Gặp nhà thơ người Dao “Con của Núi”

Tôi tự hào là đứa con của đại ngàn, với những cánh rừng nguyên sinh âm u, mây buông sương ủ, nơi núi đá tai mèo dựng đứng như bờm ngựa chiến...Tôi sinh ra trên tay người mẹ nghèo hiền lành, buổi chập chững theo các anh chị lên nương ngơ ngác nghe kể đầy gùi cổ tích... (trích Đối khúc đại ngàn).

Gặp nhà thơ người Dao “Con của Núi” - ảnh 1

Đó là những vần thơ của nhà thơ dân tộc Dao Đỏ Triệu Kim Văn viết về mình. Ông sinh ra ở vùng đất khó Cao Sơn, nơi núi cao sừng sững như đỡ lấy bầu trời, nơi bản làng ẩn trong mây mù bao phủ, nơi có những bài láu ton (hát ru) độc đáo, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ. 13 tuổi Triệu Kim Văn mới biết nói tiếng Kinh lúc này ông đi học tại Trường Thiếu nhi Vùng cao Việt Bắc.
Thuở ấy, mọi người đặt cho ông biệt danh là “con mọt sách” vì cả kho sách văn học của thư viện nhà trường đều được ông đọc bằng hết. Tìm hiểu những cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm văn học, cùng với nét đặc sắc trong văn hoá của dân tộc Dao qua các bài láu ton của bà, của mẹ đã đưa ông đến với những sáng tác văn chương. Kỉ niệm sâu sắc nhất đối với ông là được gặp Bác Hồ nhân dịp Bác đến thăm trường năm 1960. Hình ảnh gần gũi, giản dị, nhân từ của Bác như ông tiên giáng thế luôn in đậm trong lòng ông. Đến nay, tấm ảnh đen trắng học sinh Trường Vùng cao Việt Bắc chụp với Bác luôn được trân trọng treo tại phòng khách. Học hết lớp 7, ông tiếp tục sang Trường Bổ túc Công – Nông học lớp 8, sau đó ông học sư phạm và giảng dạy tại Trường Trung cấp Công nghiệp nhẹ của Bộ Công nghiệp, năm 1973 ông thi vào Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó ông công tác tại Ban Dân tộc Tỉnh uỷ Bắc Thái, rồi công tác tại Huyện uỷ Bạch Thông. Đến năm 1997, ông được kết nạp là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và giữ chức Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật Bắc Kạn cho đến lúc nghỉ hưu. Chặng đường sáng tác văn học của ông bắt đầu từ khi ông theo học cái chữ, ông sáng tác do đam mê, sáng tác xong ông lại cất đi, mãi đến năm 1970 ông mới đăng bài thơ đầu tiên trên báo “Việt Nam độc lập” và từ đó ông viết nhiều, viết khoẻ nhưng chủ yếu là đăng trên báo và tạp chí mãi đến năm 1989 ông mới ra mắt tập thơ đầu tiên “Hoa núi”. Thơ của ông giản dị, mộc mạc nhưng tràn đầy sức sống mãnh liệt cũng như người dân miền núi quê ông. Ông là người ít nói, trầm tĩnh nhưng đa cảm, trong lao động nghệ thuật ông miệt mài, hăng say đến nay ông đã xuất bản 5 tập thơ: Hoa núi (1989), Mùa sa nhân (1994), Lá tìm nhau (1999), Con của núi (thơ song ngữ Dao – Việt, 2002), Lửa của mồ côi (2002), Lối cỏ (2004).
Tuy đã nghỉ hưu nhưng ông vẫn miệt mài với công việc, vẫn đau đáu một niềm trăn trở trong việc phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ cây viết trẻ tỉnh nhà, nhất là những cây viết người dân tộc thiểu số. Gặp ông những ngày cuối hè, khi ông vẫn tất bật bên những trang bản thảo còn dang dở, ông cho biết trong thời gian tới ông tiếp tục cho ra mắt hai tập thơ về đề tài dân tộc và miền núi.

(Theo BBK)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác