Nguyễn Tuân – còn mãi một sự nghiệp văn chương tài hoa, độc đáo

Người cầm bút tài hoa ấy thế là đã thành cố nhân với cuộc đời, với văn chương tròn 20 năm. Một vệt khói trên lư đồng. Hay có thể dùng một hình tượng khác, hình như đúng hơn với sự ra đi của ông: ông đã như bể đứt chân sóng, lúc đổ bọt hoa xuống, lại dội lên như vang hưởng một hồi trống tuồng cổ. Với thời gian, tác phẩm của Nguyễn Tuân tỏ ra giàu sức vang hưởng như thế.

Bắt đầu sự nghiệp với những sáng tác đầu tay từ năm 1932, hơn nửa thế kỷ cầm bút, tác phẩm dồn lại 5 tập đồ sộ với trên năm ngàn trang viết, Nguyễn Tuân trở thành một tên tuổi lớn của văn chương Việt Nam đương đại. Nhiều nhà văn tài năng cùng thời với ông cũng góp vào văn chương một khối lượng đồ sộ, những giá trị đỉnh cao, nhưng có lẽ ít nhà văn đương thời nào có thể sánh với ông về cái dấu ấn đậm nét, độc đáo của một bậc tài hoa đặt giữa lòng văn chương thế kỷ.

Nói đến Nguyễn Tuân, trước hết là nói đến một phong cách sống, và liền gắn chặt với nó là một phong cách viết để từ đấy, ông lập một cõi riêng trong văn chương. '' Ông là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng, cả về lối văn lẫn về tư tưởng''-Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã từ rất sớm đưa ra nhận xét ấy. Hơn ai hết, ông có ý thức về sự độc đáo của riêng ông. ''Lòng kiêu căng của ta xui ta chỉ nên chơi có một lối độc tấu'' (Nhà Nguyễn).Người ta có thể hiểu ông đã độc tấu trên một thể văn tùy bút sở trường. Ông lấy thể văn ấy từ vốn hương hỏa còn ít ỏi của văn chương truyền thống để biến nó thành một thể văn hiện đại và in đậm phong cách của cá nhân. Nói cách khác, ông đã sở hữu nó, cho nó một hình hài riêng, khiến người ta luôn muốn gắn thể văn ấy vào tên ông như một cách đánh dấu bản quyền: tùy - bút  Nguyễn - Tuân, như cái cách mà người ta muốn khẳng định một đặc sản, cả trong nghệ thuật cũng như trong đời sống: Phố Phái, Nhạc Trịnh và ... Cốm Vòng. Và có lẽ văn Nguyễn Tuân cũng có cái gì đó gần với thứ đặc sản của thiên nhiên đất đai này: thanh tao mà cầu kỳ sang trọng, và nhất là luôn giàu ý vị cho người biết thưởng thức cái đẹp đã đạt đến tinh hoa. Nhưng giải thích như thế có 1ẽ vẫn chưa hết cái lối chơi độc tấu của Nguyễn Tuân: trên cây đàn độc huyền ấy, ông độc tấu cõi lòng mình trong mọi vui buồn của cuộc đời mà ông từng dấn thân và trải nghiệm.

Thế giới văn chương Nguyễn Tuân trước Cách mạng rộng rãi, phức tạp, đối nghịch nhưng tập trung vào mấy mảng đề tài chính: cái đẹp quá vãng của một thời vang bóng; đi xê dịch như một lẽ sống; cuộc sống sa đọa hàng viện; và một thể tài khác, hình thành dần dà để cuối cùng thành một phần trong thế giới nghệ thuật độc đáo của ông- thể tài yêu ngôn. Những thể tài này dường như cũng là ''của riêng'' Nguyễn Tuân, bởi tính tập trung và sự đi đến tận cùng của nó để rồi cuối cùng, ở thể tài nào ông cũng đạt đến những tuyệt phẩm. Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa Đàn, Một chuyến đi, Cửa Đại. . .là những tác phẩm như thế.

Trong những tác phẩm thuộc mọi thể văn của Nguyễn Tuân, đặc biệt là ở thể tùy bút, luôn lồ lộ một chân dung, một tính cách một chàng Nguyễn. Nằm trọn trong dòng văn chương lãng mạn- một dòng văn chương luôn lấy sự khai phóng cá nhân làm cứu cánh, Nguyễn Tuân đã góp vào đấy một nguyên bản độc đáo: đó chính là con người ông với tất cả đẹp xấu hay dở cùng mọi suy nghĩ cảm nhận mà ông từng sống và trải nghiệm trong đời, trước hết là trong những chuyến đi. Quả là Nguyễn Tuân đã "đem cả một kiếp sống phụng thờ sự xê dịch''. Đã có thời, căn bệnh ấy được coi như một cách trốn tránh, thoát ly, một khía cạnh tiêu cực của Nguyễn Tuân cũng như của văn chương lãng mạn. Nhưng ngẫm ra, bệnh xê dịch, nỗi thèm đi của con người Nguyễn không phải là một thói tật, một cách thoát ly, một căn bệnh thời thượng. Đó còn là cả một triết lý sống, một hành vi của sáng tạo. Đi để được thấy nhiều, tận hưởng trọn vẹn và đủ đầy mọi cảm giác sống của con người cá nhân hiện đại, nối tiếp với truyền thống phong lưu tài tử mà ông là người cuối cùng lưu giữ được ít nhiều sau Tản Đà. Đi, như ông nói, để phơi ý nghĩ của mình ra chỗ thoáng. Và xét đến cùng việc đi như ông thường nói một cách cường điệu là vô mục đích, đi để mà đi  lại là điểm khởi phát của sáng tạo: ''Đi để viết. Chỉ có đời sống rộng rãi mới dạy cho người ta viết được những câu rộng rãi'', ''Viết văn để yêu cuộc sống, để tìm nhân loại, để tìm mình trong nhân loại, để thấy được nhân loại trong mình, cái phòng làm việc của người ấy nằm ngay giữa cuộc đời'' (Tuỳ bút II). Đời văn Nguyễn Tuân bởi thế là một hành trình nối dài những cuộc đi - đi giữa cuộc đời, và quan trọng hơn, là những chuyến đi và tận tưởng để khám phá và phơi bày nó trên trang viết.Ông viết: ''Ngay cả lúc anh đăm đăm ngồi trước trang giấy trắng bạnh giữa phòng văn, anh cũng vẫn là một con người đang đi. Đi vào cái đêm làm việc của mình. Đi cho đến tận cùng chỗ của đêm mình". Và rõ hơn nữa: ''Chuyến đi đẹp nhất là chuyến đi trong tâm tưởng''.

Cuộc đời của Nguyễn trước Cách mạng là những chuyến lãng du và cả những ngày phóng túng hình hài nơi tiệm hút, hàng viện, ở đấy bộc lộ hết những khát khao hưởng thụ, ở đấy, có những mối tâm giao cuối cùng thành bạc bẽo và những mối tình tưởng như đậm đà mà cũng chỉ là bèo nước. Và cuối cùng cá nhân ấy thấm thía đến tận cùng sự cô đơn và bế tắc. Cô đơn đến muốn đập một cái bát trong cái am sông Tô hoang vắng để tìm lấy một âm thanh mà âm thanh chiếc bát vỡ cũng chỉ là câm lặng. Cô đơn đến hiu quạnh, '' hiu quạnh sống trong lòng mình và chung quanh mình, cái gì cũng chỉ gợi đến những ý nghĩ xa vắng, lạnh và cũ và mới và ngừng hết...''. Cô đơn đến '' trở nên một người góa bụa, hoàn toàn góa bụa. Góa vợ con thân thích, anh em bạn, góa nhân loại, góa hết cả'' (Chiếc lư đồng mắt cua). Một cá nhân thèm khát tự do, yêu đến vồ vập mỗi giây phút sống- ''tôi muốn mỗi ngày cho tôi cái mùi vị của rượu tối tân hôn'', một cái tôi thách thức xã hội, thể hiện trong một chữ ''ngông'' và cái nhìn khinh bạc đã đến chỗ cùng đường. Cùng với điều đó, người ta thấy được cái giới hạn khắc nghiệt của chủ nghĩa 1ãng mạn. Trong văn chương trước 1945, Nguyễn Tuân thể hiện tinh thần và quan điểm của chủ nghĩa lãng mạn một cách rõ nét  và tập trung nhất: thể tùy bút cho phép ông lấy chính mình ra mà thể nghiệm đời sống và tra vấn tận cùng về lẽ tồn tại của một chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Tinh thần nhân văn bộc lộ cả trong niềm ham sống và thèm khát hưởng thụ lạc thú cuộc sống, cả trong những thiên sám hối tuyệt vọng. Văn Nguyễn Tuân - rõ hơn cả là Chiếc lư đồng mắt cua - do thế, có ý nghĩa như một ''lời tự thú của một đứa con thời đại'' như tên của một tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ lãng mạn Pháp Musset (1810- 1857). Tiếp nhận luồng gió văn chương lãng mạn Pháp thổi vào văn chương Việt Nam đương thời, Nguyễn Tuân tìm được ở đấy không ít đồng điệu: chủ nghĩa xê dịch của Paul Morand, sự bất cần và nổi loạn của con người cá nhân trong Gide, và nỗi chán chường u hoài của Musset. Nhưng tất cả đã được hóa thân trong ông, trong cái căn cốt của văn hóa phương đông và văn hóa Việt để dựng nên một chân dung Chàng Nguyễn-cùng những mô phỏng của nó - vừa tiêu biểu vừa độc đáo. Riêng ở khía cạnh ấy, ông đã có những đóng góp không nhỏ cho dòng văn chương lãng mạn đương thời.

Đánh dấu chấm kết thúc cho một giai đoạn sáng tác trước Cách mạng, cũng là để mở ra một chặng đường sáng tác mới, Nguyễn Tuân còn kịp đặt vào lịch sử văn học một kiệt tác: Chùa Đàn. Tác phẩm này cùng một lúc là sự thăng hoa của những gì là tinh túy nhất trong phong cách sáng tạo Nguyễn Tuân, cũng là sự cháy sáng lần cuối cái thế giới nghệ thuật mà ông tạo dựng. Ông từng lên tiếng hào hứng và quyết liệt khi thắp lên ngọn lửa ấy: ''Mày hãy lấy mày ra làm lửa mà đốt cháy hết những phong cảnh cũ của tâm tưởng mày''. Đó là cái chết của tài và tình, cũng là cái chết của một lớp người cũ, của một lớp nhân vật cũ của nhà văn Nguyễn Tuân. Mạch truyện yêu ngôn cho đến Chùa Đàn mới bộc lộ lết ma lực nghệ thuật của nó: trong một khung cảnh ma quái huyền hoặc là sự quằn quại đau đớn của số phận những kiếp tài tình và tài hoa. Cùng với cái lõi truyện hoàn chỉnh có tên Tâm sự của nước độc, phần Dựng Mưỡu được tác giả  ghép vào đầu và cuối truyện với chủ đề ''lột xác'' dù chưa phải đã có một gắn kết với câu chuyện thì vẫn có những ý nghĩa nhất định: nhân vật của ông, đi ra từ thế giới cũ đang phải đứng trước những chọn lựa để sống một cuộc sống mới . Chùa Đàn cũng có một ý nghĩa như một tuyên ngôn nghệ thuật về một chặng đường sáng tạo mới của nhà văn.

Chào đón Cách mạng và đi vào kháng chiến, Nguyễn Tuân thấy mình là ''một dạ lữ khách không mỏi, quên ngủ của một đêm phong hội mới'', thấy "nội tâm ở chàng không chú trọng bằng ngoại cảnh ở quanh chàng'' (Lột xác). Quả là đã diễn ra một sự đổi thay to lớn trong cách sống của một Chàng Nguyễn thuở nào và sau đó là cả một thế giới nghệ thuật mới được tạo lập trong tùy bút Nguyễn Tuân. Đường vui, Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến và hòa bình là những tác phẩm tùy bút ra đời song song với những chuyến đi không mỏi trên khắp những nẻo đường kháng chiến. Đường vui mở đầu tập tùy bút cùng tên là hình ảnh con đường ra trận, trên đó là hình ảnh tác giả với hành trang nhẹ nhàng và tâm hồn chưa rũ hết chất lãng tử đang phấn chấn hòa vào đoàn người kháng chiến.Những trang tùy bút kháng chiến Đường vui Tình chiến dịch gợi hình ảnh những cuộc đi ngay từ đầu đề bài viết: Lại ngược, Tình tề, Nấm miền xuôi,Tam Đảo đầu 1948, Ái Khẩu - Nam Quan, Bàn đạp Tây Bắc, Ngoài này trong ấy... Tùy bút kháng chiến của ông mở rộng cánh cửa thông ra ngoại giới- tùy bút giàu chất ký sự hơn nhưng người ta vẫn thấy nhiều ý vị nhờ những cảm nhận của riêng ông, nhờ văn phong Nguyễn Tuân vẫn còn rất nhiều duyên dáng. Bên cạnh những ký sự rắn rỏi và mạnh mẽ trong việc kể chuyện hành quân đánh đồn của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Lộc..., tùy bút Nguyễn Tuân góp vào văn xuôi kháng chiến một sắc màu riêng: cái háo hức của nỗi thèm chân trời, sự phong phú muôn vẻ những khung cảnh đời sống kháng chiến. Có một Nguyễn Tuân dấn thân hết mình vào kháng chiến: ông đánh trống thúc quân trong mặt trận đánh đồn, ông vượt qua đường 6 hiểm nguy để rồi hòa vào cái không khí chợ búa nhộn nhịp, hòa lẫn vào dáng người gánh muối lên Việt Bắc, tạt ngang phủ Vĩnh Tường chỉ vì nhớ câu thơ Xuân Hương, rồi rẽ vào Đoàn pháo binh sông Lô gặp gỡ các chiến sĩ... Ở đâu nhà văn cũng cảm thấy vô cùng sức mạnh của kháng chiến. Lòng tác giả như reo lên : "Đường hoa vui ngát như thế này thì bao giờ mỏi chân được, hỡi các bạn đường?''. Cháy bản thảo là một tùy bút độc đáo về sự hy sinh của Trần Đăng - một bài viết cảm động như một cách soi mình, như một lời kêu gọi: Ông viết: ''Cái chết của Trần Đăng có ý nghĩa đau xót của một bản thảo tiểu thuyết dài gặp nạn lửa đốt vèo mà chúng ta không chạy không giật được phần nào'' để rồi thấy rằng mỗi cây bút kháng chiến phải viết tiếp những gì Trần Đăng còn chưa kịp viết...

Nguyễn Tuân là một nhà văn say mê cái đẹp, cái độc nhất, cái phi thường đến độ như một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Người ta nói nhiều đến một chủ nghĩa duy mỹ trong văn Nguyễn Tuân trong Chém treo ngành, Ném bút chì... như một biểu hiện cực đoan của quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật. Quan niệm và sự say mê phụng thờ cái đẹp làm nên linh hồn của văn Nguyễn Tuân, cả trước và sau Cách mạng. Trước Cách mạng, cái đẹp là sự đối chọi với cái tầm thường, là sự hướng tới cái tuyệt đích của hưởng thụ: gặp một khuôn mặt vô duyên trước mặt trên một chuyến tầu, nhà văn xách va li nhảy xuống, bỏ dở một hành trình. Ông nói cách dàn quân rất đẹp của một ván cờ đất, một tiếng trống rất xinh, một giọng hát ả đào có cách mớn hơi tài tình...Ông nói về thú thả thơ,đánh thơ, về một ông quan già đem nốt những ngày tàn phục vụ một lũ hoa thơm cỏ quý. Xác ngọc lan dành những lời văn đẹp nhất cho thứ giấy làng Hồ Khẩu, thứ giấy mỏng mịn như làn da má trinh nữ của tờ giấy nhà họ Chu mà sự tham lam ô trọc đã khiến nó thất truyền. Tóc chị Hoài là một kết tinh cao nhất quan niệm của nhà văn về cái đẹp: ''khi chị xổ tóc ra, cả một mớ tóc trần quấn rất chắc ấy đổ tung xuôi xuống như một trận mưa rào đen nhánh''. Nhưng, cái đẹp nào cũng mong manh giữa cuộc đời này. Chị Hoài yểu mệnh, còn nhà văn thì giữ lấy độn tóc rụng của chị trong valy tùy thân và mỗi khi lòng sầu nhớ hoang mang trên dặm đường lữ thứ lại mở gói tóc ra, hít lấy mùi hương và thấy như được nâng đỡ trong những bước tha hương. Cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân là cái đẹp cứu rỗi - nói như Dostoievski. Đấy là cái phần tích cực của một thứ mỹ học vừa cầu kỳ vừa tinh tế của Nguyễn Tuân về cái đẹp. Và những trang văn đẹp của Nguyễn Tuân sau Cách mạng, trong hòa bình và cả những năm chống Mỹ, xét đến cùng cũng xuất phát từ lòng say mê cái đẹp của ông: ông nhận ra nó, nắm bắt lấy nó thật nhanh để phổ vào đấy mới cung bậc cảm xúc. Có điều thước đo của ông về cái đẹp đã nới rộng ra, giàu ý nghĩa hơn để ôm trùm được cái đẹp lớn lao của cuộc sống. Nhìn cảnh những ván tranh khắc từng làm nên những bức tranh đẹp đến nao lòng của làng Hồ bị cháy trụi trong lửa đốt nhà của giặc Pháp (Bến Hồ và làng tranh) hay chứng kiến sự tàn phá mà bom Mỹ gieo xuống khu phố Khâm Thiên- ''bom vào tiếng hát ả đào dân tộc'' (Nó bê-năm –hai phố Khâm Thiên), nhà văn xót xa phẫn nộ trước cái đẹp bị tàn phá, nhất là cái đẹp văn hóa. Cái đẹp thiên nhiên đất nước và cuộc sống mới cũng đã có dịp kết tinh trong những cảm xúc đằm chín của nhà văn để làm nên tập tùy bút Sông Đà đặc sắc - đó là những áng văn tràn đầy chất thơ về con Sông Đà ''như một áng tóc mây ngàn ngàn vạn vạn sải'', về đất Than Uyên- cảnh thì hùng vĩ thơ mộng, những cô gái Thái xòe với một phong cách êm lướt riêng biệt và giọng nói thì dịu ngọt say đắm, ''sông đẹp, núi đẹp, cả mày mắt vóc dáng cô đò đều rất tạo hình...''.

Nguyễn Tuân - người phụng thờ nâng niu cái đẹp trong đời cũng là người khắc khoải đi tìm cái đẹp trong câu chữ văn chương. Phải yêu cái đẹp đến thế nào mới có thể ''khổ hạnh'' như nhà văn trong tạo tác mỗi câu, trong việc sờ nắn cân đo mỗi chữ- như cách nói của ông ( Nghệ thuật là một sự khổ hạnh). Hiếm nhà văn nào thể hiện rõ đến thế tình yêu với tiếng mẹ đẻ, với ngôn ngữ dân tộc như Nguyễn Tuân trong sự say sưa trau chuốt ngôn từ, trong mong muốn "ngày càng chuốt thêm văn tự, ngày càng làm óng tốt dẻo bền hơn nữa cái tiếng nói cổ truyền của mình'' (Tán về Ngôn và Ngữ). Có cái lao lực của ''phu chữ'' lẫn những sáng tạo tài hoa của một nghệ nhân để rồi dưới tay ông, ngôn ngữ trở thành một sinh thể sống động. Nó dẫn truyền và mời gọi để tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ nơi người thưởng thức. Văn chương Nguyễn Tuân là thứ văn thể hiện được cái ''linh diệu'' của tiếng Việt: có nhạc, có hình, có cả tình và điệu trong mỗi nhịp lên xuống ngắn dài, có cái nhịp chắc khỏe của phú nôm, lẫn cái mơ hồ tinh tế của âm nhạc và hội họa trong một cấu trúc câu hiện đại và phóng túng. Những phức cú trùng điệp như những con sóng điệp trùng, như những ngả rẽ bất ngờ nối liền những liên tưởng, mở ra phong phú cảnh sắc và tâm trạng. Có thể nói mà không sợ quá lời: những trang văn đẹp nhất của Nguyễn Tuân là những ''tờ hoa'' đạt đến vẻ đẹp cổ điển của nghệ thuật ngôn từ.

Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp văn chương Nguyễn Tuân, bên cạnh sự phong phú và biến hóa, phần nào cả sự phức tạp của nó, người ta luận thấy nhất quán và vững bền một cốt cách, một cá tính trong sáng tạo, văn chương ông giàu Kinh lịch, giàu chất văn hóa.Ở đấy người ta luôn thấy cái phần của riêng ông: một bản sắc riêng độc đáo, một thứ văn hóa cá tính đạt đến cái đẹp viên mãn được ký thác trong văn chương...

Theo CPV

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác