Bắc Sơn - Lạng Sơn với phong trào xây dựng đời sống văn hóa

Bắc Sơn là huyện vùng cao của tỉnh Lạng Sơn, có tổng diện tích tự nhiên 70.011 ha; với dân số tự nhiên 65.214 người, bao gồm 12 dân tộc chung sống bên nhau tại 20 xã, thị trấn.

Nhà sàn nét đẹp văn hóa của dân tộc Lạng SơnNhà sàn nét đẹp văn hóa của dân tộc Lạng Sơn

Các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện chiếm 88,96%; nghề nghiệp chủ yếu của đại đa số dân tộc là sản xuất nông- lâm nghiệp, sinh sống tại các vùng nông thôn.

Do đặc thù của mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán và tín ngưỡng khác nhau, nên đời sống kinh tế và văn hoá của các dân tộc không đồng đều và còn gặp nhiều khó khăn. Được sự quan tâm của Đảng và các chính sách đầu tư của Nhà nước, trong nhiều năm qua, lĩnh vực kinh tế, xã hội trong vùng dân tộc của huyện Bắc Sơn đã có bước phát triển rõ nét; đặc biệt phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới trong đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những khởi sắc tạo bước chuyển biến sâu sắc góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng quê hương Bắc Sơn giàu đẹp.

Nhận thức đúng đắn về vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số trong khối đại đoàn kết các dân tộc, trong nhiều năm qua, Đảng bộ và Chính quyền huyện đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác dân tộc. Đặc biệt từ khi có Nghị quyết số 23,24,25 và Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh;  công tác tôn giáo, công tác dân tộc trên địa bàn huyện đã và đang thu được nhiều kết quả quan trọng. Các chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình (134, 135), chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; chính sách trợ cước, trợ giá các mặt hàng thiết yếu, được quan tâm  thực hiện và  phát huy được hiệu quả, diện mạo nông nghiệp nông thôn đã có nhiều đổi mới.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” (TDĐK XDĐSVH) được cấp uỷ, chính quyền và MTTQ từ huyện đến các xã chỉ đạo mạnh mẽ. Phong trào đã khích lệ nhân dân các dân tộc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về xây dựng phát triển kinh tế, nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền chuyển giao KHKT, nhân dân các dân tộc đã tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cây trồng, vật nuôi đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế đem lại hiệu quả cao. Nhịp độ tăng trưởng GDP  bình quân 3 năm (2006-2008) đạt 10,33%; thu nhập bình quân đầu người đạt 8,28 triệu đồng, bình quân lương thực đầu người đạt 500kg/ năm; số hộ nghèo toàn huyện giảm từ 25,4% năm 2006 xuống còn 17,67% vào năm 2008. Đối với công tác xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, đến nay 100% xã có đường ô tô đi lại được 4 mùa và có điện lưới quốc gia. Hệ thống chợ xã được phát triển, với 12/20 xã có chợ; trên 95% số hộ có nhà xây và nhà làm bằng gỗ bền vững. Về đời sống văn hoá tinh thần, cơ sở văn hoá và các thiết chế văn hoá, thể thao ngày càng được quan tâm. Toàn huyện có 16/20 sân tập thể thao; 62 nhà văn hoá xã, văn hoá thôn bản. Phong trào văn hoá văn nghệ, TDTT đang từng bước phát triển; đến nay, huyện có 12,7% số người luyện tập TDTT thường xuyên. Trên địa bàn huyện có 9 trạm truyền thanh cơ sở, 1 thư viện huyện và 20/20 tủ sách pháp luật tại các xã thị trấn. Hệ thống bưu chính viễn thông đến 100% số xã. Các quy ước, hương ước thôn bản, việc thực hiện nếp sống văn hoá mới trong việc cưới, việc tang và các lễ hội của từng địa phương được cải tiến phù hợp với những quy định chung. Kết quả phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá và cuộc vận động TDĐK XDĐSVH đã có sức lan toả rộng khắc trong các khu dân cư. Sau nhiều năm triển khai đến hết năm 2008, trên địa bàn huyện đã có 100%  thôn bản hưởng ứng thi đua và thực hiện quy ước; 191/224 thôn bản không có người nghiện ma tuý.
Trong 5 năm (2003-2008) có 50.881 lượt hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá; 540 lượt khu dân cư được công nhân khu dân cư tiên tiến; 157 lượt làng văn hoá.  Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể  từng bước được quan tâm. Về lĩnh vực giáo dục đào tạo,tỷ lệ phòng học được kiên cố hoá đạt 41,96%; tỷ lệ trẻ em 6 tuổi đến trường vào lớp 1 đạt 100%. Năm 1997 huyện hoàn thành chương trình xoá mù  chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, năm 2005 huyện được công nhân phổ cập THCS, năm 2007 được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Toàn huyện có5/48 trường học đạt chuẩn quốc gia. Lĩnh vực y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm 100% xã có cán bộ y tế; trong đó có 80% số xã có bác sĩ ; 97% thôn bản có nhân viên y tế. Về công tác xây dựng cảnh quan môi trường, trong 3 năm gần đây, huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện chương trình nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư 9 công trình nước sinh hoạt tập trung từ nguồn kinh phí hỗ trợ cho 2.068 hộ nghèo là người dân tộc thiểu số được hưởng lợi, cùng với 101 công trình nước sinh hoạt và 333 giếng khoan, nâng tổng số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 88%; trong đó dân tộc thiểu số được hưởng lợi chiếm 79,1%. Công tác vệ sinh môi trường đang từng bước được cải thiện. Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm hơn.

Từ phong trào xây dựng đời sống văn hoá, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc trong huyện được cải thiện; khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố; các hủ tục, tệ nạn xã hội từng bước được loại bỏ. Có được những kết quả trên là nhờ có sự chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và MTTQ và các phòng ban chức năng từ huyện đến cơ sở, nhờ có các chính sách đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện phong trào còn nhiều mặt hạn chế. Để phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới trong các dân tộc phát triển lên một tầm cao mới, các cấp các ngành tiếp tục quan tâm đầu tư hơn nữa tới vùng dân tộc, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng và các dân tộc  trên địa bàn huyện.   

 
Theo LS

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác