Những kết quả đáng ghi nhận từ phong trào xây dựng thiết chế văn hóa tại Thanh Hoá

Trong những năm qua, phong trào xây dựng làng văn hóa trên địa bàn tỉnh không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đặc biệt là công tác xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm đầu tư và đã đạt được kết quả nhất định.

Hội thi thông tin cổ động toàn tỉnh chào mừng các ngày lễ lớn năm 2009 tại huyện Hậu Lộc, tháng 5-2009.Hội thi thông tin cổ động toàn tỉnh chào mừng các ngày lễ lớn năm 2009 tại huyện Hậu Lộc, tháng 5-2009.

Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, các địa phương đã từng bước xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần của người dân ở cơ sở.

Theo ông Ngô Hoài Chung, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) tỉnh, cho biết:  Xác định được tầm quan trọng của những thiết chế văn hóa ở cơ sở, sau khi khai trương xây dựng làng văn hóa, việc đầu tiên là các địa phương đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, đặc biệt là phong trào xây dựng nhà văn hóa (NVH) đã được các địa phương hưởng ứng tích cực. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhiều cơ quan, đoàn thể trong tỉnh đã huy động đóng góp hàng ngàn bản sách cho tủ sách các xã miền núi; phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng ở các địa phương đã thu hút sự quan tâm, đầu tư của các ngành, đoàn thể, doanh nghiệp... và sự đóng góp của nhân dân để tập trung cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới các khu trung tâm văn hóa, phòng đọc sách báo làng, tường rào, khuôn viên, cổng làng, công trình điện chiếu sáng... Trong quá trình xây dựng các thiết chế, nhiều địa phương đã có cách làm hay, sáng tạo, như ban hành nghị quyết của HĐND huyện, có định mức hỗ trợ từ ngân sách đã tiến hành quy hoạch đất xây dựng các thiết chế văn hóa. Đơn cử như huyện Nga Sơn đã có Đề án 102/ĐA-UBND do Chủ tịch UBND huyện ban hành năm 2004 về xây dựng NVH làng. Đến nay, trong số 217 làng văn hóa được khai trương xây dựng thì có gần 80% NVH làng đạt yêu cầu của đề án (diện tích NVH  từ 70 m2 trở lên, khuôn viên trung tâm văn hóa từ 1.000 m2 trở lên).  Nhiều cơ sở trong tỉnh không trông đợi vào sự hỗ trợ của Nhà nước mà chủ động huy động các hộ dân trong thôn xóm đóng góp kinh phí, ngày công để làm NVH, khi công trình hoàn thành mới nhận tiền hỗ trợ. Nhiều NVH làng được xây dựng khang trang với số tiền hàng trăm triệu đồng, như NVH làng Ngư, làng Ốc, xã Thăng Long (Nông Cống); bản Ngàm, xã Sơn Điện (Quan Sơn); các làng ở xã Phú Lộc (Hậu Lộc), làng Yên Khoái, xã Nga Liên (Nga Sơn)... Nhiều xã vùng cao đặc biệt khó khăn nhưng nhân dân đã tích cực đóng góp xây dựng NVH như huyện Thạch Thành, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước... được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn truyền thống, cột xi-măng, lát gạch. Hầu hết các NVH đều được khai thác vào nhiều mục đích như: hội họp, điểm sinh hoạt cho các hội đoàn thể, điểm biểu diễn văn nghệ, thi đấu thể thao, nơi đặt tủ sách... Vì vậy đã phát huy được tính năng động, phục vụ có hiệu  quả, khơi dậy tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng, thắt chặt tình làng, nghĩa xóm... Sau 20 năm xây dựng làng văn hóa, đến nay, toàn tỉnh đã có 4.320/5.863 thôn, làng, bản khai trương xây dựng đơn vị văn hóa đã có NVH,  đáp ứng nhu cầu của người dân trong sinh hoạt, học tập cộng đồng; phần lớn  các làng văn hóa đều được xây cổng theo thiết kế quy mô phù hợp với từng địa phương, nhưng mang đậm nét văn hóa dân tộc.

Song song với xây dựng NVH, cổng làng văn hóa, theo chương trình mục tiêu quốc gia, mỗi năm tỉnh đầu tư cho một số huyện, mỗi huyện từ 6 - 7 bộ trang thiết bị phục vụ hoạt động của các NVH. Hiện trên địa bàn tỉnh, các NVH làng,  thôn, bản cơ bản có đủ trang thiết bị hoạt động. Bên cạnh đó, việc xây dựng, củng cố các đội tuyên truyền lưu động, văn nghệ quần chúng được các địa phương  quan tâm. Toàn tỉnh đã xây dựng được 4.500 đội văn nghệ quần chúng;  2.510 phòng đọc sách, báo làng; 2.400 câu lạc bộ các loại; 1.153 sân bóng đá; 2.929 sân bóng chuyền; 1.950 sân cầu lông; 1.800 bàn bóng bàn... Các đội nghệ thuật quần chúng được thành lập ở từng làng, xã, thường xuyên tập luyện, tham gia biểu diễn trong các ngày lễ hội, các hoạt động của cộng đồng mang lại không khí văn hóa, văn nghệ sôi nổi trong đời sống người dân. Hoạt động của các đội tuyên truyền lưu động dưới hình thức xây dựng các vở kịch ngắn, biểu diễn văn nghệ, tổ chức đi tuyên truyền về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước là một kênh đưa thông tin đến với người dân nhanh, phù hợp, được nhân dân đón nhận.

Những kết quả đạt được trong quá trình xây dựng một hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ của các địa phương trong tỉnh là sự cố gắng,  đáng ghi nhận. Tuy nhiên, là tỉnh đất rộng, người đông, lại có 11 huyện miền núi,  đời sống kinh tế, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn, mặc dù đã được cải thiện nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp nên việc thực hiện cũng còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc đầu tư trang thiết bị cho hoạt động của các NVH chưa được nhiều. Ngoài nguồn của chương trình mục tiêu quốc gia thì chủ yếu các cơ sở tiếp tục huy động đóng góp của nhân dân nhưng không phải nơi nào cũng làm được, nhất là những địa bàn khó khăn vì người dân đã đóng góp xây dựng NVH. Ngoài kinh phí thì việc xây dựng các thiết chế văn hóa ở một số huyện, xã, đặc biệt ở khu vực đô thị cũng đang gặp phải khó khăn khác là không có quỹ đất để xây dựng hội trường thôn, NVH hay sân vận động. Đây cũng là những vấn đề chính quyền các cấp, các  ngành trong tỉnh đang quan tâm.

Trong thời gian tới, cùng với việc đánh giá đúng thực trạng đời sống văn hóa và thiết chế văn hóa trong từng vùng, miền trên địa bàn tỉnh, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng các thiết chế văn hóa mang tính chiến lược lâu dài, làm cơ sở cho chính quyền địa phương có kế hoạch nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, tỉnh đang đề nghị với Trung ương cấp vốn để xây dựng các thiết chế văn hóa trọng tâm của tỉnh. Với số kinh phí hạn chế, nên tỉnh phải “liệu cơm gắp mắm”, ưu tiên cho từng hạng mục và những địa phương khó khăn. Với tinh thần phát huy nội lực, từng bước thực hiện có hiệu quả các mục tiêu xây dựng thiết chế văn hóa ở cơ sở, phấn đấu đến hết năm 2015, 100% thôn, làng, khu phố trong toàn tỉnh có NVH; 70-75% làng, cơ quan văn hóa có phòng đọc sách, báo; 90-95% làng, cơ quan văn hóa có đội nghệ thuật quần chúng và câu lạc bộ.Theo TH

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác