“Lịch sử mỗi nền văn chương đều có lúc trồi, lúc sụt...”

Năm 2006 đã qua và đời sống văn chương Việt Nam với tất cả những ồn ào của nó đang đặt ra nhiều vấn đề cần lý giải. Nhân dịp đầu năm 2007, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với cây bút lý luận - phê bình Nguyễn Hòa, không chỉ về tình hình văn chương, mà cả về những suy nghĩ của ông trước tình hình ấy.

“Lịch sử mỗi nền văn chương đều có lúc trồi, lúc sụt...” - ảnh 1

- Từ những gì đã đọc, đã suy ngẫm và từ nghề nghiệp của mình, ông có thể đánh giá một số nét chính của văn học Việt Nam trong năm 2006 vừa qua ?

- Trước hết cần thống nhất rằng dù có đọc có suy ngẫm thế nào thì sự đánh giá vẫn tùy thuộc vào yếu tố chủ quan của mỗi người, nên hãy coi đánh giá của tôi ở đây chỉ có ý nghĩa tham khảo. Theo tôi, trong năm qua nhìn về hình thức thì văn chương của chúng ta có vẻ “lộn xộn” nhưng nếu đọc rộng và đọc kỹ, có thể nhận thấy bên dưới cái vẻ “lộn xộn” kia dường như đã bắt đầu có sự “nhích lên”. Dẫu còn có đánh giá khác nhau vẫn cần kể tới một số tiểu thuyết được nhiều người chú ý, hay tới các động thái về tổ chức như các hội nghị về lý luận - phê bình, về hội nghị của người viết trẻ... Ngay các cuộc thảo luận bàn tròn tổ chức hàng tháng của các cây bút thơ trẻ ở TP Hồ Chí Minh cũng rất đáng quan tâm. Hình như trạng thái không còn thỏa mãn với lối nghĩ, lối viết cũ đã manh nha lộ diện ở một số chấm phá. Trong nhiều cuốn sách xuất bản năm qua, tôi chăm chú đọc cuốn T mất tích của Thuận, ít ra cũng ở chỗ nó được viết từ một tâm thế, một lối viết khác hẳn với các tâm thế, các lối viết đã quá quen thuộc và như đã trở nên nhàm chán. Tôi nghĩ thế là mừng rồi, phần còn lại là các nhà văn sẽ đi tiếp ra sao.

- Trong năm qua, đã có một số tác phẩm gây được sự chú ý trong dư luận, như “Mẫu thượng ngàn”, “Ba người khác”... và đặc biệt là cuốn “Lê Vân yêu và sống”, theo ông những cuốn sách này có sáng tạo gì mới so với văn học của những năm trước ?

- Theo tôi, ngoài cuốn Lê Vân yêu và sống không biết có nên coi là một tác phẩm văn chương hay không, còn đa số tác phẩm năm qua được dư luận chú ý chủ yếu không phải do chất lượng tư tưởng - nghệ thuật cao hay có sáng tạo mới mẻ, chúng hấp dẫn ở “tính vấn đề”, ấy là chưa nói tới một khả năng nữa là sự chú ý đôi khi chỉ là kết quả của các “chiêu thức” quảng cáo. Tôi không đánh giá cao Mẫu thượng ngàn, bởi cuốn sách chứa đựng một ý tưởng chưa hoàn chỉnh, lối viết không mới, lan man, nhiều đoạn như là nơi để tác giả khoe kiến thức. Trong khi đọc Mẫu thượng ngàn, có lúc tôi tự hỏi không biết trong số các tác giả đã ca ngợi tít mù liệu có ai chưa đọc nó một cách kỹ lưỡng hay không ? Với sự lên ngôi của báo chí, trong mỗi thời đoạn rất ngắn, báo chí luôn cần tới một sự kiện, một con người, một hiện tượng... nào đó để khai thác. Thời đoạn qua đi thì sự kiện, con người, hiện tượng đó cũng... đi theo! Có lẽ tính chất “sự, vụ và cập nhật” của báo chí đã sản sinh ra một vài nhà phê bình chuyên làm cái việc quảng bá này, hễ thấy có tác phẩm “là lạ” là lập tức hát toáng một bản tụng ca, đôi khi còn huy động mấy “ông Tây bà đầm” ở tít trời Tây để yểm trợ cho ý kiến của mình. Tôi nghĩ dường như trong khi hành nghề, có tác giả đã không đề phòng tình huống “đánh lừa người đọc”, đẩy người viết phê bình tới sự vô trách nhiệm, bằng chứng là số phận của  phần lớn các tác phẩm được tâng bốc kia đều rất ngắn ngủi. Nên lâu nay tôi không để mình bị cuốn theo các tác phẩm được báo chí ca ngợi, tôi cố gắng đọc một cách độc lập, cố gắng phát biểu một cách khách quan. Như với cuốn Lê Vân yêu và sống chẳng hạn, trước đây tôi không có ý kiến gì, nhưng bạn đã hỏi, tôi xin nói luôn: Ngoài nỗ lực của Bùi Mai Hạnh thì chẳng có gì mà ầm ĩ, cuốn sách đó hết ngày của nó rồi !

- Từ thực trạng của quan hệ giữa văn học và công chúng, có người cho rằng tiếp nhận của bạn đọc (nhất là bạn đọc trẻ) đã có sự thay đổi, họ thích “cái lạ”, “cái phá cách” hơn là “cái cổ điển”, ông nghĩ sao về nhận xét này ?

- Cũng phải tính đến cả ý kiến là ngày nay các phương tiện thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ (nhất là các phương tiện nghe - nhìn) phong phú hơn trước đây nên công chúng văn chương cũng suy giảm theo. Sự lý giải nào cũng có lý của nó, đừng bỏ qua, ít ra cũng cung cấp cho những người quan tâm có thêm một cách nhìn. Riêng tôi, tình trạng mà bạn đề cập trước hết có liên quan trực tiếp tới nhà văn, tới các sản phẩm do họ làm ra. Sự chuyển dịch trong xu hướng tiếp nhận thẩm mỹ của công chúng mới chỉ là một yếu tố thôi, hãy thử xem xét trẻ em chẳng hạn, tình hình lại hoàn toàn khác. Nếu nói để chơi, để xem thì trẻ em hôm nay có rất nhiều phương tiện hiện đại và hấp dẫn, vậy mà những cuốn sách như Harry Potter, Đôrêmon, Animorphs..., vẫn lôi cuốn các em, không chỉ ở Việt Nam, mà trên phạm vi thế giới. Cái gì là thời thượng, là mode thì sẽ nhanh chóng bị bỏ qua, chỉ còn lại những gì chứa đựng các phẩm chất có khả năng trở thành “cổ điển” thì mới được lưu giữ cùng thời gian. Với văn chương cũng vậy, tác phẩm chỉ đáp ứng được nhu cầu của một thời đoạn thì người đọc nhanh chóng lãng quên là tất nhiên.

-  Có người tổng kết rằng về mặt sách hay thì hiện tại đang có tỷ lệ 3/1, rất mất cân đối giữa sách dịch và sách do nhà văn trong nước viết ra?

- Tôi chưa biết ai đưa ra tổng kết ấy, song quả thật là các cuốn sách dịch “hay” đang có vẻ lấn lướt sách “hay” trong nước. Rừng Na-uy, Biên niên ký chim vặn dây cót... rồi sắp tới là Hạt cơ bản, toàn những cuốn đáng đọc, những cuốn sách buộc người ta sau khi đọc xong phải ngẫm ngợi, phải suy nghĩ, sách “hay” trong nước hầu như chưa có các phẩm chất có thể đưa người đọc tới trạng thái tinh thần ấy. Vả lại, còn có thể đặt ra một khả năng nữa là người ta đọc chủ yếu là do tò mò chứ chưa hẳn vì những cuốn sách đó... “hay” ?

- Ông có cho rằng trong những năm trước mắt, văn học Việt Nam sẽ bị “đứt quãng” khi các nhà văn cao tuổi thì “buông bút”, còn các nhà văn trẻ thì hoặc là không muốn theo nghề này, hoặc chưa đủ bản lĩnh để dấn thân trở thành nhà văn chuyên nghiệp ?

- Lịch sử mỗi nền văn chương đều có lúc trồi, lúc sụt, dẫu con người không muốn như thế. Và hay - dở ra sao thì cũng chẳng khi nào bị “đứt quãng”, vài thập kỷ nữa nhìn lại văn chương, hậu thế vẫn nhìn nó trong tính liên tục. Vấn đề còn lại là ở chỗ, hậu thế sẽ đánh giá thế nào mà thôi. Tôi nghĩ đối với văn chương, già hay trẻ thì cuối cùng vẫn là tài năng, nhà văn thật sự có tài sẽ tìm ra phương cách giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa những vấn đề văn chương phải làm (xin nhấn mạnh - NH) với nhu cầu của bạn đọc. Thiếu tài năng hoặc là nhà văn sẽ lẽo đẽo chạy theo chiều nịnh thị hiếu nhất thời của một bộ phận bạn đọc, hoặc là sẽ cao ngạo mà bảo rằng vì bạn đọc “dốt” nên không tiếp nhận được tác phẩm. Hai xu hướng ấy xem ra đang nổi trội trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay và chúng đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo. Còn “nhà văn chuyên nghiệp”, trong hơn nửa thế kỷ nay người có thể gọi là “chuyên nghiệp” - chuyên một nghề, xem ra chỉ có vài ba vị thôi. Thích viết văn mới là một phần, dám “dấn thân” cho nó lại là chuyện khác. Hy vọng rồi đây sẽ có những con người “quả cảm” như vậy!

- Vâng, xin cảm ơn về cuộc trò chuyện thẳng thắn này !

(Theo HNM)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác