Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông

Hành trình văn học của Nguyễn Minh Châu khởi đầu bằng truyện ngắn Sau một buổi tập (đăng Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10-1960) và khép lại với truyện vừa Phiên chợ Giát, được viết ngay trên giường bệnh, trong những ngày giờ chót cùng của cuộc đời ông (1989). Ba thập kỷ - một hành trình không phải là dài, so với những đồng nghiệp, đồng lứa: Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Hồ Phương,....

Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông - ảnh 1

Mười ba tập văn xuôi, một tập tiểu luận phê bình - sự nghiệp văn chương ấy cũng không hẳn đồ sộ. Con đường Nguyễn Minh Châu đến với văn học, cũng là con đường quen thuộc, phổ biến của nhiều cây bút chiến sĩ: ''Con người nhà văn lột xác ra từ người lính'' - Người lính từ những đam mê, bức xúc máu thịt trong cuộc đời chiến sĩ mà tìm đến văn chương, ký thác tâm sự và ''ghi lấy cuộc đời mình'' bằng chính cây bút của mình. Vậy mà tại sao Nguyễn Minh Châu lại thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ đến vậy đối với công chúng? Văn nghiệp của ông lại đủ sức vượt qua được thời gian - người phán xét nghiêm minh và sáng suốt? Và tại sao Nguyễn Minh Châu lại tạo được một phong cách nghệ thuật độc đáo, lại khẳng định được vị trí vững vàng của ông trong văn học sử Việt Nam đương đại? Nói Như Nguyễn Khải "Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này''. Ông là cây bút tiêu biểu của văn xuôi chống Mỹ đồng thời cũng là người mở đường ''tinh anh và tài năng'', người đã ''đi được xa nhất'' trong cao trào đổi mới của văn học Việt Nam đương đại. Coi văn chương là một lẽ sống, một cách nhập cuộc và thành tâm khao khát bằng ngòi bút có thể góp sức vào cuộc ''đấu tranh vì quyền sống của cả dân tộc'', suốt trong những năm chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn nửa đời văn của mình đi sâu, khám phá, phản ánh những ''đề tài sinh tử'' trong mảng hiện thực chiến tranh và người lính cách mạng. Sau một số truyện ngắn đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, năm 1966, tiểu thuyết Cửa sông, năm 1970 tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau và năm 1972, tiểu thuyết Dấu chân người lính lần lượt ra đời hoàn thiện dần bức chân dung đầy đặn của nhà văn chiến sĩ Nguyễn Minh Châu. Những tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống, như còn sặc mùi thuốc súng, khói bom được viết ''trước hết với ý thức nóng bỏng được góp phần cùng toàn dân tham gia đánh giặc'' (Trang giấy trước đèn - tr45) ấy của Nguyễn Minh Châu đã phản ánh được khát vọng tinh thần cháy bỏng của cả dân tộc, thời đại - khát vọng độc lập, tự do - góp phần tái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộc trong cuộc chiến tranh Vệ Quốc vĩ đại. Sinh thời, Nguyễn Minh Châu từng tâm đắc, sẻ chia với Ximônốp trong mong mỏi: Viết về chiến tranh không phải chỉ làm rung động những người từng đi qua mà còn phải làm rung động cả những thế hệ không hề trải qua chiến tranh. Không phải tất cả, nhưng chắc chắn phần lớn sáng tác của Nguyễn Minh Châu còn đủ sức làm náo nức, xúc động người đọc. Nói đến văn học chống Mỹ, nền văn xuôi chống Mỹ, không thể không nhắc đến Cửa sông với nhịp sống vừa bình thản vừa quả cảm của một làng nhỏ ven sông bước vào cuộc đời đầy quyết liệt với cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của đế quốc Mỹ, không thể không nói tới Dấu chân người lính với cả không khí hào sảng, rùng rùng ''xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước'' của cả một dân tộc, cuộc hành quân vô tận của ''một dòng thác người... đông đúc và ồn ào như dòng nước lũ... của tầng tầng lớp lớp người đang nối tiếp nhau hiện ra trên đồi, từ dưới suối, từ khắp các ngõ ngách của rừng", tiến vào Khe Sanh, bủa vây cứ điểm Tà Cơn, quyết chiến và quyết thắng. Nằm trong dòng chung của văn học chống Mỹ, những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong chiến tranh thường nghiêng về vẻ đẹp hào hùng và tươi tắn của cả cộng đồng, nghiêng về những sự kiện vĩ đại, những người anh hùng và được thể hiện với bút pháp trữ tình đậm đà, giàu chất thơ. Ở đó, cảm hứng trữ tình hòa nhập, giao thoa nhuần nhị với cảm hứng anh hùng. Có thể nói, những tác phẩm hồn hậu và chân phương này vừa ghi nhận sự hòa nhập tuyệt diệu của ngòi bút Nguyễn Minh Châu với văn học chống Mỹ - xét trên cả hai phương diện cảm hứng sáng tạo và bút pháp – đồng thời cũng khẳng định những đóng góp quý giá, kịp thời của nhà văn vào sự nghiệp chiến đấu và nền văn học chống Mỹ ''một trong những nền văn học tiên phong chống chủ nghĩa đế quốc'' - một nền văn học, nói như Nguyễn Minh Châu ''có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn''. Hiển nhiên, đó là những di sản văn học quý giá, đã trở thành những "tài sản lịch sử" không thể phủ nhận.

***

...Trong ý thức thường trực gắn bó với đời sống, người nghệ sĩ mẫn cảm, tâm huyết Nguyễn Minh Châu đã kịp thời bắt vào nhịp sống mới và sớm phát hiện những ''vấn đề sinh tử'' mới của đất nước ngay giữa thời điểm chuyển giao chiến tranh - hòa bình. Bằng sự thôi thúc của lương tâm và trách nhiệm, Nguyễn Minh Châu lại nhanh chóng cùng dân tộc bước vào cuộc chiến đấu mới ''cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người''. Có thể thấy rõ sự đổi mới này trên mảng hiện thực quen thuộc nhất của ngòi bút Nguyễn Minh Châu - Chiến tranh cách mạng và người lính.Theo CPV

Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Minh Châu là một trong những người đầu tiên đã đưa ra một cách nhìn nhận mới về chiến tranh. Sống qua hai cuộc chiến tranh sau những năm tháng lăn lộn trên các ngả đường Khu Bốn và đồng bằng Bắc Bộ thời kháng chiến chống Pháp và những ngả đường Cam Lộ, Khe Sanh, Cửa Việt ròng rã suốt những năm chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã chiêm nghiệm sâu sắc rằng: Chiến tranh không chỉ là những chiến công, không chỉ có anh hùng và quả cảm - phần mà ông đã có điều kiện phản ánh kịp thời trong những tác phẩm viết trước 1975 - mà còn một phần chìm khuất với biết bao nỗi đa sự đa đoan của cuộc đời và của mỗi con người, biết bao sự hy sinh, mất mát, dang dở, chia lìa... vẫn phải dằn lòng nén lại.

Hiện thực khốc liệt và nghiệt ngã của chiến tranh đã được nhà văn tỏ bày một cách nghiêm túc và sâu sắc, ở một chiều sâu nhân bản mới giữa hàng loạt tác phẩm: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Cơn giông, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam... Có lẽ không ai có thể nói về những di chứng của chiến tranh, những mất mát, éo le, những bi kịch khủng khiếp của chiến tranh hằn sâu trong từng số phận con người một cách da diết, đau đớn và sâu sắc được như Nguyễn Minh Châu. Đó là nỗi đau, là bi kịch của mẹ Êm trong Miền cháy, của người mẹ - vị sư già tội nghiệp trong Mùa trái cóc ở miền Nam; của Thai và Lực trong Cỏ lau; của gia đình lão Khúng trong cái phút cả gia đình bàng hoàng, đổ sụp xuống vì nỗi đau mất con trong Phiên chợ Giát. Nỗi đau trĩu nặng trong từng trang viết, khắc khoải trong từng con chữ của Nguyễn Minh Châu. Người đọc không khỏi không nhức nhối, xót xa trước những giọt nước mắt lặng thầm của bà Hạnh (Bên đường chiến tranh); ''những giọt nước mắt lã chã'' của lão Khúng (Phiên chợ Giát); những giọt nước mắt đặc quánh từ hai bên khóe mắt rịn ra lấp đầy những nếp nhăn lớn nhỏ ''trên khuôn mặt lão Nghiệt'' (Miền cháy), trước ''cái nhìn vẻ cam chịu đầy thấu hiểu" và nỗi buốt giá trong trái tim người mẹ tội nghiệp (Mùa trái cóc ở miền Nam); trước tấn bi kịch đau đớn của Thai và Lực (Cỏ lau) và đặc biệt trước cảnh tượng đầy day dứt và ám ảnh về số phận cô đơn của con người trong Cỏ lau: ''Khắp bốn phía trời những hòn vọng phu đứng nhan nhản. Thật là đủ hình, đủ dáng, đủ tư thế của một thế giới đàn bà đã sống trải bao thời can qua, chiến chinh dường như đang tụ hội về đây mỗi người một ngọn núi đang đứng một mình vò võ, chon von trên các chóp núi đá cao ngất, người ôm con bên nách, người bế con trước ngực, người cõng con trên lưng, hai tay buông thõng quay mặt về đủ các hướng, các ngả chân trời có súng nổ, có lửa cháy''. Điều đáng nói là Nguyễn Minh Châu đã nói tất cả những điều ấy bằng tiếng nói cảm thông, chia sẻ của người trong cuộc, bằng chính nỗi lo âu lớn lao và khắc khoải về con người và cuộc đời, mà ông hết lòng yêu thương và gắn bó. Và tất cả đều được soi chiếu trong ánh sáng nhân văn và niềm tin yêu sâu sắc của nhà văn, do đó nó đã vượt qua được những tác phẩm theo xu hướng ''nhận thức lại lịch sử'' một cách cực đoan, méo mó và đủ sức nuôi dưỡng lòng tin yêu và nâng dậy con người vượt qua những mất mát, đau thương. Có thể nói, sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này đã khơi trúng nguồn mạch nhân văn, đáp ứng nhu cầu nhân bản cấp thiết đặt ra đối với nền văn học sau chiến tranh. Và bởi vậy, đã tạo được sự đồng cảm sâu xa nơi người đọc. Một điều cũng rất đáng quan tâm là ý tưởng nhân văn này, không phải là một sự ''ngẫu hứng'', mà đã được ấp ủ, nuôi dưỡng trong ý thức nghệ thuật và trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Minh Châu. Không thể có những trang viết thấu nhân tình thế thái ấy, nếu không có những tình cảm, nghĩ suy tâm huyết này: ''... Tôi không thể tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của con người chung quanh mình. Cần giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống'' (Trang giấy trước đèn - tr.95).

Và mới có thể tâm đắc để sẻ chia những chiêm nghiệm máu thịt của ông về nhà văn Nguyên Hồng, người đã ''thật sự viết bằng những giọt nước mắt thông cảm với lớp người khốn khổ. Qua những trang viết của Nguyên Hồng người ta luôn bắt gặp một tấm lòng nhân hậu xót xa như thường thấy ở các nhà văn lớn''.

Hòa nhập trong cuộc sống của đồng loại, lấy những đầy vơi của lòng mình mà lắng, mà cảm thấu và sẻ chia những đầy vơi của đồng loại, neo giữ lòng tin yêu và cứu đỡ cho đồng loại. Tư chất đó chỉ có ở những người nghệ sĩ đích thực.

Ở một mặt khác, khi trở lại mảng hiện thực chiến tranh cách mạng và người lính, ngòi bút Nguyễn Minh Châu cũng nghiêm nghị, quyết liệt phê phán, cảnh tỉnh những sự tha hóa, xuống cấp về nhân cách, đạo đức và những tội ác nảy sinh trong những con người đã bị chiến tranh ''làm hư'' đi. Đó là sự tha hóa của Bàng trong Miền cháy, những cách nghĩ lệch lạc của Phong trong Lửa từ những ngôi nhà; sự phản bội đớn hèn của Quang trong Cơn giông, sự thờ ơ, thất hứa, bạc bẽo đến tội lỗi của Hạng trong Bức tranh; sự bất nhẫn đầy hãnh tiến và xơ cứng chất người của Toàn trong Mùa trái cóc ở miền Nam... Theo hướng tiếp cận hiện thực mới mẻ này, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã góp phần phát hiện ra những quy luật vận động sâu kín của đời sống nhân sinh thế sự và đạt tới một chiều sâu nhân bản mới.

Cũng chính trong khát khao khám phá bản chất ''con người bên trong con người'', Nguyễn Minh Châu đã trở lại với mảng hiện thực quen thuộc của ông: nông thôn và người nông dân. Và ở nơi ''bến quê'' này trong hành trình nghệ thuật của ông, Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo được hai thiên tuyệt bút liên hoàn Khách ở quê ra Phiên chợ Giát  ''một di chúc nghệ thuật hòa quyện máu và nước mắt'' của nhà văn, ''là một tâm trạng lớn, là những cảm xúc và suy tư sâu thẳm, một văn bản đa thanh...'' (Đỗ Đức Hiểu) về bản chất và số phận của người nông dân. Đi sâu, đào xới tới cùng số phận lam lũ, trì trệ, u tối ''suốt đời chúi mũi vào hòn đất'', ''tưới cạn kiệt mồ hôi'' cho mảnh đất làng Thơi nhọc nhằn, nghèo khó của lão Khúng, Nguyễn Minh Châu dã xây đựng được một hình thượng có tầm bao quát sâu xa còn rất hiếm hoi trong văn học Việt Nam hiện đại. Nếu Chí Phèo là một khám phá lớn của Nam Cao về người nông dân trước cách mạng thì lão Khúng của Nguyễn Minh Châu cũng mang ý nghĩa một khám phá lớn về người nông dân tư hữu Việt Nam trong cuộc sống hôm nay. Có thể nói, sau Nam Cao với Chí Phèo, Nguyễn Minh Châu với lão Khúng đã thực sự góp cho văn học Việt Nam một điển hình nghệ thuật đặc sắc về người nông dân, làm phong phú thêm nền văn hóa tinh thần của dân tộc. Và đó là một đóng góp không nhỏ. Phiên chợ Giát và hình tượng lão Khúng là sự kết tinh, chín muồi của một quá trình dài trăn trở, đổi mới của Nguyễn Minh Châu trên cả hai phương diện ý thức nghệ thuật và phương thức biểu đạt. Đó là khả năng đi sâu khám phá thế giới nội tâm đầy uẩn khúc của con người, là khả năng tái hiện bộ mặt lịch sử thông qua những số phận cá nhân và trên tất cả, là năng lực khái quát nghệ thuật lớn lao của ngòi bút Nguyễn Minh Châu.

Quan sát hành trình nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, có thể dễ dàng nhận thấy, những năm 80 là giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ và cũng là giai đoạn Nguyễn Minh Châu có những thành tựu nghệ thuật đặc sắc "được hình thành từ những sự tích tụ sắc sảo đầy trăn trở'' của ông. Càng ngày, Nguyễn Minh Châu càng có ý thức và ý thức sâu sắc hơn về việc đưa văn học trở về với đời sống, tham gia trực tiếp vào ''cuộc đấu tranh cho quyền sống của từng con người''. Và bởi vậy muôn mặt đời thường đã đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, với một mục đích rõ ràng: "Mỗi truyện ngắn tôi nêu ra một trường hợp cụ thể và xen vào mạch kể chuyện, tôi bàn bạc về quan niệm sống hoặc báo động một điều gì''. Khi ông lưu ý mọi người về một sự độc ác hồn nhiên ngoài ý muốn (Đứa ăn cắp); khi đề nghị một cách nhìn nhận, đánh giá con người sao cho thỏa đáng, có thiện chí (Dấu vết nghề nghiệp); khi đề cập đến những kỷ niệm, những nỗi niềm riêng tư của mỗi đời người trong những lay động biến thiên dữ dội của dân tộc, thời đại (Bên đường chiến tranh); khi nhắc nhở về đạo lý, ứng xử của con cái đối với cha mẹ (Mẹ con chị Hằng); khi cảnh báo về hậu quả của lối sống gia trưởng (Giao thừa); khi cắt nghĩa về một cách sống thật (Sắm vai)... Không ít lần ông đề nghị con người hãy ''Một lần đối chứng'' và thường trực là sự đòi hỏi, nhắc thở con người phải biết nhìn nhận, biết sám hối, biết tự vấn lương tâm... (Hạng, Bức tranh, Cơn giông...). Có thể nói, chính ý thức gắn bó với đời sống, sự nhạy cảm và năng lực cảm thụ đa dạng về cuộc sống, cái sở trường ''nhìn đâu cũng ra truyện ngắn'' (Lê Lựu) tài tình của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt cảm hứng khát khao vươn tới cái đẹp, sự hoàn thiện của cuộc sống và con người đã giúp ông từ những cảnh đời, những nỗi ấm lạnh của nhân tình thế thái hàng ngày mà đào sâu và tới được những quy luật nhân sinh, thế sự vĩnh hằng trên cơ sở sự kết hợp nhuần nhị giữa ''quy luật của nhân cách'' với những ''quy luật của chủ nghĩa nhân đạo''. Chính đó là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh nghệ thuật đặc sắc cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu, tạo nên sức quyến rũ người đọc tham dự và biết yêu cuộc sống với tất cả sự ý vị sâu sắc, đắng cay khó nhọc của nó.

Và đó cũng là một trong những đóng góp lớn của Nguyễn Minh Châu trong nỗ lực lấp đi một khoảng trống trong văn học viết về chiến tranh, bằng những mảng đề tài về cuộc sống bình thường hàng ngày, về số phận cá nhân trong đời sống cộng đồng. Chính ở đây, Nguyễn Minh Châu đã là người kế thừa xuất sắc kinh nghiệm nghệ thuật của Nam Cao ''nhà văn kiệt xuất trong việc sử dụng chất liệu đời thường" (Hà Minh Đức) người đã tạo đựng được văn nghiệp lớn của mình chính trên mảnh đất và bằng những chất liệu đời thường - người mà sinh thời, Nguyễn Minh Châu đã tìm về với một niềm ngưỡng vọng và đồng cảm. ''Chao ôi đọc Nam Cao... tôi thấy ông thực nhân bản quá, thấu hiểu đời quá, lòng ông gần kề lòng mọi người quá. Cái việc như chẳng đâu vào đâu mà lại như một tảng đá cứ đè trĩu lên lòng người đọc mãi'' (Trang giấy trước đèn – tr.97) ''... Ngòi bút ông lôi ra, làm sáng tỏ trước mắt người đọc không biết bao nhiêu những điều thuộc về lương tâm và đời sống tinh thần của con người, những cái điều thời sự hàng ngày vẫn giáp mặt với những người đọc đương thời nhưng lại rất sâu xa và lâu bền, vĩnh hằng, mà lại rất  chung, rất phổ biến ở mọi người, mọi nơi, mọi thời'' (Trang giấy trước đèn - tr. 194). Thực ra, nói đến di sản văn chương và những đóng góp của Nguyễn Minh Châu không thể không nói đến những "vệt tư tưởng'''- mà bằng tư duy nghệ thuật và sáng tác ông đã để lại khá sâu đậm trong văn học Việt Nam đương đại. Và cũng cần nói tới những nỗ lực cách tân sâu sắc và toàn diện về nghệ thuật biểu đạt: từ nhân vật đến cốt truyện; tình huống; từ giọng điệu, ngôn ngữ, đến điểm nhìn trần thuật... những gì đã cộng hưởng để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong thế giới nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu.

                                                            ***

Nguyễn Minh Châu ra đi khi ''tâm hồn sáng tạo đang độ chín. Chín trong sự thương yêu cảm thông với những con người vất vả lam lũ, chịu nhiều hy sinh mất mát. Chín trong sự từng trải, hiểu biết những gì được mất, những nỗi niềm gần xa của các sự kiện đời sống trong thời chiến cũng như trong thời bình và chín trong cả bút pháp với một giọng văn nhiều trắc ẩn'' (Lời nói đầu tập Cỏ lau). Ông ra đi còn để lại ngổn ngang, dang dở những dự định sáng tác về vùng đất Quảng Trị từng bao năm lăn lộn, gắn bó, về làng Thơi mảnh đất miền Trung nhọc nhằn ''mảnh đất và con người đã biểu đạt rõ nhất đời sống của con người và số phận của dân tộc". Nhưng bằng tài năng và tấm lòng, bằng một hành trình dẻo dai và gian khổ, bằng cả tâm huyết và sự dũng cảm, Nguyễn Minh Châu đã để lại một di sản văn chương quý giá, một tấm gương sáng tạo đáng trân trọng.

Sinh thời, Nguyễn Minh Châu từng đã thành tâm lắng những lời khuyên nhủ chí tình vẳng lên từ những trang sách của nhà văn Nguyễn Công Hoan: ''Đừng bao giờ lười biếng nằm ỳ ra trên một cách viết như một sự tự khuôn hình và cũng đừng bao giờ để cho văn chương trở nên xa lạ với đời sống của dân tộc mình". Phải chăng, đó cũng là lời nhắn gửi tâm huyết của nhà văn Nguyễn Minh Châu: Hãy làm tất cả, hãy lao động nghệ thuật nghiêm túc để có được một nền văn học đích thực, nền văn học vị con người, để mọi người đều có thể được sống yên ổn, hạnh phúc trên ''Mảnh đất tình yêu''... 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác