Các tác giả được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật: Xuân Diệu (1917 – 1985)

Xuân Diệu viết nhiều, sáng tác của ông trải rộng trên nhiều lĩnh vực: thơ, truyện ngắn, tiểu luận phê bình, dịch thuật...Nhưng trên hết, độc giả vẫn nhắc đến ông với cương vị là một nhà thơ. "Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", "Ông Hoàng của thơ tình" – Xuân Diệu – đã để lại cho kho tàng văn học hiện đại Việt Nam hơn 450 bài thơ của mình.

Tên đầy đủ của nhà thơ là Ngô Xuân Diệu, bút danh Trảo Nha, sinh ngày 2-2-1917 tại Tuy Phước, Bình Định, nguyên quán tại Can Lộc, Hà Tĩnh. Trước Cách mạng, Xuân Diệu từng theo học ở Quy Nhơn, Huế, Hà Nội. Thời gian này, ông tham gia viết bài cho các báo Phong Hóa, Ngày nay, Tinh Hoa...đồng thời là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Năm 1938, tập Thơ thơ của ông được xuất bản đã gây tiếng vang lớn trên thi đàn. Năm 1939, ông viết tác phẩm văn xuôi Phấn thông vàng. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, Xuân Diệu vào làm Tham tá thương chánh ở Mỹ Tho, đến năm 1943 ông xin thôi việc và ra Hà Nội. Năm 1944, ông tham gia phong trào Việt Minh. Năm 1945, tập thơ Gửi hương cho gió ra đời đã tiếp tục khẳng định tài năng của Xuân Diệu ở lĩnh vực thơ tình. Mang ảnh hưởng của thơ Pháp, thơ ông ca ngợi tình yêu bằng muôn màu sắc, hương vị và âm thanh, qua đó thể hiện niềm đam mê sống, khát khao tận hưởng tuổi trẻ.

Sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm Thư ký tòa soạn tạp chí Tiên phong. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông công tác tại Đài Tiếng nói Việt
Nam, sau đó chuyển sang Hội Văn nghệ Việt Nam rồi làm Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Năm 1957, Xuân Diệu trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, là Ủy viên thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành của Hội các khóa I, II, III. Nhiều tác phẩm của ông lần lượt được xuất bản: Ngọn quốc kỳ (thơ – 1945), Miền Nam đất nước, Trường ca (văn xuôi – 1945), Thanh niên với quốc văn (tiểu luận phê bình – 1945), Hội nghị non sông (thơ – 1946), Việt Nam nghìn dặm (văn xuôi – 1946),Việt Nam trở dạ (văn xuôi -1948), Dưới sao vàng (thơ -1949), Ngôi sao (thơ – 1954), Ký sự Thăm nước Hung (văn xuôi - 1956), Triều lên (văn xuôi – 1958), Riêng chung (thơ – 1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (thơ – (thơ – 1962), Thi hào Nadim Hítmét (tác phẩm dịch – 1962), Dao mài sắc (tiểu luận phê bình – 1963), Một khối hồng (thơ – 1964), Hai đợt sóng (thơ – 1967), Vây giữa tình yêu (tác phẩm dịch – 1968), Tôi giàu đôi mắt (thơ – 1970), Cây đời mãi mãi xanh tươi (tiểu luận phê bình – 1971), Hồn tôi đôi cánh (thơ – 1976), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (tiểu luận phê bình – 1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (hai tập – 1981, 1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1981), Thanh ca (thơ – 1982), Nicôla Ghiden (tác phẩm dịch – 1982).

Xuân Diệu được phong Viện sĩ Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa dân chủ Đức năm năm 1983, cùng năm này, ông tiếp tục cho ra mắt tác phẩm Một chùm thơ.

Năm 1984, Xuân Diệu hoàn thành và cho xuất bản tập tiểu luận phê bình Công việc làm thơ. Năm 1985, tác phẩm dịch Những nhà thơ Bungari của ông được xuất bản. Ông cũng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương độc lập Hạng Nhất vào năm này.

Xuân Diệu mất ngày
18-12-1985 tại Hà Nội. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Ngọn quốc kỳ, Trường ca, Riêng chung, Mũi Cà Mau – Cầm tay, Một khối hồng, Hai đợt sóng, Tôi giàu đôi mắt, Hồn tôi đôi cánh, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. 

Theo CPV

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác