Mai Văn Phấn và Ðồng Ðức Bốn - hai gương mặt thơ tiêu biểu

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa truyền thống và hiện đại đang là một vấn đề quan trọng của tiến trình đổi mới thơ Việt Nam. Ðiều đó cũng có nghĩa, cuộc sống đang đòi hỏi các nhà thơ cần tiếp tục khám phá, sáng tạo, để thơ tiếp tục đồng hành cùng đời sống tinh thần của dân tộc.

Trong các năm qua, dù mỗi tác giả có sự lựa chọn khác nhau, song với một số tác phẩm được đồng nghiệp và công chúng trân trọng, có thể coi Ðồng Ðức Bốn và Mai Văn Phấn là hai nhà thơ tiêu biểu ở TP Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung.

Nếu thơ lục bát của nhà thơ Nguyễn Bính là hơi thở đồng nội, là hồn quê, thì theo cách nói 'dân dã', lục bát của Ðồng Ðức Bốn là thơ của đời thường, cất lên từ thị thành xô bồ, từ tay ướt chân ráo chốn lấm lem đồng bãi... Hơn thập niên qua, rộ lên trào lưu cách tân thơ, không ít người đã nhọc nhằn, vò đầu tìm kiếm từ mới, ý lạ đưa vào thơ mình để cố làm sang, làm lạ. Ðồng Ðức Bốn đã đổi mới thơ theo lối khác. Cũng như Nguyễn Bính trước đây, anh không cố tình dụng công tạo nên ý thức cầu kỳ về chữ nghĩa, không nhặt góp chữ mới, ít lao tâm tìm từ lạ. Thơ anh bộn bề ngôn ngữ đời thường. Vẫn chỉ là chuông chùa, chớp bể, mưa nguồn, chăn trâu, rơm rạ, chợ quê, giếng đình, gốc đa, là bán buồn mua vui... Vốn từ trong thơ anh không mấy nhiều, nhưng tài của Ðồng Ðức Bốn là biết biến hóa, xếp ghép số từ ít ỏi, bình dị đó để thành một bài thơ, thành nhiều bài thơ có ma lực truyền cảm, lan tỏa. Một nhà thơ đã gọi đấy là lộc trời. Có lẽ vậy. Nhiều khi có cảm giác Ðồng Ðức Bốn không cố ý làm thơ, chỉ là sự buột miệng tự nhiên: Ôi mẹ ơi, đê vỡ rồi - Mộ cha liệu có lên trời hay không? Hoặc: Xong rồi chả biết đi đâu - Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương! Hoặc nữa: Em bỏ chồng về ở với tôi không? Bâng quơ, nôm na là vậy. Thơ anh cũ, nền nã mà ẩn chứa sự ngang tàng, phá cách kỳ lạ: Rét lòng khát ngọn lửa nhen - Mà áo đỏ, áo đỏ em đâu rồi. Nhưng thật ra anh có ý thức nâng thể loại này lên những cung bậc khác. Vẫn là cốt hồn thơ dân gian, nhưng đã ẩn chứa lối nói hiện đại. Anh biết khai thác điểm mạnh nơi mình, đấy là khả năng thể hiện nhuần nhuyễn một dạng thức của thơ truyền thống và tuyệt đối trung thành với thế mạnh ấy, thể loại ấy. Thơ Ðồng Ðức Bốn là xâu chuỗi những tâm trạng bất ổn, liên tiếp những cuộc lên đường để tìm đến cái tôi bình an, cái tôi đích thực của mình, và, anh đã gặp sự cô đơn đẹp đến nao lòng trong câu thơ: Tôi từ ngõ nhỏ ra đi - Nhìn trăng trên sóng nhiều khi rất buồn.

Lục bát là thể thơ dung dị, thuần phác, dễ sắp âm vần, dễ nhập vào lối sống dân dã. Thể thơ này ngỡ như dễ làm, dụ mị không ít người, nhưng người viết rất khó đạt đỉnh cao. Kiếm được câu lục bát hay, quả không dễ chút nào. Bởi vậy với nhà thơ Ðồng Ðức Bốn như là ân huệ trời cho, đó là bản năng thi sĩ khi cầm bút. Thơ anh là sự kế thừa tự nhiên, nhưng đôi lúc ý thức được cách diễn đạt của ca dao, dân ca. Ðó là lối nói bâng quơ, bắc cầu, quanh quẩn, vu vơ... Vu vơ mà không vu vơ khi nhà thơ đã nhìn thấy được cái thần thái của sự vật, giờ chỉ còn tìm cách diễn đạt thật giản dị, thậm chí nôm na cho dễ hiểu mà thôi.

Ca dao, dân ca thường dùng cách nói bắc cầu, liên hoàn, vu vơ để diễn tả tâm trạng ngơ ngẩn, đắm say của trai gái nơi thôn dã như: Trèo lên cây bưởi hái hoa - Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân - Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc - Em lấy chồng anh tiếc lắm thay. Ðến Ðồng Ðức Bốn cách diễn đạt đã khác, vẫn trên nền tảng của ca dao, nhưng hiện đại và sáng tạo: Cánh hoa sắc một lưỡi dao - Vì yêu tôi cứ cầm vào như không. Thơ Ðồng Ðức Bốn là thơ của công chúng, với một số bài thơ được truyền miệng, nhiều người thuộc. Có thể chưa hẳn là tất cả, nhưng có lẽ cũng là một trong những tiêu chí nhiều nhà thơ đang hướng tới. Những câu thơ giản dị như Cầm vàng bán cái vàng đi - Ðể mua những cái nhiều khi không vàng. Hoặc: Chợ chiều đem bán những vui - Ðã mua được cái ngậm ngùi chưa em - Chợ buồn bán nhớ cho quên - Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày... là mật ngọt, là hương nhài, dễ quyến rũ, mơn man, thậm chí có đôi lúc 'phỉnh phờ' bộ nhớ người đọc.

Ðồng Ðức Bốn biết viễn du cùng ngôn ngữ, biết đặt ngôn từ thông dụng đúng ở đích chốt của thi cảnh, để ngôn từ ấy sáng lên, và thăng hoa. Người tài hoa là người biết đưa ngôn từ lên 'ngôi vua, ngôi hậu'. Tài thơ Ðồng Ðức Bốn chủ yếu ở khả năng sử dụng một cách biến ảo ngôn ngữ đời thường, và đầy bất ngờ. Thơ anh nhiều sắc mầu, tựa vật phẩm trang trí, dễ quyến rũ... Ðồng Ðức Bốn có nhiều câu thơ lục bát ấn tượng và tài hoa, nhưng anh không nhiều lắm những bài thơ có sức nặng trí tuệ mang tính tư tưởng cao. Thơ anh giống như chùm pháo hoa bắn lên làm sướng mắt người xem, nhưng khi bình tĩnh nhìn lại, vẫn thấy tiếc một điều gì đó, cứ thấy thiếu một cái gì nằm ở đáy sâu cuộc đời găm chặt vào nỗi lòng người đọc. Nhiều khi anh đã để chất đồng dao dân dã ùa vào thơ mình, tạo nên những tác phẩm dễ dãi... Phải chăng đấy là sự vắng thiếu rất đáng tiếc tính chuyên nghiệp trong sáng tạo trong suốt sự nghiệp thi ca của anh?

Nếu Ðồng Ðức Bốn là nhà thơ lục bát tài ba bẩm sinh, trung thành với thơ truyền thống, bằng bút lực giàu ấn tượng đại diện tiêu biểu cho thi pháp cổ điển, thì ngược lại, Mai Văn Phấn là nhà thơ tiên phong sáng tạo theo hướng đổi mới, cách tân, định hình một tư duy thẩm mỹ mới, và điều đáng mừng là anh đã thành công, được khẳng định, được dư luận hoan nghênh, đánh giá cao. Nhưng thơ Mai Văn Phấn không dễ đọc. Nó không có chỗ cho sự ù lỳ, dễ dãi. Thơ Mai Văn Phấn là sự cô đặc ý tưởng và chữ nghĩa. Do vậy đọc thơ anh, trước hết rất cần sự đồng cảm, tháo gỡ những quan niệm cũ về thơ vẫn nằm ẩn sâu trong mỗi người, cần vươn tới kiếm tìm những định tính mới, giá trị mới. Mang tâm lý cố chấp, tư duy một chiều và thói quen dị ứng trước cái mới sẽ khó tiếp cận. Hành trình thơ Mai Văn Phấn là quá trình nhận thức và đổi mới phương cách thể hiện. Cách thể hiện của Mai Văn Phấn là khát vọng trong ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp; hay đúng hơn, anh muốn phản ánh, đặt tên lại các hiện tượng trong cuộc sống. Cuộc sống vốn đa tạp và phong phú, thơ phải được gợi mở trong cấu trúc không gian đa chiều. Làm thơ là sự khổ công tìm kiếm bám níu có ý thức và vô thức lý tưởng mà mình đam mê. Ðấy là bản ngã và bản lĩnh người làm thơ.

Cũng như Ðồng Ðức Bốn, Mai Văn Phấn rất có ý thức trong cách sử dụng ngôn từ, nhưng anh đi theo lối hiện đại, mới mẻ, tránh sự mòn nhảm, anh biết để câu chữ lan tỏa trọn vẹn hết nội hàm và sức lay động của nó trong từng tình huống thơ. Ðấy chính là cấu trúc điển hình ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn. Ðể có được bài thơ bạn đọc quan tâm thật không dễ dàng chút nào. Chữ là thứ 'tiền tệ' đặc biệt trong 'ngân hàng' của nhà thơ. Nhà thơ có tài phải biết cách dụng chữ, làm cho những con chữ vô tri không chỉ lên tiếng, mà còn ngân lên, mở ra được không gian thơ riêng biệt và sang trọng. Không gian ấy tường minh, soi tỏ, hắt sáng lên bề mặt cuộc sống đa hợp và nhiều biến động hiện thời. Nếu gọi chữ là sứ giả của nhà thơ, là người phát ngôn của nhà thơ, thì lấp ló sau những con chữ nhọc nhằn, biến ảo và dụng công của Mai Văn Phấn, chính là tâm thế, trách nhiệm và niềm đam mê của nhà thơ trong lộ trình thơ hiện nay. Khi đánh giá Mai Văn Phấn, chúng tôi cho rằng ngoài sự tài hoa, đam mê, phông văn hóa, tri thức, sự kiên trì nhẫn nại trong sáng tạo, anh còn là nhà thơ dũng cảm và giàu bản lĩnh. Thơ Mai Văn Phấn hiện có bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ dễ tiếp cận thơ anh hơn.

Thơ ca viết theo phong cách nào, trào lưu nào, cấu trúc ra sao thì mục đích cuối cùng cũng vẫn không gì khác hơn là hướng tới miền cộng sinh của cái đẹp, sự tao nhã và đạo làm người. Ấy là giá trị văn hóa, giá trị nhân văn của văn học nói chung. Tuy nhiên, giá trị mà mỗi người đi tìm cho bản thân mình mới quan trọng. Cộng hưởng những giá trị ấy làm nên tầm vóc văn chương đương đại chúng ta. Nếu coi thơ Ðồng Ðức Bốn và Mai Văn Phấn là đại diện cho hai dòng thơ, hai lối thể hiện, hai thi pháp khác nhau, thì đó cũng là những đóng góp đáng kể vào thành tựu thơ Việt Nam đương đại.

 

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác