Đôi điều về văn học của người miền núi

Trong lịch sử văn học các dân tộc thiểu số, từ văn nghệ dân gian đến văn học cận hiện đại đã có những thành tích đáng kể đóng góp vào nền văn học Việt Nam đa dân tộc, đa bản sắc để tạo nên một “vườn hoa văn học đầy hương sắc…” như nhà thơ Nông Quốc Chấn đã khẳng định.

Đêm giã bạn tại Đêm giã bạn tại "Ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc Tây Bắc lần thứ 10".

Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã tạo dựng nên những nhân vật anh hùng mang tính nhân thế đầy chất nhân văn. Nói đến Tây Nguyên chúng ta nghĩ ngay đến vùng đất này có anh hùng Đam San, Đăm Di và nhiều hình tượng văn học vô cùng đẹp đẽ khác. Chỉ một tiếng chiêng, một hồi chiêng ngân lên trong đêm khuya thôi là nghe được, thấy được tâm hồn người Tây Nguyên rồi. Một giọng khắp đối đáp, khắp ru con của đồng bào Thái Tây Bắc cất lên cũng đủ thúc giục các cô gái chưa chồng đi tìm bạn đời…

Trong văn học dân gian Mông, Thái có Tiếng hát làm dâu, Khun Lú Nàng ủa với chất tình ca da diết hiếm nơi có. Người Dao có người anh hùng Bàn Hồ (Piên Hú) trở thành ông tổ của các ngành Dao dám bắn rơi 7 cái mặt trời (bảy vầng tinh tú) chỉ để lại hai cái là mặt trăng và mặt trời. Trường ca Bàn đại hội vẫn chưa được dịch ra tiếng phổ thông. Với dân tộc Cao – lan có hình tượng nữ thần thi ca Kó Lau Slam vừa đẹp vừa tài ba xuất chúng. Hệ thống nhân vật Sa Dạ - Sa Dần trong trường ca Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường thật là kỳ vĩ. Hai dân tộc Tày, Nùng gần gụi nhau về văn hóa cũng có những hình tượng văn học hoành tráng khỏe mạnh không kém (Khảm hải – vượt biển)… Nói chung dân tộc thiểu số nào cũng có hình tượng anh hùng, đế vương mà họ tôn thờ. Các loại hình nghệ thuật phi vật thể khác như: Nhạc, họa, điêu khắc… mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng.

Tất cả những hình tượng, nhân vật văn học nghệ thuật trong dân gian (gọi là văn học cổ đại) đề xuất thân từ nông dân, đi chất đất mặc áo vải; những người anh hùng Tây Nguyên còn không mặc áo bước vào văn học. Trong tranh thờ, tượng thờ dân gian (trừ những hình ảnh vua quan) là có đi giày còn lại đều đi chân đất. Vậy họ làm được những chiến công, những hành động anh hùng kỳ tích đầy tính nhân văn để ung dung “bước vào văn học bằng đôi bàn chân đất”. Công sức trí tuệ (thành tích) này thuộc về các nghệ nhân dân gian, những tác giả vô danh sáng tạo và truyền miệng lại từ đời này sang đời khác, rồi đến thời đại hậu sinh chúng ta mới có chữ để ghi chép lại. Khi chưa có chữ muốn được người đời nhớ thì tác phẩm phải hay, phải thấm được vào lòng người, vào tâm hồn người. Những nghệ nhân, những tác giả vô danh tài ba ấy cũng đều là những người đi chân đất, là những nông dân cày đồng, cuốc nương làm lấy mà ăn, mà sáng tạo văn học nghệ thuật.

Vậy đến thời kỳ cận hiện đại chúng ta thì sao? Nhà văn Tô Hoài viết tiểu thuyết Vợ chồng A phủ, nhà văn Nguyên Ngọc viết tiểu thuyết Đất nước đứng lên, rồi trường ca Bài ca chim chơ rao của Thu Bồn… chắc rằng đều đi dày hoặc dép cao su… để thâm nhập thực tế, để viết. Trong khi đó A phủ, Mỵ, anh hùng Núp và dân làng Kông Hoa đều đi chân đất để … “bắn Pháp chảy máu”… và còn nhiều nhà văn và tác phẩm, nhân vật khác nữa.

Đi giày để viết về người đi chân đất thì làm sao đây? Tôi cũng là một nhà văn trong thế hệ này. Nhiều năm ở vùng cao công tác tôi cứ băn khoăn điều này. Hình ảnh nhân vật trong ảnh nghệ thuật, trong tranh mỹ thuật cũng đều thấy toàn là những người đi chân đất.

Toàn bộ phần nêu trên, tôi muốn đi đến một điều: Các nhà văn chúng ta còn quá xa rời những người lao động, những người nông dân cách mạng làm nê lịch sử chăng. Mới đây tôi lên miền núi thấy các cô gái Thái, Tày, Dao đi cấy. Họ đeo găng tay cao su, chân đi ủng hoặc ghệt… Họ còn điều khiển máy cày, máy bừa mi ni rất “dẻo”. Lạ chứ, hay chứ, hiện đại chứ… Vậy mà họ còn rất xa vời, vắng bóng trong văn học nghệ thuật hiện đại… Gần đây tôi chưa thấy có tác phẩm văn học nào, bức tranh nào nói lên tính hiện đại vượt bậc đó.

Còn một đối tượng (tầng lớp) nữa mà văn học nghệ thuật chúng ta chưa hoặc ít đề cập đến. Tính đến 2005 đã có thời gian dài 75 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 60 năm thành nước. Đất nước chúng đã có một đội ngũ trí thức là người các dân tộc thiểu số hùng hậu, không kém phần thông minh, tài năng: Từ kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, giáo sư tiến sĩ, nhà văn, nhà báo đén các nhà quân sự, nhà lãnh đạo cấp cao – lãnh tụ… góp phần công sức, trí tuệ, tài năng của mình cùng đất nước từ đói khổ vươn lên khá giả, từ trong đau khổ mất nước thoát khỏi chiến tranh vươn tới hòa bình và hội nhập quốc tế… Đối tượng này lại càng vắng bóng trong văn học (hoặc có thì tôi chưa thấy). Vì sao các nhà văn, nhà nghệ sĩ không hướng ngòi bút, ống kính, cành cọ vào họ chứ… Về gốc gác – những đối tượng này đều xuất phát từ đôi chân đất… Nhưng bây giờ họ đã phấn đấu học tập vươn lên, đầu đầy chữ nghĩa, kỹ thuật, đã và đang đem tài năng của mình ra cống hiến cho dân tộc, cho đất nước. Họ đáng được đưa vào lâu đài văn học nghệ thuật chứ. Vậy mà mấy chục năm gần đây hiếm thấy những nhân vật điển hình thuộc đối tượng trí thức dân tộc thiểu số trong văn học nghệ thuật. Riêng trong thơ lại càng hiếm hoi.

Để tạo nguồn cho đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số, chúng ta cần, rất cần để tâm đến đối tượng học sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số nữa. họ cũng có quyền bước vào văn học ngay từ khi còn non trẻ. Gần đây đọc một số truyện ngắn của một số tác giả trẻ đã thấy có bóng dáng học sinh, sinh viên. Song còn rất mờ nhạt, họ chỉ là những nhân vật phụ.

Theo tôi cả hai đối tượng văn học là trí thức dân tộc và sinh viên, học sinh dân tộc thiểu số chúng ta cần bàn luận chuyên đề kỹ hơn, trách nhiệm của nhà văn cần phải đưa họ vào văn học.

Về tạo nguồn cho đội ngũ sáng tác văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số tôi có mấy kiến nghị: Nhìn lại các nhà văn đã thành danh là người dân tộc thiểu số đều ở tuổi 60, 70 cả rồi. Vậy kế tục sự nghiệp lớn lao này là ai? Không ai ngoài lớp nhà văn trẻ. Vì vậy từng tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm đào tạo đội ngũ này kèm theo chính sách tài chính cụ thể. Mỗi năm nên mở các lớp bồi dưỡng, các đợt sáng tác cho từng bộ môn văn, thơ, nhạc, họa… mời các nhà văn lão thành đến truyền đạt kinh nghiệm sáng tác, nâng cao chất lượng tác phẩm, bồi dưỡng kiến thức cho các tác giả trẻ. Tổ chức hội, chi hội từ Trung ương đến các địa phương phải nắm chắc danh sách, hoàn cảnh, điều kiện từng người để động viên hướng dẫn họ sáng tác, tạo điều kiện công ăn việc làm, môi trườn học tập (các trường đại học) và nơi công tác. Nếu cần thiết thì ký hợp đồng với họ như các ngành khoa học khác. Làm được như vậy thì 15, 20, 30 năm sau chúng ta mới có đội ngũ kế cận cho nền văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số nước nhà.

Theo ĐBP

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác