Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh: Tổ chức Lễ tưởng niệm nhà thơ Thu Bồn

(Cinet) - Nhằm tôn vinh những nhà văn có đóng góp lớn cho nền văn học, văn hóa dân tộc, cách mạng, vừa qua, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh đã phối hợp với Nhóm Văn chương Hồn Việt tổ chức Lễ tưởng niệm nhà thơ Thu Bồn.

Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh: Tổ chức Lễ tưởng niệm nhà thơ Thu Bồn - ảnh 1

Cách nay tròn 6 năm, ngày 17/6/2003, Thu Bồn (1935-2003), một trong những nhà thơ, nhà văn xuất sắc của nền văn học cách mạng Việt Nam đã qua đời.

Thu Bồn tên khai sinh là Hà Đức Trọng, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1935, tại làng Giáp Năm, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1962. Xuất thân trong một gia đình yêu nước, cách mạng, Thu Bồn tham gia thiếu sinh quân từ năm mười hai tuổi. Trong những năm chiến tranh vô cùng ác liệt, Thu Bồn đã lặn lội hết chiến trường này đến chiến trường khác, cùng sống và chiến đấu với nhân dân, với du kích, với quân đội chính quy… Tinh thần xả thân vì nước mãi mãi ngấm sâu và tim óc nhà thơ, âm vang sâu sắc trong những bản trường ca, những bài thơ và sôi sục trong những cuốn tiểu thuyết. Lãng mạn đến tột đỉnh, yêu thương nồng cháy, hiện thực đến tươi rói, đó là tinh thần chủ đạo trong các tác phẩm văn, thơ của Thu Bồn”.

Tác phẩm chính của Thu Bồn gồm: 7 trường ca và 4 tập thơ, 9 tiểu thuyết và 2 tập truyện ngắn: Bài ca chim Ch’rao (trường ca, 1962); Tre xanh (thơ, 1969); Mặt đất không quên (thơ, 1970); Quê hương mặt trời vàng (trường ca, 1975); Badan khát (trường ca, 1976); Cămpuchia hy vọng (trường ca, 1978); Oran 76 ngọn (trường ca, 1979); Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985); Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985); Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992); Ôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999). Văn xuôi Thu Bồn có 9 tiểu thuyết (có 2 bộ hai tập) và hai tập truyện ngắn: Chớp trắng (tiểu thuyết, 1970); Hòn đảo chân ren (tiểu thuyết, 1972); Dòng sông tuổi thơ (tiểu thuyết, 1973); Những đám mây màu cánh vạc (tiểu thuyết, 2 tập, 1975); Em bé trong rừng thốt nốt (truyện, 1979); Đỉnh núi (tiểu thuyết, 1980); Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (tiểu thuyết, 1986); Vùng pháo sáng (tiểu thuyết, 1986); Cửa ngõ miền Tây (tiểu thuyết, 1986); Em bé vào hang cọp (tiểu thuyết, 2 tập, 1986); Dưới tro (truyện ngắn, 1986).

Thu Bồn đã được tặng Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Á-Phi, 1973, với trường ca Bài ca chim Ch’rao; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.

Cũng tại Lễ tưởng niệm, đã có hơn một chục bản tham luận và nhiều ý kiến phát biểu của các nhà văn nhà thơ, các giáo sư văn chương, những người bạn thân của Thu Bồn, những người yêu qúy thơ Thu Bồn, nhằm tôn vinh nhà thơ – chiến sỹ xuất sắc Thu Bồn. Những tham luận soạn sẵn cũng như các phát biểu trực tiếp, từ nhiều góc tiếp cận, giúp người nghe hình dung lại một Thu Bồn hiền lành, yêu thiên nhiên và con người tha thiết. Song, vượt lên tất cả là Thu Bồn chiến sĩ, đã sống chết cùng Tổ quốc qua những cuộc kháng chiến thần thánh của cả dân tộc, còn âm vang mãi trong thơ ông.

 

K.A (Tin từ HNV)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác