Tây Nguyên: Những kết quả đáng mừng từ phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Những năm qua, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư đã trở thành một phong trào xã hội rộng lớn, được đồng bào khắp cả nước nhiệt tình hưởng ứng. Ở Tây Nguyên cũng vậy, phong trào xây dựng đời sống văn hóa không chỉ phát triển có hiệu quả, mà còn mang những nét văn hóa rất riêng của vùng đất này.

Những điệu nhảy theo nhịp chiêng truyền thống của thanh niên nông thôn Ðác Lắc, nét văn hóa cần lưu giữ.Những điệu nhảy theo nhịp chiêng truyền thống của thanh niên nông thôn Ðác Lắc, nét văn hóa cần lưu giữ.

Mấy năm qua, ở xã Yang Bắc, huyện Ðak Pơ (tỉnh Gia Lai), phong trào gây quỹ đã trở thành một hoạt động sôi nổi của đoàn viên thanh niên, cách làm khá đơn giản mà hiệu quả. Anh Ðinh Răm, Bí thư Ðoàn xã, cho tôi biết: "Các chi đoàn đều được xã cho mượn đất để sản xuất. Chi đoàn ít nhất là 1 ha, chi đoàn nhiều thì  5-6 ha, như chi đoàn làng Jro Dơng hiện đang chăm sóc 3 ha mía và 3 ha bắp sắp cho thu hoạch. Từ đó, hằng năm, mỗi chi đoàn thu nhập vài chục triệu đồng là chuyện bình thường". Với 99% số đoàn viên thanh niên trong xã là đồng bào dân tộc thiểu số, đây là lực lượng lao động chính của một xã thuần nông. Do đời sống còn khó khăn, nên việc đóng góp gây quỹ cho hoạt động của chi đoàn không dễ dàng. "Cái khó ló cái khôn", sáng kiến mượn đất để sản xuất gây quỹ đã nhanh chóng được đoàn viên thanh niên đồng tình. Ðinh Răm nhớ lại: "Trước đây, thanh niên toàn xã có chung một mảnh đất rẫy, các chi đoàn thay phiên nhau canh tác. Hiệu quả rõ rệt sau vụ thu hoạch đầu tiên đã thôi thúc thanh niên mạnh dạn đề nghị xã cho mượn thêm đất và chia diện tích cho từng chi đoàn thôn, làng. Ở nhiều nơi, thanh niên còn khai hoang, phát rẫy để mở rộng diện tích đất canh tác". Nhờ quyết tâm và lao động chăm chỉ, chi đoàn làng Jun năm nào cũng gây được quỹ hơn 50 triệu đồng. Ðó là kết quả của sự thi đua âm thầm giữa các chi đoàn trong xã. Từ cách làm đó, mỗi chi đoàn đều có quỹ riêng dành cho các hoạt động của Ðoàn, như mua cồng chiêng phục vụ sinh hoạt văn hóa, tinh thần. Thanh niên làng Jun đã đổi hai con trâu to (giá hơn 20 triệu đồng) lấy một bộ chiêng 9. Các chi đoàn làng Bung Bang, Krối, Jro Dơng cũng đã sắm được mỗi làng một bộ chiêng. Ðinh Răm kể với tôi:

- Thanh niên ở đây yêu tiếng chiêng từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, đó cũng là hoạt động văn hóa chủ yếu của thanh niên trong những dịp lễ, hội. Thanh niên trong làng, không ai không biết chơi chiêng, toàn xã có 15 làng thì ở mỗi làng đều thành lập một đội chiêng thanh niên. Không chỉ diễn tấu những bản nhạc truyền thống, thanh niên còn sáng tạo ra cách ghép bộ chiêng này với bộ chiêng khác để biểu diễn các bài hát cách mạng, hay các bản nhạc vui trong đám cưới...

Theo sự triệu tập của Bí thư Ðoàn xã Ðinh Răm, đội chiêng nhanh chóng được tập hợp gồm hơn 20 người, và đội xoang với 15 cô gái trẻ. Các chàng trai, cô gái Ba Na thật mến khách và nhiệt thành. Cùng tiếng chiêng mỗi lúc càng như thúc giục là điệu múa khỏe khoắn của các cô gái. Những khát khao về cuộc sống, hy vọng về ấm no, hạnh phúc được tỏ bày trọn vẹn trong từng động tác uyển chuyển và căng tràn sức sống. Chốc lát, người già, trẻ nhỏ đã kéo đến chật kín cả một khoảng sân rộng trước nhà rông. Thế mới thấy, cồng chiêng trong không gian riêng của nó, có sức hút kỳ lạ. Trong lúc mọi người rộn rã trong tiếng chiêng Mừng lúa mới, Lễ đâm trâu... thì già làng Ðinh Srươnh miệng ngậm tẩu, trầm ngâm theo dõi. Già bộc bạch với tôi: "Ðội chiêng của làng mới đoạt giải A trong Liên hoan Cồng chiêng - Ca múa nhạc dân gian của huyện. Chàng trai Ðinh Lêm cao nhất, trẻ nhất trong đội được tôi dạy từ lúc biết cầm cái chiêng. Ðược giải cao nhất huyện nhưng bọn trẻ còn phải học nhiều, lỡ nay mai được huyện chọn đi tham dự Liên hoan. Phải nói rằng đây là đội chiêng còn giữ được nhiều bài chiêng cổ và có sự kế thừa đầy sáng tạo. Xem họ biểu diễn là có thể dễ dàng nhận ra "chất Ba Na" rất đậm nét.

Ðược thành lập vào năm 1999, thôn An Phú (xã Ea Drơng, huyện Cư M'ga, tỉnh Ðác Lắc) hiện có 194 hộ, 796 nhân khẩu. Những năm trước, đời sống người dân ở đây rất khó khăn, tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè diễn ra thường xuyên, khiến cho tình hình an ninh-trật tự trong thôn rất phức tạp. Năm 2000, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được phát động, Chi bộ và ban tự quản thôn đã củng cố, kiện toàn các hội, đoàn thể; xây dựng quy ước, hương ước thôn và đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân từ bỏ các thói quen xấu, tích cực lao động sản xuất để phát triển kinh tế gia đình. Thôn huy động nhân dân đóng góp xây dựng các công trình công cộng như: cổng chào, hội trường thôn, đường giao thông,... với số tiền hàng trăm triệu đồng. Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2009, thôn đã huy động nhân dân đóng góp gần 500 triệu đồng để thảm nhựa hơn một km đường liên thôn. Bộ mặt thôn An Phú giờ đây thay đổi rất nhiều. Nhiều nhà cao tầng mọc lên, hệ thống điện, đường được phủ khắp; 100% số hộ được sử dụng nước sạch, có đài, vô tuyến truyền hình; 99% số hộ có điện thoại cố định. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) còn hơn 4,3%, tỷ lệ hộ khá giả tăng lên 65%; thu nhập bình quân đầu người 18 đến 22 triệu đồng/ người/năm. Trẻ em trong thôn đều được đến trường, nhiều con em của thôn đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh. Ông Nguyễn Ðình Long - một người dân trong thôn, cho tôi biết:

Nhờ phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, những năm gần đây nếp sống văn hóa mới đã hình thành và duy trì, các thói quen xấu không còn. Người dân trong thôn siêng năng lao động, đoàn kết, giúp nhau phát triển. Thôn An Phú đã hai lần được công nhận là thôn văn hóa cấp huyện và đang được đề nghị công nhận thôn văn hóa cấp tỉnh.

Khi phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được phát động, Chi bộ thôn 10 (xã Ea Kiết) đã có Nghị quyết chuyên đề về xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và giao cho các tổ chức đoàn thể của thôn làm lực lượng nòng cốt để vận động các hội viên và nhân dân tham gia phong trào; phân công đảng viên trong chi bộ phụ trách cụm dân cư. Từng bước, người dân được tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Nhiều gia đình trong thôn đã xây được nhà ở khang trang, mua sắm nhiều tiện nghi và máy móc sử dụng trong sản xuất, như: xe máy, máy cày, máy bơm nước, máy xay xát nông sản. Theo thống kê, mức thu nhập bình quân của nhân dân trong thôn đạt 20-25 triệu đồng/hộ/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn 3,5% (5/42 hộ), 28% số hộ giàu và 69% số hộ khá. Bằng nguồn kinh phí của Nhà nước và nhân dân đóng góp, trong thời gian qua, thôn 10 đã đầu tư làm đường giao thông, nhà văn hóa cộng đồng. 100% số hộ gia đình trong thôn được sử dụng điện; nhiều hộ đã xây dựng công trình nước sạch, nhà vệ sinh tự hoại, xây dựng chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh. Hằng năm, Ban tự quản thôn huy động được hàng trăm ngày công lao động của nhân dân để nạo vét cống rãnh, trồng cây xanh, làm vệ sinh môi trường, tạo cảnh quan trong thôn ngày càng sạch đẹp. Hiện trong thôn cũng không còn các tệ nạn xã hội; các hủ tục trong ma chay, cưới xin đã bị xóa bỏ. Công tác khuyến học được đẩy mạnh: 100% số trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường; nhiều em đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng. Phong trào văn hóa - văn nghệ và thể dục - thể thao được người dân tham gia sôi nổi. Thôn 10  được công nhận là thôn văn hóa cấp huyện.

Có tên gọi là Hà Tây nhưng lại là xã duy nhất trên địa bàn huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai chỉ có đồng bào Ba Na sinh sống. Toàn xã có chín làng, hơn 3.700 nhân khẩu. Ngoài việc canh tác nương rẫy theo phương thức truyền thống với các loại hoa màu như sắn, ngô, rau quả ngắn ngày để cải thiện đời sống, một bộ phận dân cư trở thành công nhân chăm sóc vườn cao-su thuộc Công ty Cao-su Chư Pah. Vì vậy, nhiều gia đình đã không còn phải lo cái ăn, cái mặc như trước đây, trong xã đã có trường học, lớp mẫu giáo và nhiều công trình khác được Nhà nước đầu tư xây dựng. Ðặc biệt, các làng đều có nhà rông truyền thống trung tâm của làng. Hôm đến làng Kon Bah chúng tôi được chứng kiến lễ khánh thành nhà rông mới trong niềm vui của dân làng. Sau hơn năm tháng xây dựng, công trình được hoàn thành với sự đóng góp của cả làng, từ công sức thực hiện đến kinh phí. Già làng Khưn được giao trọng trách giám sát việc xây dựng. Bên ché rượu cần mừng nhà rông đã hoàn thành, già tâm sự, ông rất vui vì nhà rông đã hoàn thành, lại được mọi người khen ngợi. Hồi làm nhà, có lúc hết tiền phải đi vận động dân làng đóng góp, sau khi thu hoạch vụ mùa mới làm xong công trình.

Ðể có ngôi nhà rông to lớn thế này, mỗi thanh niên từ 18 tuổi trở lên phải chuẩn bị hai cây rui, mười bó dây mây; mỗi phụ nữ góp mười bó tranh. Rồi để có đủ kinh phí xây dựng, làng chia nhiều tổ, mỗi tổ trong thời gian từ hai đến ba năm lo trồng sắn hay tham gia các đội cạo mủ cao-su để có kinh phí đóng góp. Trong khi một số buôn làng ở Tây Nguyên đang dần vắng bóng mái nhà rông, thì ở xã Hà Tây, người dân sở tại vẫn gắng sức giữ gìn, hay làm mới những mái nhà rông truyền thống - một di sản văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên. Ðây là một việc làm nên khuyến khích và nhân rộng ra nhiều vùng ở Tây Nguyên.

 

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác