Hồn thơ Hà Nội

Ngàn mùa xuân đi qua và đọng lại để chúng ta có một Hà Nội vượt cả ước mơ người sinh thành là Lý Công Uẩn. Từng ấy mùa xuân, ai đong ai đếm được đã có bao nhiêu bài thơ tuyệt tác về mảnh đất đế đô, kinh thành, kẻ chợ này... Có vui và có buồn. Có nghiêm trang và cười cợt. Có du dương và gồ ghề. Có ngọt ngào và đắng cay. Có thanh bình và máu lửa...

Có ai ở Hà Nội không thuộc bài thơ não nuột tiếng thở dài hoài cổ của bà Nguyễn Thị Hinh, vợ một ông quan huyện, mà rồi người ta quên cả tên bà lẫn tên chồng, chỉ còn nhớ đó là một nữ thi sĩ lừng danh nhiều thế kỷ: Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ có những câu chắc rằng còn sống mãi, không tạc thành vàng thành đá, không được thờ trong Văn Miếu vàng son, nhưng nó luôn vang lên trong tâm khảm bao người, từ người sống trong khu phố cổ băm sáu phố phường, đến người đang làm ăn, đọc sách, cấy cày ở một làng quê nào đó... cho chí con người lầm lũi tha phương nơi cuối trời băng giá hay ngột ngạt nắng rừng:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương...

Không hiểu ngày bà tung ngọn bút để làm thơ, bà gạt nó vào cái nghiên mực, vuốt tờ giấy trắng... thì bà ngồi ở chỗ nào trong một góc Thăng Long? Có còn chiếc xe ngựa nào gõ móng kêu lốp cốp vào sương khuya? Có còn lâu đài nào in bóng chếch vào chiều bảng lảng? Và đá trơ gan kia là đâu, có phải đá trên núi Khán, núi Nùng, núi Sưa? Và hồ nước nữa? Nước chau mặt ấy là nước hồ Lục Thủy hay nước hồ Lãng Bạc, Kim Ngưu? Biết đâu nó lại là nước con sông Lừ, sông Sét hay dòng Tô Lịch trong câu ca dao:

Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em dừng chèo ghé sát thuyền anh

Mà nước chau mặt thì đời nào chẳng có, phải chăng chính là hồn bà Huyện chau mặt, tình bà Huyện chau mày, như nàng Tây Thi xưa ôm bụng vì đau quặn thắt?...

Lại có câu thơ:

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung

Nhà cũ trăm nghìn năm đã thành đường cái. Một tòa thành mới làm mất hẳn lâu đài cung điện ngày xưa... Buồn quá, một Thăng Long những chiều tà số phận! May sao vẫn còn có người đàn bà mặt hoa da phấn (nghe đâu nàng hơi rỗ hoa và nước da bánh mật) vẫn tinh nghịch, nói về cái quạt mười bẩy hay mười tám nan, cũng là mười bẩy hay mười tám tuổi, đến nỗi quân tử:

Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày

và mùa xuân đến, mùa tình ái đưa thoi, mùa dệt thịnh vượng mê say, mùa hát giăng tơ đối đáp, bà họ Hồ quái kiệt đó bảo với cây đu rằng:

Trai đu gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng...

 

làm ta chợt liên tưởng đến bài thơ dân gian khuyết danh:

Ối chị em ơi có biết không

Một bên con ẵm một bên chồng

Bố cu lổm ngổm bò trên bụng

Thằng bé o oe khóc giữa lòng...

Chưa hết, bà Hồ còn nói thêm:

Chơi xuân có biết xuân chăng

Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không...

                   (Hồ Xuân Hương)

Vẫn là cái đu bằng tre đó thôi. Tàn cuộc, hết xuân, cây đu cùng cây nêu hạ xuống, chẳng còn mấy cái lỗ là gì? Đâu có ỡm ờ như người quân tử rởm nghĩ lan man...

Thơ cùng tồn tại với ca dao. Nhà thơ Giang Quân đã sưu tầm được mấy quyển sách về ca dao ngạn ngữ Hà Nội, trong đó mùa xuân và tình trai gái không ít. “Rủ nhau đi khắp Long thành...”, quả là những câu thơ bình dị mà đáng nhớ. Băm sáu phố phường hay bẩy mươi hai phố phường... ta cứ đọc mà nghe tên phố vang lên để nhắc nhở về mảnh đất tình người kỳ thú này...

Hà Nội từng có bao nhiêu nhà thơ sinh sống? Nhiều lắm. Chỉ tính thế kỷ XX đã có hàng trăm, trong đó nhiều nhà thơ danh tiếng không ít.

Câu nói cửa miệng của nhiều người: “Than ôi thời oanh liệt nay còn đâu” không phải câu văn trong tiểu thuyết, mà nó chính là câu thơ trong bài Nhớ Rừng của nhà thơ Thế Lữ. Trước khi giải phóng miền Nam, Thế Lữ từng ngụ tại số nhà 50 phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi trụ sở Đoàn kịch nói Trung ương.

Câu thơ “Liễu buồn buông xuống lệ ngàn hàng” là của Xuân Diệu, người ở nhiều năm trên phố Cột Cờ, nay gọi là đường Điện Biên, với câu thơ tự riễu:

Nhà tôi hăm bốn cột cờ

Ai yêu thì đến, ai lờ thì thôi...

Còn Chế Lan Viên, người tự nhận mình là “vườn hoa lan của người họ Chế” cũng nhiều năm sống ở trụ sở Hội văn nghệ số 51 phố Trần Hưng Đạo, ngôi nhà này từng là tư dinh của các đời thị trưởng thành phố... ông có câu thơ như một chân lý:

 Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn..

Đúng hay sai, ta tự ngẫm thì ắt rõ. Mảnh đất ta ở, ngôi nhà ta ở, con phố ta ở và thành phố này ta ở, ta vui buồn, ta sinh con đẻ cái, ta sống chết, ta rỏ máu và nước mắt, mồ hôi, ta sáng tạo và nhọc nhằn, ta thức với gió đêm và dậy cùng tiếng xe rồ máy, tiếng còi tàu thúc giục những chuyến đi xa...

Hà Nội nghìn năm đã có bao nhiêu triệu người sống chung như thế? Hình như chúng ta còn thiếu một biểu đồ thống kê tư liệu mấy trăm năm nay. Phải có người sẽ làm, vào đời nào thì chưa biết.

Phố hàng Quạt từng có nhà thơ Yến Lan. Phố Yết Kiêu có nhà thơ và nhạc sỹ Văn Cao (ở số nhà 108). Hồ Dzếnh cha người Hoa mẹ người Việt ở phố Trần Quốc Toản ngã ba với phố Huế, nhờ vào hiệu tạp hóa của vợ, tức bà Hồng Nhật, mà làm thơ, thơ hay đến thế:

 

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé...

Nhà thơ Quang Dũng ở khu tập thể Nguyễn Công Trứ. Nhà thơ Trần Huyền Trân suốt đời gắn bó với ngõ Cống Trắng- Khâm Thiên và khu Nam Đồng ngóc ngách. Lưu Trọng Lư cứ ngơ ngác nai vàng ở phố Hàng Đẫy...

 Những Nguyễn Bính, Hằng Phương, Thanh Tịnh, Lê Đại Thanh và hàng trăm thi sĩ... hồn ai còn phảng phất với Thăng Long, với Hà Nội suốt bao trăm năm sau này nữa, hỡi Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Thâm Tâm, T.T.KH...?

Có một nhà thơ đã viết, đang viết và còn viết vĩnh viễn bài thơ Hà Nội. Nó không chỉ là thơ mà còn là tâm sự, nỗi niềm thời đại, chí khí nước non, cứ xuân về lại khuyên những vòng son chói đỏ vào bầu trời Hà Nội. Đó là Phương đình Nguyễn Văn Siêu và nghe đồn rằng nhà thơ ấy có mối tương giao thắm thiết với Chu thần Cao Bá Quát nên mới được vua Tự Đức gắn hai người làm một, so sánh với hai ông chú ruột của mình là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương:

Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường

Khi ông Thần Siêu dựng cây bút để viết thơ vào trời xanh Hà Nội thế nào cũng tốn hàng trăm bầu rượu Kẻ Lủ, Kẻ Mơ bên cạnh một ông Thánh Quát mà ngâm ngợi, mà ý đồ, mà phác thảo, mà đàm nghị cho cây bút đá ấy ra đời... Còn đây ngòi bút đang viết những vần thơ thiên cổ. Ta vẫn nghe, ta vẫn đọc, ta vẫn xem được những tài thơ ấy trong mây bay, trong gió liễu, trong lược cầu son chải vào mái tóc tiếng thở dài một Thăng Long thăng trầm đứt nối...

Đài Nghiên và Tháp Bút vẫn còn đây. Trí tuệ Thăng Long vẫn còn đây, hình như các tác giả bài thơ Thăng Long tráng khúc ấy vẫn chiều chiều, đêm đêm, xuân xuân, hạ hạ, thu thu... sửa sang từng nét mực óng ánh thời gian... có nét mác như lông mày người con gái, có nét ngang như chí trai hồ phỉ, có nét sổ thẳng đứng như lòng trượng phu... để bài thơ Hà Nội kia âm vang vào hồn sâu con cháu.

Trước Tháp Bút, từng có 7 gốc vông hoa son rực rỡ. Tiếc sao vó câu thời gian phi qua đây vun vút, nay chỉ còn lại 4. Đó cũng là 4 câu thơ một góc trời Hồ Gươm hùng khí.

Mặc dù ở đời, người thích thơ, người chẳng yêu thơ, nhưng thơ vẫn cứ sinh ra và tồn tại, hồn thơ Hà Nội vẫn tung tỏa bay, góp phần làm nên một Hà Nội nghìn năm thi sĩ, vạn năm thi nhân bất tuyệt...

(Theo HNM)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác