50 năm Hội Nhà văn Việt Nam: Tài sản lớn của một chặng đường

Hội Nhà văn Việt Nam bước vào năm kỷ niệm tròn nửa thế kỷ kể từ ngày thành lập đúng vào năm cả nước bước vào chặng đường mới, chặng đường tiếp tục thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ X, chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu sắc và toàn diện.

Ðể văn học tiếp tục khởi sắc, có thêm nhiều tác phẩm hay, tác phẩm xuất sắc, đóng góp vào kho tàng văn hóa đỉnh cao của đất nước, việc nhìn lại chặng đường đã qua, ghi nhận các thành tựu và kinh nghiệm đã có cũng là việc soạn lại hành trang cho một hành trình mới.

Việc thành lập các hội chuyên ngành văn học nghệ thuật từ Hội Văn nghệ Việt Nam vào năm 1957, hai năm sau cuộc kháng chiến chín năm, là một tất yếu của sự phát triển. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy cũng có một nhu cầu thực tế của việc sắp xếp, chỉnh trang lại đội ngũ văn nghệ sau vụ đấu tranh tư tưởng gay gắt là vụ Nhân văn giai phẩm.

Theo tôi, qua 50 năm Hội Nhà văn có thể rút ra mấy bài học sau: Bài học đầu tiên, tài sản lớn nhất của Hội Nhà văn Việt Nam là sự đoàn kết trong đội ngũ những người viết văn vì sự nghiệp của Ðảng, của nhân dân; vì sự nghiệp văn học sâu xa và lâu dài của dân tộc.

Chính vì điều này mà ngay trước Cách mạng Tháng Tám 1945, lần đầu tiên nhà văn và nghệ sĩ đã được tập hợp dưới lá cờ của Ðảng: Tổ chức Văn hóa Cứu quốc (1943). Hội Văn hóa cứu quốc và cơ quan ngôn luận bằng văn học của tổ chức ấy là tạp chí Tiên phong là nơi tập họp trí thức và văn nghệ sĩ, vận động yêu nước, đứng lên đánh giặc giành độc lập cho non sông. Rồi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, các nhà văn ở mọi thành phần xã hội, ở các "trào lưu" khác nhau đều nhất tề đi theo kháng chiến.

Một Chế Lan Viên, một Xuân Diệu "lãng mạn tiểu tư sản", một Nguyễn Công Hoan, một Ngô Tất Tố "hiện thực phê phán" đều lên rừng đồng cam cộng khổ với chiến sĩ, với đồng bào. Nhà văn của hát ả đào, "gậm nhấm" cái ngon, cái lạ của tạo vật là cụ Nguyễn Tuân cũng đeo túi vải lên Việt Bắc. Chính nhà văn ngỡ là bất cần đời này đã trở thành Tổng thư ký đầu tiên của Hội Văn nghệ Việt Nam (thành lập năm 1948 tại Việt Bắc). Tự dẹp bỏ cái riêng tư, gác cái cá nhân vốn dĩ to đùng của nghề cầm bút để phụng sự dân nước đã đem đến tình thân hữu sâu sắc mà chân thật là cái  lõi của sự đoàn kết trong văn giới và tổ chức văn học của họ. Bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, sao nhãng bài  học lớn này là lúc, là nơi sinh ra những chuyện không đáng có trong khu vực sang trọng nhất của văn hóa đất nước.

Bài học thứ hai, tài sản thứ hai của Hội Nhà văn Việt Nam là lấy việc tôn vinh học thuật đỉnh cao, tôn vinh cá tính sáng tạo riêng biệt của mỗi tài năng là công việc hàng đầu và quan trọng nhất. Tư tưởng chính trị và lý tưởng thẩm mỹ hòa quyện làm một và nó được bộc lộ rõ trong mỗi tác phẩm; trong hệ thống tác phẩm của mỗi tác giả. Tính quần chúng của Hội Nhà văn Việt Nam biểu hiện ở chỗ luôn phát hiện trong quần chúng các tài năng chứ không phải làm ngược lại, biến phong trào văn học thành phong trào quần chúng. Vào những ngày tháng chiến tranh phá hoại, cả Nguyễn Tuân và Nguyên Hồng đều đội mũ rơm ra trận địa pháo cao xạ thăm bộ đội, cùng ăn cơm trộn bột mì, cùng xuống hầm trú ẩn ở đầu trụ sở 65 Nguyễn Du Hà Nội, nhưng có trang văn nào, có dòng chữ nào của hai người ấy giống nhau? Nguyễn Tuân trong sinh hoạt hằng ngày thì kỹ lưỡng đến tỉ mỉ mà Nguyên Hồng thì xuề xòa. Thế mà họ tôn trọng cái khác của nhau một cách kỳ lạ.

Hằng ngày, tại 65 Nguyễn Du, chúng tôi thấy các nhà văn hàng đầu cũng tụ tập, cũng nói kháy nhau mà rất đỗi thân tình. Nhìn Nguyễn Khải ngoài cổng  đang đi vào, Nguyễn Tuân bảo : "Các ông nhìn thằng Khải đang đi vào kìa, nó lắc hai vai như thế là tướng xà hành". Nhà văn trẻ Ðỗ Chu đang ngồi đó góp chuyện khi Nguyễn Khải đã ngồi bên: "Anh Khải có tướng xà hành. Là rắn nhưng là rắn nước, không cắn ai. Cứ ném hạt sỏi là lặn". Ðùa là đùa vậy nhưng vắng mặt, cụ Tuân thích văn Nguyễn Khải, gọi Khải là Trạng. Và Nguyễn Khải và Ðỗ Chu cũng trân trọng nhau. Suốt chặng đường dài bao nhiêu năm qua, "liên tài" mới là truyền thống của Hội Nhà văn Việt Nam mà sự "ghen tài" chỉ là cá biệt.

Nhớ lại chặng đường dài vừa qua là nhớ đến các cá tính lạ lùng đến mức dị biệt của bao nhà văn: một sắc sảo đến tinh quái của Chế Lan Viên, một kiêu căng dễ thương của Xuân Diệu, một trầm ngâm mà uẩn súc của Nguyễn Ðình Thi, một chợt quên chợt nhớ của Nguyễn Minh Châu... Cái đáng nói là không chỉ các nhà văn, nghệ sĩ và các tổ chức của họ mà các tổ chức Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội cũng vì tài năng và cá tính văn học mà chấp nhận hoặc bỏ qua những dị biệt đáng yêu của mỗi nhà văn.

Bài học thứ ba và cũng là tài sản thứ ba của Hội Nhà văn Việt Nam là tấm lòng của mỗi nhà văn và của Hội đối với người cầm bút  trẻ.  Một  trong  những  người không hoàn toàn đồng tình với việc lập trường dạy viết văn là Tố Hữu. Ông vừa cười vừa bảo: "Viết văn cũng dạy được à ?" Tuy vậy, ông vẫn đến Quảng Bá, vẫn hỏi han "ông đốc" Nguyên Hồng về học viên của cái trường bồi dưỡng viết văn trẻ ấy.

Phải nói thêm rằng, hàng chục khóa của cái trường ấy đã bồi dưỡng cho hàng trăm cây bút và hầu hết các học viên đều trở thành nhà văn, nhà báo. "Yêu cho roi cho vọt" là cách nhìn của nhiều nhà văn lớn đào tạo các cây bút trẻ. Xuân Diệu luôn gọi chúng tôi, lớp nhà văn lính tráng thời chống Mỹ là "các nhà văn thiếu úy". Nghĩa là còn lâu mới đến cấp tá, còn tới cấp tướng như Xuân Diệu thì còn trong mơ. Câu ấy là ý dặn lớp trẻ đừng sớm kiêu căng, phải tự biết cái kém cỏi của mình. Một nhà thơ mà tên tuổi và cách sống khiêm nhường là nhà thơ Trinh Ðường, mấy chục năm biên tập thơ ở báo Văn Nghệ, đã chăm sóc biết bao cây bút trẻ. Nhiều người gọi ông là "thầy" dù ông chẳng dạy dỗ ai. Với bút danh "Chàng Văn", Chế Lan Viên đã cập nhật sáng tác của các cây bút trẻ, cập nhật lý luận sáng tác cho họ một cách công phu, tỉ mỉ và một tinh thần trách nhiệm rất cao trước công việc văn học.

Bài học thứ tư cũng là tài sản lớn của Hội Nhà văn Việt Nam là xây ngôi nhà của mình thành ngôi đền lớn của văn học dân tộc. Ấy là ngôi nhà vô hình. Ngôi nhà hữu hình của các nhà văn hàng đầu của Hội thì chật chội lắm. Suốt bao nhiêu năm, gia đình Chế Lan Viên vẫn ở trong căn phòng bé ở tầng phụ, có thể gọi là tầng hầm ở 51 Trần Hưng Ðạo, Hà Nội. Nguyễn Ðình Thi thì ở nhờ nhà của vợ. Nhưng ngôi đền của họ thì sang trọng lắm vì ngôi đền ấy thờ Nguyễn Trãi, thờ Nguyễn Du, thờ Hồ Xuân Hương và bao tài năng của văn học dân tộc. Văn học cách mạng là sự kế thừa văn học dân tộc. Hội Nhà văn Việt Nam là sự kế thừa của bao tổ chức văn học trước đó. Tao đàn của Lê Thánh Tông thì hẳn là sự kỳ diệu mà ngay các tổ chức văn học trước cách mạng như Tự lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy không phải không có cái hay. Tiếng nói quá khứ luôn luôn là một bài học lớn.

Bài học thứ năm hay tài sản thứ năm cũng là phương cách tồn tại của Hội và các cây bút: sự gắn bó với nhân dân, sự gắn bó với thực tiễn cuộc sống. Nói điều này ngỡ như thừa mà với tình hình văn học hiện nay là điều cần thiết: nhiều cây bút bây giờ hình như đang còn ngơ ngác trước thực tiễn diễn ra ào ạt hằng ngày. Trong chiến tranh, kể cả các nhà văn cao tuổi cũng đến sống cùng bộ đội, cũng đi vào các mặt trận giáp mặt với kẻ thù. Không một tác phẩm nào, dù là tác phẩm lấy đề tài lịch sử đi nữa trở thành tác phẩm lớn nếu không có hơi ấm của đời sống đương đại.

Có thể có nhiều bài học, nhiều tài sản quý giá khác nhưng cái tài sản lớn nhất, đếm được, đo được là khối lượng tác phẩm do Hội Nhà văn tổ chức và gây dựng bởi các nhà văn để lại cho đời suốt mấy chục năm qua. Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước Việt Nam về văn học và nghệ thuật trao cho các nhà văn mấy đợt vừa qua là những ghi nhận.                

Nhà văn Nguyễn Hữu Quý: Xứng đáng hơn nữa với sự quan tâm, tin cậy của nhân dân

Tôi đến với nghề cầm bút và trở thành nhà văn bằng những đức tin mà tôi hằng tâm niệm. Ðó là chia sẻ sự khổ đau và lòng hướng thiện với mong muốn cuộc sống ngày càng ấm áp hơn. Và tôi nghĩ rằng, đó cũng chính là tâm huyết, là sự nghiệp của tất cả các nhà văn, của Hội Nhà văn Việt Nam. Những hội viên của một hội sang trọng như vậy phải có tâm, có tầm, có đóng góp tích cực cho sự phát triển của văn học, vì sự phát triển của Hội Nhà văn. Ngược lại, tôi mong muốn lãnh đạo Hội ngoài khả năng sáng tác phải có khả năng tổ chức, phải có sự công tâm, công bằng, chứ đừng có ngày càng xa lạ với nhà văn, đừng có vì quyền lợi của một nhóm người nào đó...

Hội Nhà văn Việt Nam có 50 năm truyền thống rất vẻ vang, đáng tự hào. Tôi mong truyền thống đó mãi mãi được phát huy, xứng đáng hơn nữa với sự quan tâm, tin cậy của nhân dân, của bạn đọc.

Nhà thơ Trần Thị Huyền Trang: Hơi ấm sẻ chia

Ngày Thơ Việt Nam vừa qua, tôi đã đến Văn Miếu nghe thơ và nhìn những cô áo đỏ thả những tờ thơ hay lên không trung. Trong Thái Miếu, các nhà thơ bàn về thơ. Giữa mạch luận đàm, thơ Bà Huyện Thanh Quan do một nữ nghệ sĩ ca trù diễn ngâm trong nếp áo cổ xưa khiến tôi ngợp trong một nỗi bồi hồi khó tả. Văn chương làm đắm đuối cổ kim, bắt người ta cười và khóc đủ cung bậc. Thấy người ta chen nhau mua thơ, rồi tìm tác giả xin chữ ký, chợt nghĩ, thơ vẫn là một thứ men nồng đượm trong tâm hồn Việt.

Ngày Thơ tôi vừa dẫn chỉ là một trong rất nhiều hoạt động của Hội Nhà văn. Mà hầu hết các hoạt động của Hội thường gợi ra rất nhiều ý kiến khác nhau trong dư luận, điều đó cho thấy mối quan tâm sâu sắc của xã hội đối với sự vận động và phát triển của văn học, nhu cầu cọ xát để phân định các giá trị chân - giả trong tác phẩm và sinh hoạt văn chương, nhằm hướng tới cái đẹp và sự trong sạch trong một lĩnh vực có sứ mệnh ca ngợi, bảo vệ cái đẹp và sự trong sạch. Từ Ðại hội Nhà văn lần thứ VII đến nay, đời sống văn chương đã có bao sự kiện. Mồ hôi của các thành viên Ban chấp hành Hội Nhà văn không chỉ thấm trên trang viết của cá nhân họ, mà còn đổ ra vì việc chung, vì những vấn đề của tổ chức hội và của hiện thực xã hội.

Là một hội viên, tôi trông đợi điều gì ở tổ chức này? Quả là tôi rất kỳ vọng về nơi tập hợp đội ngũ những người lấy văn chương làm lẽ sống. Hội sẽ là một trung tâm tiếp, phát sóng, có vai trò quan trọng trong việc biến văn chương thành một nguồn lực tinh thần to lớn của xã hội đương đại, trong mối liên hệ đa chiều, nối hiện tại với quá khứ và tương lai, nối một cội cây trong thung sâu với những ngọn gió lớn băng qua nhiều khoảng trời cao rộng.

Không ai phủ nhận cô đơn sáng tạo là một đặc trưng của lao động văn chương, nó rất cần cho quá trình chiêm nghiệm, xây dựng tác phẩm. Song khi tác phẩm đã hoàn thành thì sự cô đơn ấy phải biến đi,để trang sách của nhà văn có hơi ấm của ánh mắt sẻ chia. Bởi sinh mệnh tác phẩm không phải là sự tồn tại im lìm, mà rất cần được lật mở, tái sinh trong nhịp đập đồng cảm của tâm hồn tri âm bè bạn, rất cần sự bắc cầu của Hội và các phương tiện truyền thông để đạt tới sự cộng hưởng của cộng đồng xã hội và quốc tế.

Trước xu thế toàn cầu hóa, những khái niệm như lòng tự tin, sự khẳng định, bản sắc, vận hội, cá nhân, quốc gia, dân tộc, nhân loại... luôn luôn được đặt ra với những ý nghĩa vừa quen thuộc vừa mới mẻ và không phải dễ dàng khi ứng xử trước mối quan hệ chằng chịt của các khái niệm ấy. Ðã đành sự tồn tại của nhà văn chính là tài năng và tâm huyết của chính mình, song để có được một số điều kiện thể hiện tài năng và tâm huyết, thì rất cần đến tổ chức Hội.

Tôi nghĩ, để tiếp cận mạnh hơn, sâu sắc hơn với các nhóm, các xu hướng, trường phái, các thể loại, các vùng văn học, các thế hệ tác giả... nhằm nhận định, mở hướng, tạo môi trường sáng tạo, Hội đang đối diện với một núi công việc. Nhưng tôi tin, với truyền thống vẻ vang của một tổ chức 50 năm đầy thành tựu mà bao thế hệ văn nhân thi sĩ kiệt xuất của thời đại Hồ Chí Minh đã xây đắp nên, có thể ngẩng đầu kiêu hãnh như Hội ta, chắc chắn trong giai đoạn mới, sẽ có nhiều chuyển biến làm cho nền văn học nước nhà rạng danh cùng thế giới.

Sau 50 năm, bắt đầu một trang mới của lịch sử Hội Nhà văn Việt Nam. Hy vọng trang thứ 51 trở đi của Hội sẽ là những trang ấn tượng, huy hoàng, uy nghi của văn chương Việt để các nhà văn sẽ soi thấy bóng mình trong đó, để Hội có quyền tự hào về những tài năng được Hội gây dựng, bồi dưỡng. Khi cánh tay ân cần của một tổ chức hướng về các trí tuệ tài năng với mối tương liên mật thiết hài hòa, một thời kỳ văn chương rực rỡ sẽ mở ra với nhiều tác phẩm xuất sắc, nhiều tên tuổi chinh phục tương lai.

Phấn đấu cho mọi người thì mới có cái của riêng anh

Vào khoảng năm 1970, năm đó tôi mới 18 tuổi, được mời đi dự Hội nghị những người viết văn trẻ. Lần đó, tôi đã vô cùng vui sướng và hào hứng được về thủ đô, đến với ngôi đền thiêng văn học.

Ở đó, tôi đã được gặp chị Xuân Quỳnh, anh Lưu Quang Vũ, anh Quang Huy... Từ mọi miền xa xôi của đất nước, chỉ mới nghe tên nhau nhưng chúng tôi đã nhanh chóng thân quen nhau và yêu quý nhau suốt đời. Tình văn cũng là tình người thật sâu nặng, thủy chung.

Còn đối với Chế Lan Viên, Xuân Diệu... thì cao lắm, ở "trên trời". Chúng tôi chỉ ngưỡng mộ chứ không nghĩ rằng mình có thể vươn tới tầm cao của "các cụ" ấy. Và ban đầu, tôi thấy ngợp, không định và không dám đi vào con đường văn chương. Nhưng rồi được đi học ở Quảng Bá, lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn, được học các thầy như Xuân Diệu, Ðoàn Giỏi..., chúng tôi càng ngày càng tự tin hơn và nhận thấy cứ bền bỉ thì có thể đi tới.

Về sứ mệnh của văn học, của nhà văn, tôi chỉ nghĩ đơn giản thế này thôi: Văn chương phải tác động mạnh mẽ, sâu xa đến bạn đọc; mà muốn tác động đến bạn đọc thì phải có trách nhiệm đối với đất nước, với nhân dân. Phải viết thế nào đó, phải sống và hoạt động

thế nào đó để cho nhân dân đỡ khổ hơn. Ðổi mới đã có thành tựu rất lớn nhưng nhiều mặt còn chậm quá. Vẫn có nơi nguyện vọng chính đáng của dân chưa kêu thấu đến chính quyền, kêu thấu thì vẫn chậm được giải quyết; sự chênh lệch giàu nghèo, tình trạng bất công... không phải đã hết, đã giảm. Nhà văn phải tác động tích cực để cuộc sống của chúng ta tiến bộ nhanh về mọi mặt, nhưng trước hết phải là tính nhân văn. Không phải nghèo thì thiếu tính nhân văn, của cải dồi dào thì xã hội có tính nhân văn hơn mà có khi còn ngược lại...

Về các cây bút trẻ hiện nay, tôi cảm thấy phần lớn họ rất có tài, có tâm và có thuận lợi là mọi cánh cửa đều mở rộng. Tôi rất kính trọng và hy vọng ở họ. Nhưng trong văn học cũng phải dè chừng. Mới đó lại cũ liền đó. Nên tìm đến một cái gì sâu hơn ngoài hình thức, đề tài. Và cũng đừng vì riêng bản thân mình quá, đừng sớm tự mãn. Văn chương là một con đường khắc nghiệt, theo nó phải bền bỉ phấn đấu suốt đời. Anh phấn đấu cho mọi người thì mới có cái của anh, nếu chỉ vì cái tôi, chưa

(Theo ND)                                               

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác