Căn cứ Quy chế hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 83/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Căn cứ Công văn số 398/VPCP-QHQT của Văn phòng Chính phủ về việc triển khai kết quả Kỳ họp lần thứ 27 Ủy ban Liên chính phủ Việt Nam - Cuba;

Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế và Giám đốc Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam,

 

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án trưng bày "Không gian Việt Nam" tại Nhà Châu Á, Trung tâm Lịch sử Thành phố La Habana, Cộng hoà Cuba.

1. Tên đề án: Không gian Víệt Nam tại Nhà Châu Á, Cuba.

2. Đơn vị thực hiện: Trung tâm Triển lãm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam.

3. Địa điểm trưng bày: tại Nhà Châu Á, Trung tâm Lịch sử Thành phố La Habana, Cộng hoà Cuba.

4. Nội dung trưng bày: giới thiệu về văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

- Diện tích trưng bày: 125 m2

- Hình thức trưng bày: hiện vật trưng bày trong tủ kính, bục bệ, treo tường và thuyết mình hiện vật.

5. Dự toán tổng mức đầu tư: 997.400.000Đ

(Bằng chữ: Chín trăm chín mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng chẵn)

6. Thời gian khánh thành: ngày 02 tháng 12 năm 2010 nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba.

Điều 2. Về kinh phí: Trung tâm Triển lãm Văn hoá Nghệ thuật Víệt Nam chi thiết kế, chuẩn bị nội dung, sưu tầm mua hiện vật, thiết bị trưng bày, bồi dưỡng chuyên gia văn hoá, đóng gói, vận chuyển, bảo hiểm gửi hiện vật và các chi phí khác có liên quan trích từ nguồn kinh phí sự nghiệp của Trung tâm năm 2010).

Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Giám đốc Trung tâm Triển lãm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

Nơi nhận:

-Như điều 3;

-Bộ trưởng, Hoàng Tuấn Anh (để b/c);

-Lưu: VT, HTQT, PTT.08.


ĐỀ ÁN TRƯNG BÀY KHÔNG GIAN VIỆT
NAM"

TẠI NHÀ CHÂU Á, THÀNH PHỐ LA HABANA, CUBA

(Kèm theo Quyết định số 4126QĐ-/BVHTTDL)

 

Thực hiện Công văn số 2144/BVHTTĐL ngày 23 tháng 6 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam về việc giao Trung tâm Triển lãm VHNT Việt Nam chủ trì, phối hợp với Vụ Kế hoạch Tài chính và Cục Hợp tác Quốc tế xây dựng kế hoạch trưng bày "Không gian Việt Nam" tại Nhà Châu Á, Trung tâm lịch sử Thành phố La Habana, Cộng hoà Cuba;

Căn cứ chuyến khảo sát địa điểm và làm việc của Đoàn cán bộ Trung tâm Triển lãm VHNT Việt Nam với Giám đốc Bảo tàng Nhà Châu Á, Cuba ngày 28/5/2010.

Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tại cuộc họp ngày 23/7/2010 yêu cầu xây dựng Đề cương nội dung trưng bày theo tiến trình văn hoá với những giai đoạn văn hoá tiêu biểu.

Trung tâm lên đề cương thực hiện như sau:

I. MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA:

Giới thiệu và quảng bá sâu rộng về Văn hoá Việt Nam, nhằm xúc tiến chương trình quảng bá về một Việt Nam duyên dáng, thanh bình với một nền văn hoá đa dạng, phong phú, một vẻ đẹp tiềm ẩn và phát triển bắt nguồn từ truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần tạo dựng hình ảnh tốt đẹp về Việt Nam trong mắt bạn bè Cu-ba nói riêng và bạn bè Quốc tế nói chung, đồng thời thu hút khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam.

II. NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐỀ ÁN TRƯNG BÀY "KHÔNG GIAN VIỆT NAM "

Văn hoá là một khái niệm có nội hàm và ngoại diện rất rộng và được coi như một tiền đề dẫn đến sự ra đời của nhà nước nhưng lại vận hành theo một quy luật riêng, có cấu trúc đặc trưng riêng. Tiến trình của văn hoá là một quá trình lâu dài không dễ nắm bắt, nhất là với nền văn hoá rất đa dạng nhưng đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam. Trong khuôn khổ rất hạn chế của diện tích trưng bày, các sản phẩm, tác phẩm, hiện vật phản là kết tinh của các loại hình văn hoá, giới thiệu những nét đặc sắc của văn hoá Việt Nam trong phong tục tập quán, trong sinh hoạt đời thường, sinh hoạt văn hoá, trong lễ hội truyền thống, trong thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật, trang phục các dân tộc (ở các thời kỳ giai đoạn văn hoá tiêu biểu).

III. Nội DUNG:

*Tên phòng trưng bày: "Không gian Việt Nam"

* Địa điểm trưng bày: Nhà Châu Á, Trung tâm Lịch sử Thành phố La Habana, Cộng hoà Cu-ba.

* Diện tích trưng bày: 125 m2

* Hình thức trưng bày :

- Hiện vật trưng bày trong tủ kính, bục bệ, treo tường

- Thuyết minh hiện vật

- Kết cấu nội dung: Giới thiệu về Văn hoá Việt Nam

Để giúp người xem dễ dàng nắm bắt nội dung, những nét đặc trưng nhất của Văn hoá Việt Nam sẽ được giới thiệu qua các tiến trình văn hoá sau:

1. Văn hoá Đông Sơn

Văn hoá Đông Sơn là mà giai đoạn trong nền Văn minh sông Hồng, thuộc cuối thời đại đồng, đầu thời đại sắt, được xem là văn hoá vật chất của thời Hùng Vương và An Dương Vương. Kế thừa và phát triển từ Văn hoá Phùng Nguyên, Văn hoá Đông Đậu và Văn hoá Gò Mun, Văn hoá Đông Sơn có những nét độc đáo riêng, đồng thời vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của nền văn minh lúa nước. Thời kỳ này, đồ đồng phát triển nhiều về số lượng, phong phú về chủng loại; đồ gốm trang trí đơn giản đồ sắt đã xuất hiện.

Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của nền Văn hoá Đông Sơn, những trang trí trên trống không chỉ thể hiện kỹ thuật điêu luyện kim đúc đồng đạt đến đỉnh cao mà còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, phản ảnh trí tuệ, tâm hồn của người Việt cổ.

Hiện vật trưng bày: 20 hiện vật ( Phiên bản)

- Trống đồng Đông Sơn

- Dao, mác, dao găm, mũi tên đồng...

2. Văn hoá Sa Huỳnh:.

Hệ thống văn hoá Sa Huỳnh cách ngày nay khoảng 4000 đến 2000 năm.

Đây là một trong ba cái nôi văn hoá cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam.

Cùng với Văn hoá Đông Sơn, Văn hoá Óc Eo, Văn hoá Sa Huỳnh tạo thành tam giác văn hoá của Việt Nam.

Hiện vật trưng bày: 8 hiện vật (Phiên bản)

1. Bình gốm các cỡ (03)

2. Đồ trang sức bằng đá (05)

3. Văn hoá Óc Eo:

Văn hoá Óc Eo cách ngày nay khoảng 1800 năm đến 1000 năm được xem là văn hoá vật chất của Phù Nam và Chân Lạp. Đặc trưng nổi bật là các kiến trúc đền, tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn độ với các tượng Linga, Yoni, Ganesa, Vinus; đồ trang sức bằng vàng và các loại đá quý, đồ gốm rất phát triển.

Hiện vật trưng bày: 6 hiện vật (Phiên bản)

1. Tượng đá, gốm (03)

2. Chuỗi hạt các loại (03)

4. Văn hoá Chăm pa:

Văn hoá Chăm pa mở đầu với nước Lâm Ấp (Chiêm Thành) vào cuối thế kỷ II và tồn tại cho đến thế kỷ XVII thì hoà vào lãnh thổ Việt Nam; dấu tích còn lại là những khu tháp nổi tiếng như: Mỹ Sơn, Ponaga, tháp Mẫm, tháp Đôi. Đồ gốm phát triển với đặc trưng riêng mà tiêu biểu là trung tâm gốm Gò Sành.

Hiện vật trưng bày: 7 hiện vật (đồ phục chế, phiên bản từ các chất liệu đồng, đá, gồm)

1. Tượng vũ nữ (02)

2. Bình gồm (03)

3. Fhù điêu (02)

5. Văn hoá thời Lý - Trần:

Đây là giai đoạn phục hưng của nền văn hoá Đại Việt cổ bản địa, cùng với sự phục hưng, văn hoá Đại Việt thời nay đã trở nên phong phú về các loại hình nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ, văn hoá dân gian đan xen với văn hoá cung đình và phát triển ở một tầm cao mời qua một quá trình tiếp biển và tịch hợp văn hoá trên cơ sở cốt lõi của nền văn hoá Việt Cổ. Có thể nói Văn hoá thời Lý-Trần là giai đoạn văn hoá thịnh đạt nhất của nền văn hoá Đại Việt.

Hiện vật trưng bày:

* Gồm 30 hiện vật (phục chế, giả cổ)

Thạp, ấm, âu, bát đĩa, bình, …thuộc các đồng men:

- Gốm men ngọc

- Gốm hoa nâu

- Gốm men lục

* Múa rối nước: nét văn hoá lúa nước của làng quê Việt Nam -(01 bộ 8 con với chú Tễu, người đi cầy, người đánh cá, dàn nhạc, cô tiên,. .)

* Điêu khắc gỗ: 03 pho tượng phật

6. Văn hoá Thời Lê:

Đây là thời kỳ đất nước ổn định và phát triển mạnh. Một số sản phẩm tiêu biểu cho văn hoá thời kỳ này:

Hiện vật trưng bày: 15 hiện vật phục chế, giả cổ)

- Chân đèn, lư hương: gốm, đồng, bình, bát, đĩa…

- Lụa tơ tằm (70 m)

7. Văn hoá thời Nguyễn:.

Hiện vật trưng bày: 10 hiện vật (phục chế)

- Khảm trai (03)

- Bộ bình vôi: men trắng, men nâu, men lục (văn hoá trầu cau của người Việt)

- Bình gốm (03)

8. Văn hóa Việt Nam sau Cách mạng tháng tám đến nay:

Văn hoá Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến nay tiếp tục phát triển và kế thừa thành tựu của nền văn hoá cổ truyền, chọn lọc tinh hoa của những nền văn hoá tiên tiến, tạo nên một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Hiện vật trưng bày:

* Trưng bày 20 ảnh (kt 40 x 60 cm) về một số danh lam, thắng cảnh, di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của Việt Nam đã được công nhận là di sản văn hoá của nhân loại như: Khuê Văn các, Vịnh Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, Kinh thành Huế, Khu phố cổ Hội An, Khu thánh địa Mỹ Sơn, Giỗ tổ cùng Vương, Hát xoan, Nhã nhạc Cung Đình Huế, Biểu diễn Cồng chiêng Tây Nguyên, ...

* Trình chiếu 3 đĩa hình về Việt Nam - Đất nước - Con người như: đĩa Việt Nam vẻ đẹp tiềm ẩn, đĩa về Vịnh Hạ Long, đĩa các lễ hội truyền thống Việt Nam..

* Mô hình nhà sàn Bác Hồ hoặc nhà Bác Hồ ở Kim Liên

* Tranh đá quý chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh

* Tranh đá quý chân dung Chủ tịch Phi-đen-catx-tơ-rô

IV. NHÔM TRANG PHỤC: (06 bộ)

1. Áo tứ thân kèm nón quai thao)

2. Áo the khăn xếp (kèm ô)

3. Áo dài (nón lá)

4. Trang phục nữ H'Mông (gùi, giỏ)

5. Trang phục nam; nữ Ê-đê (gùi, giỏ, khèn...)

V. NHÓM NHẠC CỤ (4 loại )

1. Đàn đáy: là một loại đặc biệt do người Việt Nam sáng tạo, là loại nhạc khí chỉ có ở Việt Nam. Đàn đáy thường được sử dụng cho hát ả đào cùng với phách, trống trầu và đôi khi đệm cho ngâm thơ. Trong nghệ thuật ca trù của Việt Nam vừa được UNESCO công nhận Di sản văn hoá phi vật thể thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp, cây đàn đáy giữ một vị trí quan trọng .

2. Đàn bầu: tên chữ là Độc huyền cầm, là loại đàn một dây của người Việt. Thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Đàn bầu có mặt phổ biến ở các dàn nhạc dân tộc Việt nam. Đàn bầu không chỉ được người Việt Nam ưa thích mà còn được nhiều khán, thính giả trên thế giới hâm mộ .

3. Bộ cồng chiêng Tây Nguyên (bộ 7). Không gian Văn hoá cồng chiêng của Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

4. Đàn T'rưng: là một loại nhạc khí “thô" được chế tác từ những khúc gỗ bóc vỏ phơi khô hoặc những ống nứa vót một đầu, treo lên một cái giá đủ trở thành một cây đàn gõ "phím" cho một hoặc hai người diễn tấu bằng cách cầm những dùi tre gõ vào phím này. Đàn T'rưng thường được diễn tấu bên trong nhà rông hoặc ngoài trời vào các dịp lễ hội truyền thống hay trong sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc người Banah, Jarai, Êđê...

VI. KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI:

+ Tháng 9-10/2010:

Xây dựng đề cương, lấy ý kiến tham khảo; hoàn thiện đề cương và thiết kế trình Lãnh đạo Bộ ra Quyết định thực hiện

- Sưu tập hiện vật

- Làm hồ sơ của từng hiện vật trưng bày.

- Triển khai công việc chuẩn bị cho bộ sưu tập

* Tháng 11/2010:

- Duyệt nội dung, hiện vật.

- Đóng gói, gửi hàng.

- Đoàn đi công tác Cu ba để trưng bày hiện vật

* Đầu tháng 12/2010: Khai trương phòng trưng bày

VII. KINH PHÍ:

Vụ Kế hoạch, Tài chính làm việc với Bộ Tài chính cấp bổ sung kinh phí cho phòng trưng bày không gian Việt Nam" (có dự trù kinh phí chi tiêu kèm theo).

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác