50 năm, một địa chỉ văn học, một đội ngũ nhà văn cầm bút và cầm súng

Tháng 1-1957, Tổng cục Chính trị QÐND Việt Nam, quyết định xuất bản Tạp chí Văn nghệ Quân đội (VNQÐ) và giao cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội hai nhiệm vụ cơ bản: xuất bản Tạp chí VNQÐ và sáng tác những tác phẩm về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng.

Thực hiện hai nhiệm vụ ấy, các nhà văn quân đội đã lên đường tham gia những sự kiện lớn của đất nước, dẫn đến sự ra đời của các tác phẩm văn  học tiêu biểu: Trăng sáng, Ðôi bạn của Nguyễn Ngọc Tấn, Xung đột, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Rẻo cao và trước đó là Ðất nước đứng lên của Nguyên Ngọc...

Năm 1962, các nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi) được Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ trở lại chiến trường miền nam. Nhà văn Nguyễn Thi cùng với các nhà văn Thanh Giang, Võ Trần Nhã đã góp phần thành lập và xuất bản tờ tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền nam. Nhà văn Nguyên Ngọc cùng với các nhà văn Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn góp phần thành lập và xuất bản tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ.

Tiếp đó là các chuyến đi bổ sung lực lượng cho hai tờ tạp chí nói trên của các nhà văn Trúc Hà (Nam Hà), Nguyễn Trọng Oánh (Nguyễn Thành Vân); nhà văn Văn Phác cũng rời Tạp chí VNQÐ, đi theo đường mòn trên biển vào nhận công tác tại Bộ Tư lệnh miền...

Hai tờ tạp chí văn nghệ giải phóng kể trên là sự tiếp nối của Tạp chí VNQÐ trên chiến trường miền nam. Từ hai tờ tạp chí xuất bản thủ công giữa các trận đánh, một loạt các tác phẩm xuất sắc nhất của giai đoạn này đã xuất hiện. Có thể kể tới: Người mẹ cầm súng, Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi, Trường ca chim chơrao của Thu Bồn, Bức thư làng Mực của Nguyễn Chí Trung...

Ở miền bắc, trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Tòa soạn Tạp chí VNQÐ sơ tán về xã Hương Ngải, Thạch Thất, Hà Tây. Từ vùng quê thân thiết này, dưới sự điều hành của các nhà văn Thanh Tịnh, Vũ Cao và Từ Bích Hoàng, các chuyến đi chiến trường có thời hạn mà chúng ta quen gọi là đi B ngắn cũng liên tục được tổ chức.

Những chuyến đi gian khổ, lặp đi lặp lại trong nhiều năm đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt tác phẩm tiêu biểu: Họ sống và chiến đấu, Chiến sĩ của Nguyễn Khải; Kan lịch, Khi có một mặt trời của Hồ Phương, Vùng trời của Hữu Mai; Lửa từ những ngôi nhà, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu...

Bám sát các chiến trường trọng điểm, trực tiếp tham gia các chiến dịch, các trận đánh, lấy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sự hy sinh vĩ đại của nhân dân, của người lính làm đối tượng phản ánh chủ yếu của văn học đã trở thành phương châm, lý tưởng sống của các nhà văn quân đội.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tạp chí VNQÐ nhanh chóng trở thành người bạn thân thiết của những người lính. Người chiến sĩ tìm thấy một sự đồng điệu, một  nguồn động viên ấm áp trên từng trang viết.

Trên chiến trường, Tạp chí VNQÐ cùng với các tác phẩm văn học khác đã trở thành một loại vũ khí tinh thần bên cạnh cây súng của những người lính.

Cũng trong những năm tháng đó, cùng với công việc sáng tác và phát hành hàng trăm nghìn số mỗi tháng, Tạp chí VNQÐ cũng như hai tờ Tạp chí Quân giải phóng ở miền nam không ngừng chuẩn bị lực lượng cho một nhiệm vụ lâu dài của một đề tài văn học lớn thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Khá nhiều tài năng văn học trẻ đã xuất hiện ở hầu khắp các Quân khu, Quân đoàn, Quân, binh chủng.

Nhiều người trong số họ, sau này đã trở thành cán bộ chủ chốt của Hội Nhà văn Việt Nam, của Tạp chí VNQÐ.

Ði, sống, chiến đấu và viết, trực tiếp phục vụ nhân dân, phục vụ bộ đội là lẽ sống của các nhà văn quân đội trong những năm tháng đó. Họ là những tấm gương lớn về nghị lực sống, về phẩm chất của các nhà văn - chiến sĩ.

Năm 1975, đất nước thống nhất. Các nhà văn ở các chiến trường lần lượt trở về tòa soạn. Vấn đề xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho một tương lai văn học viết về chiến tranh, về người lính một lần nữa lại được Thủ trưởng Tổng cục Chính trị nhìn nhận như một nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực công tác Ðảng, công tác chính trị của quân đội. Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một số trại sáng tác văn học tập hợp những cây bút xuất hiện ở khắp các chiến trường đã được tổ chức. Sau đó, những cây bút trưởng thành từ cơ sở ở tất cả các quân khu, quân đoàn lại được Tổng cục Chính trị triệu tập chung quanh một trại sáng tác dài hạn do Tạp chí VNQÐ quản lý và bồi dưỡng.

Khi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc diễn ra ở tây - nam đất nước, các nhà văn quân đội đã kịp thời đến với người lính ở tuyến đầu. Thu Bồn, Nguyễn Khải, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Lựu, Vương Trọng, Văn Lê, Phạm Sĩ Sáu đã tích cực góp phần mình bằng những sáng tác sinh động, giàu chất sống.

50 năm qua, nền văn học của đất nước chúng ta đã hình thành một đề tài, một đội ngũ chuyên viết về chiến tranh nhân dân, về lực lượng vũ trang nhân dân, mà Tạp chí VNQÐ là một trung tâm. Mảng đề tài đầy những sự tích anh hùng này là nguồn cảm hứng không chỉ đối với các nhà văn đương đại, mà còn là của cả các thế hệ cầm bút mai sau. Nuôi dưỡng, chuẩn bị đội ngũ cho đề tài có tính chất chiến lược nói trên của văn học đang là mối quan tâm lớn của Tổng cục  Chính trị, của Tạp chí VNQÐ.

Ngoài việc làm báo, các nhà văn của tạp chí còn tích cực sáng tác văn học và luôn xem đây là một nhiệm vụ quan trọng. Hàng chục tiểu thuyết, tập truyện ngắn, bút ký, thơ, trường ca và phê bình lý luận văn học, đã ra đời trong thời kỳ đổi mới. Nhiều tác phẩm được bạn đọc quan tâm và được giải thưởng của Hội Nhà văn, Bộ Quốc phòng... như tiểu thuyết của Lê Lựu, Chu Lai, Triệu Bôn, Trung Trung Ðỉnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Nguyễn Quốc Trung, Ðỗ Viết Nghiệm, Sương Nguyệt Minh... thơ và trường ca của Nguyễn Ðức Mậu, Phạm Ngọc Cảnh, Lê Thành Nghị, Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Hữu Quý... lý luận phê bình của Nhị Ca, Ngô Thảo, Vương Trí Nhàn, Hồng Diệu, Ngô Vĩnh Bình. Một số nhà văn trẻ cũng giành được giải thưởng trong các cuộc thi của các tạp chí, báo và các nhà xuất bản như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ðình Tú, Quỳnh Linh, Ðỗ Bích Thúy, Ðỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai... Trần Ðăng Khoa xuất hiện sớm như một thần đồng, khi được triệu tập về Tạp chí VNQÐ đã tiếp tục có những vần thơ hay và những bài  phê bình, tiểu luận sắc sảo.

Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng mà Tạp chí VNQÐ được giao nhiệm vụ tổ chức đã thành công với 27/30 tác giả, hoàn thành chương trình (khoảng 100.000 trang sách), ghi lại một thời quá khứ hào hùng, cao thượng của dân tộc và quân đội ta. Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đánh giá cao kết quả đó. Nhiều tác giả được nhận giải thưởng, bằng khen của Bộ Quốc phòng và tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.

Hiện nay, đội ngũ nhà văn mặc áo lính đã tham gia các cuộc chiến tranh yêu nước đang thưa dần. Một thế hệ mới sinh ra trước và sau năm 1975, được bổ sung từ các đơn vị, từ các giải thi truyện ngắn, thi thơ của tạp chí và sinh viên các trường đại học. Có thể coi đây là thế hệ kế cận trẻ trung nhất, mới mẻ nhất, đang chung lưng gánh vác nhiệm vụ 50 năm qua của thế hệ đàn anh, đàn chị. Trong 50 năm xây dựng và trưởng thành, đã có bốn nhà văn công tác tại Tạp chí VNQÐ được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, 12 nhà văn được nhận giải thưởng quốc gia và quốc tế về văn học. 32 nhà văn được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Quốc phòng. Tạp chí VNQÐ cũng là nơi cung cấp không ít cán bộ quản lý cho Hội Nhà văn Việt Nam. Nhiều nhà văn đã được tặng thưởng Huân chương Ðộc lập, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Huân chương Chiến công và được thăng quân hàm cấp tướng.

Tập thể Tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng đã được Ðảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Ðơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trao tặng hai Huân chương Quân công hạng nhất và hạng ba, hai Huân chương Chiến công hạng nhất, nhiều bằng khen của Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa - Thông tin và Tổng cục Chính trị.

Vân Phong (Theo QĐND)

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác