50 năm Hội Nhà văn Việt Nam

Hội Nhà văn Việt Nam kế thừa sự nghiệp của Hội Văn hóa cứu quốc (1943) và Hội Văn nghệ Việt Nam (1948). Sau 50 năm hoạt động và phát triển, Hội Nhà văn là một tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp lớn nhất, có quy mô và thành tựu đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc. Nhìn lại nửa thế kỷ hoạt động và phát triển, Hội Nhà văn Việt Nam đã đạt được những thành tích đặc biệt xuất sắc.

Ðóng góp vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà

Ngay sau khi thành lập, Hội Nhà văn xác định hai chủ đề lớn của văn học ta là: Xây dựng CNXH ở miền bắc; tích cực tham gia đấu tranh thống nhất nước nhà.

Thực hiện chủ trương đó, Hội đã tổ chức cho văn nghệ sĩ đi thực tế lâu dài tại các địa phương, ngành, thật sự tắm mình vào thực tiễn xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, các công trường xây dựng, các đơn vị quân đội. Kết quả, chúng ta có một loạt tác phẩm hay, có tiếng vang lớn, ghi lại bước chuyển mình to lớn của hậu phương miền bắc. Ðó là các tác phẩm: Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của Ðào Vũ, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Gánh vác của Vũ Thị Thường, Rừng động của Mạc Phi, Xi-măng của Huy Phương, Ánh sáng và phù sa thơ của Chế Lan Viên, Theo cánh chim câu của Anh Thơ, Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận, Núi đôi và Ðèo trúc của Vũ Cao,... Những tác phẩm này có ảnh hưởng xã hội to lớn, thổi một luồng không khí phấn chấn trong mọi tầng lớp nhân dân.

Song song với chủ đề xây dựng CNXH, các nhà văn đã dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài đấu tranh thống nhất. Nhiều nhà văn đi thực tế vùng giới tuyến, sáng tác nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn, nêu bật ý chí và tình cảm thống nhất đất nước. Ðó là các tác phẩm: Sông tuyến của Nguyễn Tuân, Gửi miền Bắc của Tế Hanh, Quê hương của Giang Nam, Mồ anh hoa nở của Thanh Hải, Bất khuất của Văn Công, Bức thư Cà Mau của Anh Ðức, Sống như Anh của Trần Ðình Vân, Hoa gạo của Trinh Ðường,...

Ðóng góp xuất sắc vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc

Với hàng nghìn tác phẩm được sáng tác, xuất bản kịp thời trong hai cuộc kháng chiến, các nhà văn Việt Nam đã góp phần giáo dục, động viên chiến sĩ ngoài mặt trận và đồng bào ở hậu phương đề cao chủ nghĩa yêu nước, tinh thần lạc quan cách mạng, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ðó là các tập thơ Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu; tiểu thuyết Mẫn và tôi và Gia đình má Bảy của Phan Tứ; Rừng U Minh của Nguyễn Văn Bổng; Hòn đất, Bức thư Cà Mau của Anh Ðức; Ðất lửa, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng; Rừng xà nu, Trên quê hương những anh hùng Ðiện Ngọc của Nguyên Ngọc; Vào lửa, Mặt trận trên cao của Nguyễn Ðình Thi; Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của Nguyễn Tuân; Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi; Kan Lịch của Hồ Phương; Chúng tôi ở  Cồn Cỏ của Nguyễn Khải; Giữa trong xanh của Nguyễn Thành Long; Trong gió cát của Bùi Hiển. Thơ của Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Xuân Hoàng, Minh Huệ, Trần Hữu Thung,... Ðó là những tác phẩm xây dựng thành công các nhân vật chiến sĩ quân đội dũng cảm, mưu lược, rất mực trung thành với sự nghiệp cách mạng; đó là những nhân vật các bà má, các nữ du kích yêu nước thương nhà, hình thành cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại. Những tác phẩm đó đã thật sự đi vào lòng người, tạo nên sức mạnh tinh thần vô địch của nhân dân ta. Tại hậu phương lớn, thần đồng Trần Ðăng Khoa đã làm cả nước sửng sốt và khâm phục với tập thơ Từ góc sân nhà em và nhiều tập thơ xuất sắc, ca ngợi cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Có 150 nhà văn tình nguyện nhập ngũ, tham gia chiến đấu trên khắp các chiến trường, tay súng tay bút, vừa đánh giặc, vừa viết văn ngay tại mặt trận. Nhiều tác phẩm của các nhà văn mặc áo lính được sáng tác ngay tại chiến trường đạt giải thưởng cao trong các cuộc thi văn học, được dư luận đánh giá cao, như Vầng trăng quầng lửa của Phạm Tiến Duật; Phù sa, Hương cỏ mật của Ðỗ Chu; Cát trắng của Nguyễn Duy; Cây xanh đất lửa của Nguyễn Ðức Mậu; Bến quê của Cao Tiến Lê. Các nhà thơ Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Xuân Quỳnh; các nhà văn Nguyễn Gia Nùng, Nguyễn Khắc Phê đều có tác phẩm xuất sắc ca ngợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Nhiều nhà văn đã anh dũng hy sinh ngay giữa chiến trường, như Nguyễn Thi, Lê Vĩnh Hòa, Dương Thị Xuân Quý, Lê Anh Xuân, Chu Cẩm Phong... Hội Nhà văn liên tiếp tổ chức cho các nhà văn đi chi viện chiến trường, hàng trăm nhà văn hăng hái vượt Trường Sơn vào tham gia chiến đấu và sáng tác tại miền Tây Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Thừa Thiên - Huế. Họ thật sự là binh chủng tinh thần vô cùng thiện chiến, hun đúc ngọn lửa và chất thép cho quân và dân ta. Các nhà văn ở hậu phương xông xáo thâm nhập thực tế sản xuất và chiến đấu trên các tuyến vận tải chiến lược, các trận địa phòng không, các trọng điểm đánh phá ác liệt của địch như Hàm Rồng, Cồn Cỏ, Vĩnh Linh, Quảng Bình, các tỉnh thuộc Khu IV cũ. Sau mỗi chuyến đi là những mùa gặt hàng loạt tác phẩm mang khí thế hào hùng của chiến tranh nhân dân và vẻ đẹp tuyệt vời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Nhiều nhà văn đã được cử tham gia các chiến dịch lớn: Khe Sanh - Quảng Trị, Ðường 9 - Nam Lào, Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ðó là tinh thần nhập cuộc và dấn thân thật sự, nêu bật tinh thần nghệ sĩ - chiến sĩ. Từ thực tế đó, hàng loạt tác phẩm sử thi bề thế đã ra đời ghi lại một cách trung thực và sinh động cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại của dân tộc. Ðó là những tác phẩm Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Ðiềm, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Chim Chơ rao của Thu Bồn, Ðường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Sư đoàn của Nguyễn Ðức Mậu. Năm 1975 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Dòng sông phẳng lặng của Tô Nhuận Vỹ, Cửa gió của Xuân Ðức, Sông dài như kiếm của Nguyễn Quang Hà, Vùng lõm của Sơn Tùng, Ðất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Ðất miền Ðông của Nam Hà, Bay qua cõi chết của Nguyễn Khắc Phục...

Ðóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, đất nước, xã hội có nhiều thay đổi. Văn học nước ta sau 1975, một mặt, vẫn tiếp tục sáng tác về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ; mặt khác, nhanh chóng bắt nhạy với yêu cầu mới của cuộc sống trong hòa bình. Ðề tài, chủ đề được mở rộng, hiện thực đất nước được tái hiện trên một bình diện mới sâu và rộng hơn, văn học quan tâm hơn đến số phận của cá nhân, những mối quan hệ hằng ngày giữa con người với con người, nhờ đó chủ nghĩa nhân văn được khai thác trên một bình diện mới sâu sắc hơn, phong phú như chính cuộc sống. Tiêu biểu cho sự chuyển hướng này là các tập truyện ngắn xuất sắc: Sống với thời gian hai chiều và Mùa xuân tiếng chim của Vũ Tú Nam, Sáng mai nào, xế chiều nào và Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long, Quê nhà của Tô Hoài, Ðám cưới không có giấy giá thú, Mảnh vườn hoang vắng của Ma Văn Kháng, Bè trầm của Nguyễn Trọng Tín, Ngõ hẻm bên cầu và Người đàn bà bị săn đuổi của Trần Văn Tuấn, Người khách đến thăm nhà tôi của Anh Ðức,...

Ðó là những tác phẩm đổi mới thật sự, mang giá trị văn học đích thực, tránh được xu hướng phô trương hình thức, thời thượng thường thấy về sau này.

Rất nhạy cảm, tâm huyết với sự nghiệp đổi mới, nhiều tác phẩm đi tiên phong phát hiện, phê phán cơ chế quan liêu bao cấp, nhiệt thành ủng hộ những con người dám nghĩ dám làm, khai phá mở đường cho lối làm ăn mới. Hai bộ tiểu thuyết Ðứng trước biển và Cù lao Chàm của Nguyễn Mạnh Tuấn lên tiếng rất sớm ủng hộ đổi mới, trước hết là vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Tiếp đó, vở kịch Nhân danh công lý của Nguyễn Khắc Nghiêm, Thời xa vắng của Lê Lựu, hàng loạt vở kịch của Lưu Quang Vũ, bút ký văn học của Hoàng Hữu Các, Minh Chuyên,... thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội, cổ vũ cho sự nghiệp đổi mới. Tiếp đó là hàng trăm tác phẩm gồm đủ các thể loại xông xáo đi vào các đề tài xã hội, phê phán tư duy kinh tế duy ý chí, bỏ qua các quy luật phát triển phổ biến, đề cao những tấm gương lao động năng động, sáng tạo, quan tâm đến đời sống của người lao động.

Ði sâu phê phán những mặt trái của cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, văn học phát hiện cảnh báo rất sớm các vấn đề đạo đức xã hội làm băng hoại các giá trị truyền thống của dân tộc. Ðó là những tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Hồi của Lê Minh, Ngày thường đã cháy lên của Xuân Cang, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Cuộc đời của Huệ của Võ Khắc Nghiêm, Giấy trắng, Trả giá của Triệu Xuân, Những ngày buồn của Hoàng Ðình Quang. Nhiều tác phẩm được chuyển thể thành kịch bản truyền hình, có tiếng vang lớn trong xã hội.

Hội đã ba lần tổ chức cuộc thi tiểu thuyết, phát hiện nhiều tác phẩm hay, đặc biệt là các tác phẩm viết về lịch sử chống ngoại xâm và hai cuộc kháng chiến của dân tộc, như bộ tiểu thuyết Triều Trần 4 tập của Hoàng Quốc Hải, Hồ Quý Ly của Xuân Khánh, Lạc rừng của Trung Trung Ðỉnh, Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân, Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Ðức, Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Dòng sông mía của Ðào Thắng...

Văn học Việt Nam 50 năm qua, xứng đáng là một trong những bộ phận quan trọng nhất của ý thức xã hội, là kho tàng văn hóa đặc sắc ghi dấu đẹp đẽ cuộc sống cách mạng, lịch sử kháng chiến và sự tích phi thường của nhân dân ta. Ðó là nền văn học mang những phẩm chất hoàn toàn mới so với mọi nền văn học trước đó. Với khẩu hiệu vì Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nền văn học của chúng ta trung thành và bền bỉ phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Lấy hiện thực cách mạng làm nội dung, lấy truyền thống và bản sắc dân tộc làm cội nguồn phát triển, lấy đường lối, chủ trương của Ðảng làm ngọn cờ chỉ lối, 50 năm văn học Việt Nam thật sự là bộ phận quan trọng hàng đầu cấu thành văn hiến thời đại Hồ Chí Minh.

(Theo ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác