Bắt mạch văn trẻ

Trước hết cần ghi nhận sự đóng góp của văn trẻ (trên lĩnh vực sáng tác thơ, văn xuôi) ít nhiều đã làm cho đời sống văn chương đương đại Việt Nam thêm phần sôi động. Nhưng cũng như bất kỳ hiện tượng nào, văn trẻ cũng đồng thời bộc lộ mặt trái, mặt yếu của nó.

Bắt mạch văn trẻ - ảnh 1

Nhà thơ Huy Cận khi đánh giá Thơ mới (1932-1945) đã viết: “Thơ mới tạo ra ngôn từ mới dễ biểu hiện cảm xúc mới. Tiếng Việt trẻ lại với thơ. Sự đóng góp của Thơ mới về ngôn ngữ là rất lớn. Có thể nói dòng Thơ mới như “dòng nước nặng” làm ra năng lượng mới cho mỗi từ, mỗi câu.

Tiếng Việt nhờ Nguyễn Du đã đẹp hơn, trong trẻo, mượt mà hơn. Tiếng Việt đến thời Thơ mới đã đổi thịt thay da một lần nữa, cũng bởi vì các nhà Thơ mới đã yêu tiếng mẹ đẻ một cách tha thiết, ra sức bảo vệ tiếng nói của cha ông bằng những sáng tạo máu thịt của hồn mình” (Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca - Sáu mươi năm phong trào Thơ mới. NXB Giáo dục, H. 1993, trang 12).

Tất cả chúng ta đều biết khi Thơ mới phát khởi (năm 1932) và lên đến đỉnh cao (1935, 1936) thì những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... còn rất trẻ, có thể nói họ thuộc thế hệ “mười tám, đôi mươi” trong thơ.

Văn trẻ bây giờ đã đối xử với tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt như thế nào? Thứ nhất họ tùy tiện “xẻ thịt” tiếng Việt và tiếng Việt trong tay các “phù thủy chữ” nhiều khi chỉ còn là “xác chữ”. Những “xác chữ” tạo nên một kiểu viết vô hồn trong thơ. Lại có nhà thơ nữ đang “ăn khách” không chỉ “xẻ thịt” tiếng Việt, thậm chí còn bóp méo nó khi viết. ngày nay, lối viết như thế đầy rẫy trong văn trẻ, đặc biệt trong thơ. Nhưng căn bệnh thứ hai thì nặng hơn và có bề khó chữa trị - đó là lối dung tục hóa ngôn từ văn chương. Căn bệnh thứ ba của văn trẻ là chạy theo hình thức thuần túy, cố gắng tân kỳ nhưng rút cuộc là dẫn văn chương vào tắc tị. Căn bệnh thứ tư của văn trẻ như Nguyễn Huy Thiệp nhận xét: “Dấu hiệu để người viết văn có thể đi xa được trong nghề chính là trí tưởng tượng phong phú. Trí tưởng tượng giúp người ta bay lên trên thực tế để mà viết. Nhưng xã hội hiện đại có quá nhiều sức ép đè lên vai người viết trẻ (...) thành ra hình như trí tưởng tượng của họ bị giảm sút.

Văn trẻ rõ ràng thiếu sức bay của trí tưởng tượng vì thế rất hiếm thấy con người trong mối quan hệ với thiên nhiên. Chỉ thấy điện thoại di động, máy tính xách tay, xe máy, quán cà phê, vũ trường, chỉ thấy rượu bia và khói thuốc... Nặng nề hơn là chỉ thấy nhà kính, những “chuyện tình công sở”, những quan hệ tay ba dang dở. Con người bị chặt lìa khỏi thiên nhiên trong văn trẻ.

Căn bệnh thứ năm của văn trẻ là tạo ra một lối viết không phải để cho người Việt Nam đọc. Căn bệnh thứ sáu của văn trẻ “làm dáng” trong văn chương với lối viết uốn éo, kiểu cách mà hậu quả là rối rắm làm triệt tiêu sự trong sáng của tiếng Việt: “Có lẽ bản chất của vấn đề là mâu thuẫn giữa mong muốn ổn định và mong muốn phá vỡ sự trì trệ đầy hiểm họa của ổn định hời hợt.

Là cả ham muốn hành động theo bản chất. Cả ham muốn làm cho độc giả trở nên thông minh hơn để hiểu nhau và cùng người viết thúc đẩy nhu cầu sáng tạo trong nhau. Không để lãng phí, lãng quên khi chưa từng nhớ những đỉnh cao đã có.

Căn bệnh thứ bảy của văn trẻ là sự lạm dụng khẩu ngữ: “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách viết” (Từ điển tiếng Việt - Trung tâm Từ điển ngôn ngữ. H.1992). Các cây bút trẻ ưa chuộng đưa khẩu ngữ vào thay thế văn viết trong tác phẩm - hình tượng này là phổ biến và như là một thứ “mốt”. Những người viết trẻ cho đó là một cách làm cho văn chương gần gũi với đời sống. Bảy căn bệnh của văn trẻ mà chúng ta vừa “bắt mạch” trên đã làm phương hại không ít đến giá trị của tác phẩm văn chương. Theo ANTĐ

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác