4344/BVHTTDL-HTQT

KTBT, TT Hồ Anh Tuấn Theo BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH -

Công văn Số: 4344/BVHTTDL-HTQT, ngày 06 tháng 12 năm 2012 Về việc Trả lời khuyến nghị của Ủy ban Công ước Xóa bỏ Phân biệt chủng tộc (CERD)

Kính gửi: Ủy ban Dân tộc

Phúc đáp Công văn số 926/UBDT-HTQT ngày 19 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban Dân tộc về việc trả lời các khuyến nghị của Ủy ban Công ước Xóa bỏ Phân biệt chủng tộc (CERD), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có một số ý kiến liên quan về vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, cụ thể như sau:

Trong số cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, không có dân tộc Khmer Krôm và Đề ga Tây Nguyên.

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ sự tồn tại và bản sắc văn hóa của tất cả các dân tộc ít người trên toàn phạm vi lãnh thổ.

Về chủ trương, chính sách, Việt Nam đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật, đề án, văn bản quan trọng có liên quan như Hiến pháp, Luật Di sản văn hóa, Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020, cũng như triển khai các chương trình, dự án, hoạt động cụ thể, trong đó khẳng định sĩ quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương với công tác bảo tồn, phát huy bản sắc, giá trị văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 1 năm 2011 về công tác dân tộc, Quyết định số 1270/2011/QĐ-TTg ngày 27 tháng 1 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo tồn phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020, trong đó khẳng định chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc Việt Nam, thể hiện ở các nội dung như sau: Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc việt Nam; Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật; Xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng; Đồng bào dân tộc thiểu số; Bảo tồn, phát huy các lễ hội, truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hóa- thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trên diễn đàn quốc tế, Việt Nam là thành viên đầy đủ, tích cực và có trách nhiệm tại Công ước UNESCO 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên, Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Công ước UNESCO 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng các biểu đạt văn hóa. Nhiều di sản văn hóa là điển hình của các dân tộc Việt Nam đã được đệ trình thành công và được UNESCO công nhận là di sản thế giới như Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Ninh (2009), Hát Ca trù (2009) và hát Phú Thọ (2011). Qua đó, cộng đồng quốc tế tăng thêm hiểu biết sâu sắc về một đất nước Việt Nam có lịch sử, truyền thống lâu đời, giầu bản sắc văn hóa, với những giá trị được tích lũy qua nhiều thế kỷ.

Trên đây là một số ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Trân trọng đề nghị Ủy ban Dân tộc tổng hợp, trả lời các khuyến nghị của Ủy ban CERD./.

 

Nơi nhận:

-Như trên;

-Bộ trưởng (để b/c);

-Lưu: VT, HTQT, TQA (6)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác