Một hồn thơ giàu cảm xúc và nhiều suy tưởng

Dương Trọng Dật là một nhà báo, một Tổng biên tập đang điều hành cơ quan báo chí có đến chín ấn phẩm, trong đó bốn, năm ấn phẩm ra hằng ngày, mà vẫn có thể viết bình luận đều đều, hơn nữa còn viết tiểu thuyết, làm thơ, ra sách đều đều, quả thật là một hiện tượng rất đáng tìm hiểu trong giới báo chí Việt Nam. Bài viết này chỉ đề cập đến tập thơ Lúng liếng là lúng liếng ơi của anh vừa ra mắt mới đây do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành.

Một hồn thơ giàu cảm xúc và nhiều suy tưởng - ảnh 1

Có thể vì làm báo, cho nên nhiều bài thơ của Dương Trọng Dật thường mang đậm dấu ấn thời sự. Những sự kiện có vẻ ít dính líu đến thơ, như sự sụp đổ của Liên Xô cũ, cuộc chiến tranh ở vùng Vịnh,  ở Afghanistan, ở Li-băng, v.v. anh vẫn tìm ra những chi tiết và ý tưởng thích hợp cho cảm xúc và phát triển tứ thơ. Sự tráo trở của lương tri, Những vần thơ trái mùa, Khúc ai điếu cho hòa bình, Ðất hỡi người ăn gì mà quá khát là những bài thơ như vậy.

Trên nền cảm xúc mạnh, tính chính luận sắc bén khiến cho những câu thơ mang tầm vóc mới:

"Chân ngụy lộn sòng lắm kẻ nhân danh
Ngọn cờ giả nhân văn đau lương tâm nhân loại
Giọt nước mắt tượng Nữ thần Tự do
Bỗng già đi ngàn tuổi
Trong giá lạnh bản Tuyên ngôn nhân quyền
Nghe nước mắt trẻ con rơi" (*).

Nhìn những thường dân, những em thơ vô tội gục ngã vì chiến tranh anh thẳng thắn vạch ra

"Những xảo ngữ lộng ngôn dân chủ nhân quyền
Bỗng trở thành trò chơi trí trá
Siêu thực ước vọng con người
Siêu thực cả ước mơ".

Nhưng cho dù thế nào anh vẫn tin

"Cơn phẫn nộ của nhân dân
Sớm muộn sẽ biến thành cơn bão lớn
Nhấn chìm bao tham vọng cuồng điên".

Những bài thơ trên đây có giá trị của nó, nhất là trong thời điểm ra đời thích hợp. Nó không chỉ góp phần giúp người ta nhận chân hiện thực, mà còn gợi ngẫm nghĩ về những vấn đề vĩnh cửu của cuộc đời, đó là sống - chết, chiến tranh - hòa bình, trung thực - giả trá...

Mà cũng không phải chỉ ở những vấn đề lớn, thơ Dương Trọng Dật mới gợi cho bạn đọc suy nghĩ. Ăn một miếng cơm, ngắm một bông hoa, thấy một cảnh tang thương mùa lũ, đến việc "nhìn"  những điều trừu tượng hơn như sự bất công, tìm hiểu tinh hoa văn hóa, bản sắc dân tộc... anh đều lẩy ra những yếu tố nên thơ cho cảm xúc và những điều cần suy nghĩ về hiện tượng hay những nghịch lý cuộc đời. Chẳng hạn, gặp hương vị đồng quê trong câu ca dao "Ðói lòng nhớ lá sầu đâu/ Nhớ bông điên điển/ nhớ bầu mắm nêm..." anh liên tưởng đến số phận những người mẹ một nắng hai sương, suốt đời lam lũ, cơm ăn chỉ gạo lứt muối mè nhưng yêu thương thì nhất mực thủy chung "Ðã đi đi suốt con đường", để rồi từ đó gợi cho người đọc suy nghĩ để  trả  lời câu hỏi "Hồn quê/ lắm bạc nhiều tiền/ sao mua?" (Hồn quê).

Hay một chỗ khác, ngay trong cái rộn ràng của ngày đầu xuân anh phát hiện ra:

"Hàn vi bè bạn chật nhà
Bữa cơm rau muống dưa cà
vẫn vui
Giờ sao tiệc đứng tiệc ngồi
Lơ thơ bằng hữu, mấy người tri âm?"

(Thiếu-thừa).

Trong tập này, Dương Trọng Dật có nhiều chùm thơ, mỗi chùm gồm nhiều bài, mỗi bài có sự độc lập nhất định nhưng lại gắn kết trong tổng thể tạo ấn tượng sâu đậm. Những vần thơ trái mùa là một thí dụ. Ta có thể thấy ở đây những cảm xúc trái ngược nhau dâng trào trong lòng tác giả. Ðến Petersburg sau khi Liên Xô cũ tan rã, đã mùa xuân mà sao như mùa đông vẫn còn ngự trị, bởi mưa tuyết trái mùa, bởi phố cổ rêu phong, thành quách lâu đài xa lạ. Nhưng không chỉ có thế. Giữa Hồng trường, nhìn những vòng hoa lạnh lùng bên đài chiến sĩ vô danh, anh bâng khuâng tự hỏi cô gái Nga nào còn hát Ca-chiu-sa? Anh đau xót khi thấy, ngơ ngác giữa tuyết rơi những cựu chiến binh ngực đầy huân chương, biểu tượng của bản trường ca bi hùng viết bằng máu và nước mắt, "sao hôm nay lạc lõng giữa Hồng trường". Có phải nhân danh một điều tốt đẹp nhưng sự sai lầm để cơn bão cải tổ làm tan hoang những nấc thang giá trị, nảy sinh những chính khách điếm đàng, những trọc phú thả sức vung đô-la, còn những trí thức hàng đầu "giáo sư viện sĩ lương vài trăm rúp tháng", những người dân lương thiện thì không đủ sống, thậm chí các thiếu nữ xinh đẹp trở thành trò chơi trong vũ điệu thoát y rẻ tiền, các em bé phải đi ăn xin ngay trước khách sạn Rossia sang trọng. Trong không khí ấy, anh thấy càng thêm yêu thương những danh nhân đã làm nên tính cách Nga, văn hóa Nga, bản sắc Nga như L.Tolstoy, Tchaikovski, Puskin... và đau đớn thốt lên "Bản sắc Nga đâu rồi/ hỡi trí tuệ của nhân dân?".

Chùm bài Ký thác của người xưa cũng được kết cấu trên cái nền tương tự. Bốn danh nhân mà anh đề cập trong chùm thơ là tiêu biểu cho các số phận, các tính cách nổi bật. Ngô Thì Nhậm tài năng nhưng bị ghen ghét đến độ tên ông trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu còn bị đục đi "Ðá bầm vết đục trên bia", nhưng bản lĩnh, nhân cách và sự nghiệp của ông thì không thể mất, và vì thế cuộc đời ông để lại cho nhân thế một sự suy ngẫm "Hoàng hôn Văn Miếu/ đau đời/ nhớ ông".

Viếng Chu An, tác giả thông cảm với nỗi niềm uất ức đến ứa máu của nhà giáo trung thực, thấy ngang tai trái mắt đã dũng cảm dâng "thất trảm sớ" chém bảy nịnh thần trong triều, từ đó chia sẻ với hành động chính trực nhưng đơn độc không thể cải tạo được cuộc đời "thương người ném lửa vào đêm", để bây giờ, muốn trong sạch xã hội cũng cần lắm những con người dũng cảm như ông "Mấy trăm năm lại đi tìm Chu An".

Còn với Hưng Ðạo vương? Sự nghiệp của ông không mấy ai là không biết, nhưng con người với sự nghiệp lẫy lừng ấy cũng chính là người dám "vượt trên thù hận thói đời đục trong" của mâu thuẫn cá nhân, vì nghiệp lớn của đất nước, của dân tộc. Vì vậy không phải ai khi mất cũng có được "Quả tim/ hiển thánh/ giữa lòng nhân gian"...

Không chỉ chú ý những đề tài lớn mà Dương Trọng Dật còn quan tâm những "chuyện nhỏ bé" nhưng rất thân thiết với mỗi con người. Những bài thơ viết về người thân yêu trong gia đình cũng có nhiều bài hay. Nổi bật hơn cả là những bài thơ về mẹ. "Một đời ủ lửa trong than. Trái tim yêu chất cả ngàn bão giông". Và rồi từ bàn tay của mẹ những bát cơm khoai, bát canh rau muống, con ốc con cua đã trở thành những kỷ niệm sâu nặng không thể nào quên, và tác giả kết luận "Phơ phơ tóc mẹ sóng lừng đời tôi".

Bài Giỗ cha cũng là một bài cảm động. Lý do bài thơ ra đời là "giỗ cha con lại xa nhà", vì thế mọi sự đều thiếu thốn và việc giỗ diễn ra hết sức đạm bạc. Nhưng nén hương tâm thành thì anh không quên. Và dường như nén hương cũng hiểu điều đó, nên "thương cha/ khói cũng quặn lòng/ không bay". Hình ảnh người cha ở đây như một biểu tượng kỳ vĩ, một điểm tựa cho tinh thần của con cái "quả tim gửi lại cuộc đời. Như cây thông đứng giữa trời ngàn năm".

Với vợ con, Dương Trọng Dật cũng có những bài thơ nghĩa tình, đằm thắm. Hai bài thơ tình tặng vợ (Ngày xuân chúc vợ, Nhận và cho) tha thiết trong tình cảm mà không sa vào chiều nịnh tầm thường. Người vợ trong thơ của anh, hai mươi mùa cưới đi qua là "hai mươi năm/ mấy suối đèo đã qua?" và trên con đường ấy "ngọt ngào cũng lắm, khổ đau cũng nhiều", nhưng chất nhân hậu của người phụ nữ là dành yêu thương cho người còn nhận về mình thua thiệt "đắng cay giữ lại/ nghĩa tình nhân đôi" và vì thế, người vợ đã trở thành hơi ấm cho hạnh phúc gia đình.

Dương Trọng Dật yêu thích thể thơ lục bát, có thể đấy là thể thơ dịu nhẹ đằm thắm dễ đi vào lòng người. Có lẽ vì thế anh cũng khai thác nhiều chất liệu từ ca dao dân ca của cả hai miền nam bắc, đặc biệt là những làn điệu trữ tình của dân ca quan họ Bắc Ninh. Nhan đề tập thơ cũng là một câu ca quan họ. Nhưng anh không sử dụng lục bát thuần nhất như truyền thống mà các câu thơ được ngắt nhịp, xuống dòng theo sắc thái của tình cảm cho nên nhịp điệu trong thơ anh không bằng phẳng, đơn điệu. Có lúc Dương Trọng Dật tự cho mình là người "đa đoan" nhưng đấy chỉ là một cách phúng dụ, chứ thực sự, là con người có tâm hồn nhạy cảm cho nên anh dễ rung động với những cung bậc tình cảm trong cuộc sống diễn ra. Những cảm xúc lúc bảng lảng mơ hồ, lúc ngọt ngào tha thiết, lúc nuối tiếc xót xa, chính là sắc thái làm cho tập thơ đa dạng và phong phú, để mỗi người đọc từ những góc độ khác nhau có thể tìm thấy những khoái cảm thơ ca và những điều bổ ích cho tâm hồn mình.

Theo Nhân dân 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác